Đây là chia sẻ của các chuyên gia tại hội thảo “Truyền thông kiến thức chăm sóc sức khỏe chủ động cho thanh niên tại tỉnh Hưng Yên năm 2026”, do Trung tâm Truyền thông – Giáo dục sức khỏe Trung ương, Bộ Y tế phối hợp với các đơn vị tổ chức ngày 18-6 tại Trường đại học Sư phạm Kỹ thuật Hưng Yên.
Theo ông Vũ Mạnh Cường – Giám đốc Trung tâm Truyền thông – Giáo dục sức khỏe Trung ương, chăm sóc sức khỏe chủ động là việc mỗi người bảo vệ cơ thể ngay từ khi chưa mắc bệnh thông qua chế độ dinh dưỡng hợp lý, vận động thường xuyên, tiêm chủng đầy đủ, khám sức khỏe định kỳ và loại bỏ các yếu tố nguy cơ.
Theo các chuyên gia, thanh niên là nhóm tuổi có nhiều lợi thế về thể chất nhưng cũng dễ hình thành các thói quen sống không lành mạnh. Nếu không kiểm soát tốt các yếu tố nguy cơ ngay từ sớm, nhiều bệnh mạn tính sẽ xuất hiện khi tuổi đời còn rất trẻ.
Đặc biệt, nhiều người trẻ vẫn xem uống rượu bia là cách giao lưu, giải trí hoặc thể hiện bản thân. Tuy nhiên đây lại là một trong những yếu tố nguy cơ hàng đầu gây ra các bệnh tim mạch, tăng huyết áp, đột quỵ, xơ gan, viêm gan, ung thư gan, ung thư thực quản, ung thư đại trực tràng cùng nhiều loại ung thư khác.
Không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe thể chất, đồ uống có cồn còn gây tổn thương não bộ, làm suy giảm trí nhớ, khả năng tập trung, ảnh hưởng đến sự phát triển hệ thần kinh của người trẻ. Việc lạm dụng rượu bia cũng làm gia tăng nguy cơ lo âu, trầm cảm, rối loạn cảm xúc, mất kiểm soát hành vi, bạo lực, tai nạn giao thông và tai nạn lao động.
Đối với thanh niên đang trong giai đoạn học tập và lập nghiệp, sử dụng rượu bia thường xuyên còn làm giảm hiệu quả học tập, năng suất lao động, ảnh hưởng đến sức khỏe sinh sản và làm tăng nguy cơ mắc bệnh không lây nhiễm từ rất sớm.
Vì vậy ông Cường khuyến cáo người trẻ cần hạn chế tối đa việc sử dụng rượu bia, kiên quyết nói không với các chất kích thích gây nghiện và không sử dụng rượu bia như một cách giải tỏa căng thẳng.
Bên cạnh đó, người trẻ cần duy trì chế độ ăn cân đối, giảm muối, giảm đường, uống đủ nước, tăng cường vận động với mục tiêu khoảng 10.000 bước mỗi ngày hoặc luyện tập thể thao thường xuyên.
Sức khỏe tinh thần cũng được xem là một phần không thể tách rời của chăm sóc sức khỏe toàn diện. Áp lực học tập, công việc và cuộc sống nếu không được chia sẻ, hỗ trợ kịp thời có thể dẫn đến căng thẳng, trầm cảm hoặc các hành vi tiêu cực.
Chia sẻ tại hội thảo, theo đại diện Hiệp hội Bia – Rượu – Nước giải khát Việt Nam (VBA), phòng, chống tác hại của lạm dụng đồ uống có cồn không chỉ là trách nhiệm của cơ quan quản lý mà cần sự tham gia của toàn xã hội, từ các tổ chức xã hội, chuyên gia, doanh nghiệp đến từng người dân.
Đại diện hiệp hội cho biết nhiều doanh nghiệp đã triển khai các hoạt động thúc đẩy tiêu dùng có trách nhiệm như tuyên truyền không bán đồ uống có cồn cho người dưới 18 tuổi, tập huấn cho cơ sở kinh doanh, bổ sung thông tin sức khỏe trên nhãn điện tử và thực hiện các chiến dịch truyền thông khuyến khích không lạm dụng rượu bia.
Song song với đó, công tác truyền thông cũng hướng tới thay đổi hành vi bằng những thông điệp như “đã uống rượu bia thì không lái xe”, không ép uống và xây dựng văn hóa tiêu dùng có trách nhiệm.
Theo các chuyên gia, bảo vệ thanh thiếu niên khỏi việc tiếp cận sớm với đồ uống có cồn, nâng cao nhận thức cộng đồng và thực hiện nghiêm các quy định của pháp luật sẽ góp phần giảm tai nạn, bệnh tật cũng như những hệ lụy về kinh tế, xã hội do rượu bia gây ra.
Đó là ngồi hàng giờ. Một bác sĩ tim mạch đã lên tiếng cảnh báo tác hại khó lường của thói quen này.
Tiến sĩ Sanjay Bhojraj, bác sĩ tim mạch đang làm việc tại Ấn Độ, với hơn 20 năm kinh nghiệm, trong bài đăng gần đây trên mạng xã hội, đã nhấn mạnh rằng ngồi quá nhiều làm tăng đáng kể nguy cơ xảy ra các biến cố tim mạch đe dọa tính mạng.
Bác sĩ Sanjay Bhojraj cảnh báo: Thói quen ngồi nhiều hằng ngày làm tăng gấp đôi nguy cơ nhồi máu cơ tim, theo tờ Hindutan Times.
Trong khi nhiều người tập trung vào chế độ ăn uống hoặc hút thuốc, bác sĩ Bhojraj cho biết thiếu vận động thể chất là nguyên nhân chính gây ra bệnh tim mạch.
Bác sĩ Bhojraj cho biết, sau hơn 20 năm theo dõi, ông nhận thấy một thói quen phổ biến là ngồi quá lâu. Việc ngồi hàng giờ làm chậm lưu thông máu, tăng đường huyết và nguy cơ hình thành cục máu đông, từ đó làm gia tăng nguy cơ nhồi máu cơ tim và đột quỵ.
Bác sĩ Bhojraj nhấn mạnh, không cần tập luyện quá nhiều, điều quan trọng là tránh ngồi quá lâu. Ông khuyên nên đứng dậy sau mỗi 30 - 60 phút, đi lại nhẹ nhàng, thực hiện vài động tác đơn giản như ngồi xổm để kích hoạt cơ thể. Những thay đổi nhỏ nhưng đều đặn này đã đủ mang lại lợi ích đáng kể.
Tổ chức Y tế thế giới (WHO) cũng đã xác định rằng thiếu hoạt động thể chất là một trong những yếu tố nguy cơ hàng đầu dẫn đến tử vong do các bệnh không lây nhiễm. Lối sống ít vận động là nguyên nhân trực tiếp làm tăng huyết áp, béo phì và bệnh tiểu đường - những yếu tố chính gây ra bệnh tim mạch.
Các chuyên gia giải thích rằng ngồi lâu khiến quá trình trao đổi chất chậm lại. Khi cơ thể không vận động, các enzyme giúp phân giải chất béo trong máu giảm đi, khiến mỡ dễ tích tụ hơn. Lâu dần, tình trạng này làm tăng nguy cơ xơ vữa động mạch, cản trở lưu thông máu và tạo điều kiện hình thành cục máu đông, từ đó làm gia tăng nguy cơ đau tim và đột quỵ.
Ngày 19-6, TS Trần Đình Minh Huy - khoa khúc xạ Bệnh viện Mắt TP.HCM - cho biết tật khúc xạ là một trong năm nhóm bệnh trọng tâm của chương trình phòng chống mù lòa toàn cầu. Trong đó cận thị chiếm khoảng 2/3 đến 3/4 các trường hợp tật khúc xạ.
Vì vậy, cận thị hiện nay không chỉ là vấn đề điều chỉnh thị lực mà đã trở thành một thách thức lớn đối với sức khỏe cộng đồng.
Theo dự báo, đến năm 2050, khoảng 50% dân số thế giới sẽ mắc cận thị. Tuy nhiên tại khu vực Đông Á và Việt Nam, con số này có thể lên tới gần 2/3 dân số. Đồng thời dự kiến có khoảng 3 tỉ người trên thế giới trong độ tuổi lao động trên toàn cầu mắc cận thị và cần được kiểm soát.
Đáng chú ý, khoảng 1 tỉ người sẽ mắc cận thị nặng vào năm 2050 trên toàn thế giới. Khi đó cận thị không còn đơn thuần là việc đeo kính để cải thiện thị lực mà sẽ đi kèm với nguy cơ mắc các bệnh lý nghiêm trọng có thể dẫn đến mù lòa, tạo ra gánh nặng rất lớn về kinh tế và xã hội.
Ngày nay, khái niệm "vùng an toàn của cận thị" gần như không còn tồn tại. Mỗi một độ cận tăng thêm đều đồng nghĩa với việc tăng nguy cơ xuất hiện các bệnh lý đáy mắt và các biến chứng gây suy giảm thị lực.
Nguyên nhân là do cận thị liên quan trực tiếp đến sự kéo dài của trục nhãn cầu. Độ cận càng cao thì nhãn cầu càng bị kéo giãn, làm tăng nguy cơ tổn thương võng mạc và các cấu trúc quan trọng khác của mắt.
Bác sĩ Huy cho hay các nghiên cứu quốc tế cho thấy mỗi độ cận tăng thêm làm tăng khoảng 67% nguy cơ liên quan đến một bệnh lý mù lòa. Ngược lại, nếu kiểm soát được mỗi độ cận, nguy cơ phát triển các bệnh lý gây mù có thể giảm khoảng 40%. Điều đó cho thấy việc kiểm soát cận thị có ý nghĩa rất lớn trong việc giảm gánh nặng mù lòa cho cộng đồng trong tương lai.
Tại Việt Nam, các nghiên cứu tại Hà Nội và TP.HCM cũng cho thấy tỉ lệ cận thị ở học sinh đã dao động từ 50 - 60% (thời điểm 2021 - 2025). Điều đó phản ánh thực trạng cận thị đang trở thành một vấn đề sức khỏe cộng đồng cấp thiết.
Một dấu mốc quan trọng khác là năm 2024, Trung tâm Kiểm soát và phòng ngừa dịch bệnh Hoa Kỳ (CDC) đã bắt đầu xem xét việc công nhận cận thị là một bệnh lý mạn tính thay vì chỉ là một tật khúc xạ đơn thuần. Điều này cho thấy cách tiếp cận đối với cận thị trên thế giới đang thay đổi mạnh mẽ.
"Có thể khẳng định rằng cận thị đang là một vấn đề sức khỏe toàn cầu với nguy cơ gây mù lòa và gánh nặng kinh tế ngày càng gia tăng. Việc kiểm soát cận thị, đặc biệt ở trẻ em và thanh thiếu niên, là xu hướng tất yếu của ngành nhãn khoa hiện đại", TS Huy nói.
Bệnh viện Mắt TP.HCM đi theo hướng rất mới đang triển khai là kiểm soát tiền cận thị, tức là can thiệp sớm ngay từ khi trẻ có nguy cơ cao phát triển cận thị.
Mới đây, bác sĩ Hung Yung-hsiang, chuyên gia ung thư tại Bệnh viện Đa khoa Tam Quân (Đài Loan), chia sẻ quá trình tìm ra căn bệnh ác tính cho nữ quản lý.
Theo đó, người bệnh đến phòng khám trong tình trạng thừa cân, phù nề chi dưới, mệt mỏi và ho kéo dài. Trước đó, cô thăm khám nhiều nơi nhưng các y bác sĩ chỉ chẩn đoán bệnh trào ngược dạ dày, do ảnh chụp X-quang phổi hoàn toàn bình thường.
Khai thác bệnh sử, bác sĩ Hung nhận thấy anh trai nữ quản lý từng mắc ung thư biểu mô tuyến phổi khi còn trẻ. Ông lập tức chỉ định cô chụp cắt lớp vi tính liều thấp (LDCT). Kỹ thuật chụp chuyên sâu này giúp ông nhìn thấy rõ một tổn thương kích thước 1,5 cm ở ngay phổi phải của bệnh nhân.
Bác sĩ đánh giá người bệnh mang nhiều yếu tố nguy cơ khởi phát ung thư. Căng thẳng công việc kéo dài cùng tình trạng mất ngủ bào mòn sức khỏe nữ quản lý. Cô cũng ăn đồ ngọt và thực phẩm chế biến sẵn hàng ngày để giải tỏa áp lực tâm lý. Ê kíp y tế lập tức phẫu thuật cắt bỏ khối u cho người phụ nữ kịp thời.
Nhằm ngăn chặn tế bào ác tính tái phát sau ca mổ, bác sĩ yêu cầu cô thay đổi triệt để nếp sinh hoạt. Người bệnh phải chuyển sang dùng thực phẩm tự nhiên, loại bỏ đồ ngọt và ngừng thức khuya. Bệnh nhân tuân thủ nghiêm ngặt chỉ định y khoa suốt hai năm qua, duy trì thể trạng ổn định và không xuất hiện dấu hiệu khối u quay lại.
Ung thư phổi chia làm hai dạng chính là ung thư phổi tế bào nhỏ, chiếm 15% và ung thư phổi không tế bào nhỏ, 85%. Trong đó, ung thư phổi không tế bào nhỏ là một trong những bệnh ung thư thường gặp tại châu Á.
Loại không tế bào nhỏ ở giai đoạn sớm có tỷ lệ khỏi bệnh cao, 92% sống 5 năm nếu khối u kích thước dưới một cm, 1% sống sau 5 năm nếu di căn xa. Tuy nhiên, đa số bệnh nhân thường vào viện khi bệnh ở giai đoạn muộn (giai đoạn III, IV).
Chẩn đoán và điều trị sớm ung thư phổi vẫn là thách thức lớn đối y bác sĩ. Nhóm nguy cơ cao như tuổi trên 50, hút thuốc lá nhiều năm; người làm việc trong môi trường tiếp xúc với hóa chất độc hại, các chất phóng xạ hoặc trong gia đình có nhiều người mắc ung thư..., cần khám sức khỏe định kỳ để phòng ngừa bệnh.
Hiện, điều trị nhắm trúng đích là một trong những phương pháp điều trị mới trong điều trị nội khoa trên bệnh nhân ung thư phổi. Phương pháp này có thể dùng đơn độc hoặc phối hợp với các hóa trị, xạ trị và phẫu thuật để thời gian sống, giảm bớt các tác dụng phụ cho người bệnh.