Trường Đại học Hà Nội ngày 5/4 công bố thông tin tuyển sinh đại học năm 2026. Đây là năm đầu trường tính điểm chuẩn bằng cách nhân đôi điểm Toán hoặc Văn, tùy ngành thay vì chỉ nhân đôi môn tiếng Anh như mọi năm. Tổng điểm 3 môn thi sau khi nhân hệ số (tối đa 50 điểm) sẽ được quy đổi về thang điểm 40. Điểm sàn xét tuyển là 22/40.
Trường dự kiến tuyển 3.705 sinh viên cho 30 ngành học, tăng 285 so với năm ngoái. Hai ngành mới là Ngôn ngữ Anh – thương mại và Quan hệ quốc tế.
14 tổ hợp được sử dụng, gồm ba tổ hợp mới là D10 (Toán, Địa lý, tiếng Anh), D14 (Ngữ văn, Lịch sử, tiếng Anh), D15 (Ngữ văn, Địa lý, tiếng Anh), nhưng chỉ áp dụng với một số ngành.
Ba phương thức tuyển sinh gồm xét tuyển thẳng và ưu tiên xét tuyển theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo; xét tuyển kết hợp theo quy định của trường và xét bằng điểm thi tốt nghiệp THPT.
Ở phương thức xét tuyển kết hợp, thí sinh có IELTS đạt 6.0 trở lên hoặc tương đương hoặc thí sinh trường chuyên hay có điểm thi đánh giá đầu vào V-SAT. Mức điểm khuyến khích từ 0,5 đến 1,5 điểm.
Bảng tính điểm khuyến khích với IELTS và các chứng chỉ, học bạ của trường Đại học Hà Nội:
Học phí năm học 2026-2027 của trường Đại học Hà Nội dự kiến 0,86-1,75 triệu đồng/tín chỉ, cao nhất là ngành Công nghệ thông tin dạy bằng tiếng Anh.
Năm ngoái, điểm chuẩn vào trường dao động 22,1-34,35/40, đứng đầu là ngành Ngôn ngữ Trung Quốc.
Tổ hợp xét tuyển năm 2026 của trường Đại học Hà Nội
Khánh Linh
Giáo Dục
Xác định số lượng tuyển sinh theo quy định mới, trường ĐH chuẩn bị ra sao?

Bộ GD-ĐT vừa ban hành Thông tư 34 quy định về việc xác định số lượng tuyển sinh ĐH, thạc sĩ, tiến sĩ và số lượng tuyển sinh CĐ ngành giáo dục mầm non, thay thế thông tư năm 2022 (áp dụng khóa tuyển sinh 2027), với những điểm mới được cho là tác động đáng kể tới chỉ tiêu tuyển sinh và kế hoạch phát triển đội ngũ giảng viên (GV) của các trường ĐH.
Theo thông tư này, để xác định số lượng tuyển sinh, GV phải ký hợp đồng làm việc toàn thời gian tối thiểu 3 năm. Điều đó có nghĩa năm 2025 hay 2026 một trường ĐH tuyển được 50 tiến sĩ, 15 thạc sĩ thì số lượng GV mới này không được tính để xác định chỉ tiêu. Quy định mới cũng đưa ra số lượng người học quy đổi trên GV quy đổi không theo nhóm ngành như trước (ví dụ kỹ thuật là 20 sinh viên (SV)/GV, kinh tế 25 SV/GV) mà tính chung là 40 SV/GV cho tất cả nhóm ngành.
Đặc biệt, hệ số quy đổi của GV có chức danh giáo sư (GS), phó giáo sư (PGS), trình độ tiến sĩ đều bằng 1 trong khi quy định cũ là GS = 5, PGS = 3 và tiến sĩ = 2. Bên cạnh đó thạc sĩ trước đây có hệ số 1 thì giờ giảm còn 0,75.
Tất cả những con số trên mới chỉ thể hiện năng lực đào tạo. Còn số lượng tuyển sinh được tính theo công thức: năng lực đào tạo - quy mô đào tạo + SV tốt nghiệp dự kiến trong năm.
Những điểm nói trên đã tác động trực tiếp tới việc xác định chỉ tiêu tuyển sinh của các cơ sở giáo dục ĐH. Theo tính toán của một lãnh đạo trường ĐH tại TP.HCM, nếu theo cách tính mới này, chỉ tiêu tuyển sinh các trường có thể sẽ giảm từ 10 - 30%.
Lấy ví dụ, một trường ĐH đào tạo khối ngành kinh tế (có tỷ lệ SV quy đổi trên GV quy đổi là 25 SV/GV) có 5 GS, 10 PGS, 100 tiến sĩ và 80 thạc sĩ. Nếu tính theo cách cũ, thì 5 GS được xác định 5 x 5 x 25 = 650 chỉ tiêu, 10 PGS được tuyển 10 x 3 x 25 = 750 chỉ tiêu, 150 tiến sĩ sẽ được tuyển 100 x 2 x 25 = 5.000 chỉ tiêu, 100 thạc sĩ được tuyển 100 x 25 = 2.500 chỉ tiêu. Tổng chỉ tiêu là 8.900.
Nếu tính theo cách mới (tỷ lệ SV quy đổi trên GV quy đổi là 40 SV/GV), năng lực đào tạo của GS là 5 x 40 = 200 chỉ tiêu, PGS là 10 x 40 = 400 chỉ tiêu, tiến sĩ là 100 x 40 = 4.000; thạc sĩ là 100 x 0,75 x 40 = 3.000. Tổng năng lực đào tạo lúc này là 7.600, tính ra đã giảm tới 1.300. Chưa kể khi tính theo công thức mới, chỉ tiêu = năng lực đào tạo - quy mô đào tạo + SV tốt nghiệp dự kiến, thì số lượng có thể còn giảm thêm.
Tiến sĩ Trần Hữu Duy, Phó hiệu trưởng Trường ĐH Đà Lạt, cho biết: "Thông tư này nhằm siết quy mô đào tạo ĐH để nâng cao chất lượng và tăng quy mô đào tạo sau ĐH (tối thiểu 15% tổng chỉ tiêu). Một trường mà có nhiều GS, PGS, tiến sĩ thì tỷ lệ chỉ tiêu sẽ giảm khá nhiều so với cách tính cũ".
Theo tiến sĩ Võ Văn Tuấn, Phó hiệu trưởng Trường ĐH Văn Lang, việc xác định số lượng tuyển sinh của nhiều trường sẽ bị thu hẹp hoặc phải tính lại theo hướng thực chất hơn và ít phụ thuộc hơn vào hệ số ưu thế của một số học hàm, học vị cao.
"Trước đây, chỉ cần có một số lượng GS, PGS hoặc tiến sĩ thì tổng số GV quy đổi tăng lên rất mạnh, từ đó kéo theo năng lực đào tạo và chỉ tiêu tuyển sinh tăng tương ứng. Nay khi GS, PGS, tiến sĩ cùng được tính ở mức 1, khoảng chênh lệch đó gần như bị triệt tiêu. Vì vậy, những trường trước đây dựa khá nhiều vào hệ số cao của một đội ngũ GV có học hàm, học vị để xác định chỉ tiêu thì nay sẽ không còn lợi thế như trước. Trong khi những trường có đội ngũ ổn định nhưng không nhiều GS, PGS lại ít bị chênh lệch hơn trước", tiến sĩ Tuấn nhìn nhận.
Nhưng chính vì thế mặt bằng chỉ tiêu giữa các trường sẽ có xu hướng được kéo lại gần nhau hơn. Không còn chuyện cùng một số lượng GV, nhưng chỉ cần cơ cấu học hàm, học vị khác nhau là kết quả chỉ tiêu có thể chênh lệch rất lớn. Với mức quy đổi này kết quả xác định chỉ tiêu sẽ phản ánh sát hơn quy mô đội ngũ thực tế.
Theo tiến sĩ Trần Hữu Duy, cho đến thời điểm hiện tại, quy định GV phải tối thiểu có trình độ thạc sĩ, nên cho dù hệ số quy đổi có giảm thì vai trò của GV có trình độ thạc sĩ là không thay đổi. Tuy nhiên, qua đây cũng có thể thấy quan điểm của Bộ GD-ĐT rất rõ ràng, tiến tới hạn chế GV có trình độ thạc sĩ. Điều này đặt ra nhiệm vụ cho các trường là phải khẩn trương có kế hoạch đào tạo nâng trình độ của GV, nếu không về lâu dài khi Bộ nâng chuẩn GV lên trình độ tiến sĩ thì sẽ rất khó khăn.
Tiến sĩ Võ Văn Tuấn cũng cho rằng quy định mới không hề làm giảm vai trò chính thức của GV trình độ thạc sĩ. Họ vẫn là lực lượng trực tiếp giảng dạy và đóng vai trò quan trọng trong vận hành chương trình đào tạo.
"Ở góc độ quy đổi chỉ tiêu, trọng số của đội ngũ thạc sĩ giảm ảnh hưởng tới những trường vốn dựa nhiều vào thạc sĩ. Nhưng về mặt vận hành, khi hệ số quy đổi thấp hơn, đóng góp của GV thạc sĩ vào năng lực tuyển sinh sẽ giảm so với trước. Điều này có thể dẫn đến việc họ được phân công nhiều hơn ở các học phần cơ bản hoặc đóng vai trò hỗ trợ trong nghiên cứu. Dù vậy, trong các ngành đào tạo mang tính ứng dụng cao, vai trò của GV thạc sĩ, đặc biệt là những người có kinh nghiệm thực tiễn, vẫn không thể thay thế. Vì vậy, vấn đề không phải là giảm vai trò mà là tái định vị vai trò cho phù hợp hơn với yêu cầu phát triển của hệ thống", tiến sĩ Tuấn khẳng định.
PGS-TS Nguyễn Xuân Hoàn, Hiệu trưởng Trường ĐH Công thương TP.HCM, nhận định: "Chúng tôi hoàn toàn ủng hộ chủ trương được thể hiện thông qua các quy định về chuẩn cơ sở giáo dục ĐH, quy định về xác định số lượng người học... theo hướng nâng cao chất lượng đội ngũ GV, đặc biệt là tăng tỷ lệ tiến sĩ. Tuy nhiên, cần có lộ trình phù hợp và phân loại rõ các mô hình ĐH. Nếu áp dụng cứng nhắc có thể dẫn đến giảm chỉ tiêu đào tạo và thiếu hụt nguồn nhân lực cho thị trường lao động".
Để thực hiện chiến lược phát triển đội ngũ GV trình độ cao, trong 3 năm trở lại đây và thời gian tới, Trường ĐH Công thương TP.HCM không tuyển thạc sĩ, chỉ tuyển tiến sĩ trở lên với chính sách đãi ngộ hấp dẫn.
Tiến sĩ Võ Văn Tuấn đánh giá nguồn GV trình độ tiến sĩ ở VN vẫn còn hạn chế, đặc biệt ở các ngành mới hoặc liên ngành, hoặc có những ngành chưa đào tạo tiến sĩ ở trong nước. Khi tiêu chuẩn được nâng lên đồng loạt, các trường sẽ cạnh tranh rất mạnh để thu hút nhân sự, mà số lượng tiến sĩ trong thời gian tới không thể tăng nhanh như trước đây nên dẫn đến chi phí tăng cao và không phải trường nào cũng có lợi thế như nhau.
"Nếu không có sự linh hoạt trong triển khai và lộ trình hợp lý thì các quy định này có thể làm giảm tính năng động và dẫn đến những hệ lụy không mong muốn như méo mó cơ cấu ngành đào tạo, đặc biệt là gia tăng chi phí học tập. Vì vậy, cần có cơ chế điều chỉnh phù hợp theo từng nhóm ngành, từng loại hình cơ sở đào tạo, thì khi đó mục tiêu nâng cao chất lượng mới có thể đạt được mà không làm triệt tiêu động lực phát triển của hệ thống", tiến sĩ Tuấn đề xuất.
"Nước ta hướng tới mục tiêu đó là tốt; tuy nhiên tỷ lệ GV có trình độ tiến sĩ của nước ta hiện nay rất thấp. Do đó Bộ cần phải có lộ trình phù hợp cho các trường để nâng chuẩn trình độ GV, thực hiện ngay sẽ rất phi thực tế. Lộ trình này có thể 5 - 7 năm là phù hợp; hoặc đến năm 2035 là hợp lý nhất", tiến sĩ Trần Hữu Duy nhìn nhận.
Tin Gốc: Thanh Niên

Theo danh sách, Trường đại học Bách khoa - Đại học Quốc gia TP.HCM là trường dẫn đầu về số lượng chương trình được giao đào tạo tài năng. Trong đó, có 9 chương trình kỹ sư và 6 chương trình thạc sĩ, thuộc các lĩnh vực khoa học sự sống, kỹ thuật, sản xuất và chế biến, kiến trúc và xây dựng.
Trường đại học Công nghệ - Đại học Quốc gia Hà Nội được giao đào tạo 10 chương trình thạc sĩ tích hợp, thuộc các lĩnh vực khoa học sự sống, máy tính và công nghệ thông tin, kỹ thuật.
Đại học Bách khoa Hà Nội được giao đào tạo 7 chương trình thạc sĩ tích hợp thuộc các lĩnh vực máy tính và công nghệ thông tin, công nghệ kỹ thuật, kỹ thuật.
Đại học Kinh tế TP.HCM, Trường đại học Sư phạm Hà Nội, Trường đại học Tôn Đức Thắng, Trường đại học VinUni là nhóm trường chỉ được giao đào tạo một chương trình.
Theo chuẩn chương trình đào tạo kỹ sư, thạc sĩ tài năng thuộc các lĩnh vực khoa học công nghệ, kỹ thuật và toán (STEM) được Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành tháng 9-2025, người học tốt nghiệp chương trình kỹ sư tài năng được cấp bằng kỹ sư bậc 7 (tương đương trình độ thạc sĩ).
Với người học tốt nghiệp chương trình thạc sĩ tài năng được cấp bằng thạc sĩ. Người học tốt nghiệp chương trình thạc sĩ tích hợp cử nhân tài năng được cấp đồng thời bằng cử nhân và bằng thạc sĩ.
Chương trình đào tạo kỹ sư tài năng có ít nhất 180 tín chỉ, nhiều hơn 30 tín chỉ so với thông thường. Với chương trình thạc sĩ tài năng, người học phải hoàn thành ít nhất 60 tín chỉ (tương tự hiện nay) nếu đã tốt nghiệp đại học ở cùng nhóm ngành.
Ở đầu vào, để được tuyển thẳng vào chương trình đào tạo kỹ sư tài năng, thí sinh phải đạt giải nhất, nhì, ba trong kỳ thi học sinh giỏi quốc gia hoặc Olympic quốc tế các môn toán, lý, hóa, sinh, tin.
Nếu xét điểm thi tốt nghiệp THPT, tổ hợp xét tuyển phải có môn toán và ít nhất một môn khác thuộc nhóm khoa học tự nhiên. Tổng điểm của tổ hợp xét tuyển phải thuộc nhóm 20% thí sinh đạt điểm cao nhất cả nước.
Với chương trình đào tạo thạc sĩ yêu cầu điểm trung bình tích lũy của chương trình đại học đã tốt nghiệp đạt tối thiểu 3,2/4. Đồng thời tiếng Anh đạt tối thiểu bậc 4/6.
Xem chi tiết chuẩn chương trình đào tạo kỹ sư, thạc sĩ tài năng thuộc các lĩnh vực STEM tại đây.
Đề án đào tạo nguồn nhân lực phục vụ phát triển công nghệ cao giai đoạn 2025 - 2035 và định hướng tới năm 2045 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tháng 5-2025, đặt mục tiêu giai đoạn 2030 - 2035, tỉ lệ người theo học các ngành STEM đạt 40% ở mỗi trình độ đào tạo, trong đó ít nhất 3% thuộc các ngành khoa học cơ bản và 20% thuộc các ngành liên quan tới công nghệ số.
Đến năm 2045, hệ thống giáo dục đại học Việt Nam được xếp vào nhóm hàng đầu khu vực châu Á trong đào tạo và nghiên cứu các ngành STEM, nhất là các ngành về công nghệ số, trí tuệ nhân tạo và công nghệ sinh học.
Người theo học các chương trình đào tạo trong đề án sẽ được ưu tiên học bổng mức cao nhất. Các cơ sở đào tạo được tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, công nghệ phục vụ đào tạo và nghiên cứu...
Tin Gốc: Tuổi Trẻ
Giáo Dục
Giảng viên đại học phải liêm chính trong giảng dạy, nghiên cứu khoa học

Điểm đáng chú ý, thông tư 26 - quy định chuẩn nghề nghiệp giảng viên đại học áp dụng đối với toàn bộ đội ngũ giảng viên đại học, bao gồm: giảng viên, giảng viên chính, giảng viên cao cấp trong các cơ sở giáo dục đại học công lập và ngoài công lập.
Trước đó, quy định cũ chỉ áp dụng đối với viên chức giảng dạy trong các cơ sở giáo dục đại học công lập.
Thông tư 26 quy định chuẩn nghề nghiệp giảng viên đại học gồm 3 nhóm tiêu chuẩn cơ bản: tiêu chuẩn về đạo đức; tiêu chuẩn về trình độ đào tạo, bồi dưỡng; tiêu chuẩn về năng lực chuyên môn, nghiệp vụ.
Trong đó, tiêu chuẩn về đạo đức nhấn mạnh giảng viên đại học phải giữ gìn phẩm chất, uy tín, danh dự nhà giáo. Đối xử công bằng, đúng mực với người học, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người học, đồng nghiệp.
Đặc biệt, giảng viên đại học phải tuân thủ các quy định về đạo đức học thuật và bảo đảm liêm chính khoa học, thực hiện trung thực, minh bạch trong giảng dạy, nghiên cứu khoa học, công bố kết quả nghiên cứu và các hoạt động chuyên môn khác.
Giảng viên đại học cần đáp ứng các tiêu chí, gồm: có bằng thạc sĩ trở lên, phù hợp với vị trí việc làm, ngành hoặc chuyên ngành giảng dạy; có chứng chỉ bồi dưỡng chuẩn nghề nghiệp giảng viên đại học; thực hiện được các hoạt động khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo; ứng dụng được công nghệ thông tin và sử dụng được ngoại ngữ...
Giảng viên đại học chính ngoài yêu cầu bằng thạc sĩ còn phải chủ trì ít nhất 1 hoạt động khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo cấp cơ sở hoặc cấp cao hơn đã nghiệm thu với kết quả đạt yêu cầu; chủ trì hoặc tham gia biên soạn ít nhất 1 sách; có ít nhất 3 bài báo khoa học được công bố trên tạp chí quốc tế có mã số ISSN; giữ chức danh giảng viên đại học từ 4-6 năm tùy theo bằng cấp...
Giảng viên đại học cao cấp phải có bằng tiến sĩ, chủ trì ít nhất 2 đề tài nghiên cứu cấp cơ sở hoặc 1 đề tài cấp cao hơn; hướng dẫn ít nhất 2 học viên thạc sĩ hoặc 1 nghiên cứu sinh tiến sĩ; biên soạn sách chuyên môn có mã số ISBN; có ít nhất 6 bài báo khoa học quốc tế (ISSN); giữ chức danh giảng viên chính ít nhất 4 năm...
Theo Bộ Giáo dục và Đào tạo, các chứng chỉ bồi dưỡng theo tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp được cấp trước ngày 31-12-2026 được công nhận tương đương với chứng chỉ bồi dưỡng chuẩn nghề nghiệp theo quy định mới.
Giảng viên trong cơ sở giáo dục đại học được tuyển dụng, tiếp nhận hoặc thay đổi vị trí việc làm giảng viên đại học trước ngày 9-4-2026 thì không yêu cầu đáp ứng tiêu chuẩn có chứng chỉ bồi dưỡng chuẩn nghề nghiệp giảng viên đại học.
Nguồn: Tuổi Trẻ

