Nhắc lại vụ án Vạn Thịnh Phát với số tiền phải thi hành 40.000 tỉ đồng cho hơn 43.000 trái chủ chỉ riêng trong giai đoạn 2, Trưởng THADS TP.HCM Nguyễn Văn Hòa thừa nhận “khối lượng công việc này vượt xa khả năng xử lý theo phương thức truyền thống”.
Vậy để giải “bài toán” hóc búa này cần làm gì? THADS TP.HCM quyết định chọn một lối đi mang tính đột phá: khởi động chiến dịch số hóa toàn diện thông qua việc xây dựng 3 hệ thống phần mềm chuyên biệt, chuyển dịch toàn bộ quy trình xử lý hồ sơ từ thủ công sang điện tử.
Thứ nhất là phần mềm tiếp nhận thông tin người được thi hành án, cho phép các trái chủ chủ động kê khai, đối chiếu, cập nhật thông tin cá nhân, tài khoản ngân hàng và đăng ký nhận văn bản điện tử. Sau khi xác thực, dữ liệu sẽ tích hợp vào hệ thống, tạo thành cơ sở dữ liệu thống nhất phục vụ các bước nghiệp vụ tiếp theo.
Thứ hai là phần mềm quản lý tài sản, giúp quản lý tập trung hàng nghìn tài sản (bất động sản, cổ phần, động sản…) và theo dõi toàn bộ quá trình xử lý của từng tài sản theo thời gian thực, đảm bảo sự đồng bộ, minh bạch và chính xác.
Thứ ba là phần mềm thanh toán tiền thi hành án. Hệ thống sẽ tự động tính toán số tiền mỗi người được nhận, tự động xác định các khoản phải thu phí, đối chiếu thông tin tài khoản, lập danh sách chi trả và xuất lệnh thanh toán. Đồng thời, còn tự động tổng hợp kết quả, theo dõi các trường hợp đã nhận, chưa nhận, số tiền còn phải thanh toán…
Theo ông Hòa, với hơn 43.000 trái chủ cùng hàng nghìn tài sản cần xử lý, nếu áp dụng phương pháp thủ công như trước đây thì “gần như không thể hoàn thành trong thời hạn luật định”. Song, nhờ các phần mềm nêu trên, rất nhiều công đoạn được tự động hóa, giúp chi trả hơn 10.000 tỉ đồng chỉ bằng những cú click chuột, bảo đảm đúng tiến độ, đúng quy định và an toàn tuyệt đối.
Các chấp hành viên cũng cho biết thêm, với cách chi trả truyền thống, mỗi ngày chỉ giải quyết được khoảng 50 người, vì quy trình mất nhiều thời gian cho việc làm công văn, gửi nhận giấy tờ qua nhiều khâu, chưa kể phát sinh chi phí bưu chính, in ấn… Nếu vẫn áp dụng như vậy, để giải quyết hết 43.000 trái chủ vụ Vạn Thịnh Phát, thời gian cần có thể kéo dài tới hơn 2 năm.
Nhưng viễn cảnh trên đã không xảy ra. Ứng dụng công nghệ thông tin giúp toàn bộ quy trình rút gọn chỉ bằng vài thao tác công nghệ số. Sau khi dữ liệu chuẩn hóa, cập nhật trên hệ thống và được lãnh đạo duyệt, chấp hành viên chỉ cần ấn nút chuyển tiền, tiền sẽ đi thẳng từ tài khoản của cơ quan thi hành án đến tài khoản của trái chủ. Người dân không cần trực tiếp đến cơ quan THADS ký giấy tờ hoặc nhận tiền mặt, mà sẽ thông qua tài khoản ngân hàng.
“Việc chi trả tiền cho cả ngàn người chỉ với một thao tác trên hệ thống thực chất là thành quả từ chuẩn hóa dữ liệu, số hóa quy trình và ứng dụng công nghệ vào toàn bộ quá trình tổ chức thi hành án”, Trưởng THADS TP.HCM khẳng định.
Tương tự TP.HCM, THADS TP.Hà Nội cũng cho thấy hiệu quả vượt trội của công nghệ thông tin trong việc xử lý các đại án kinh tế. Như vụ Tân Hoàng Minh, Phó chánh văn phòng THADS TP.Hà Nội Bùi Minh Nguyệt chia sẻ, với số bị hại lên tới 6.630 người, nếu làm theo cách thông thường thì “nhầm lẫn, sai sót chắc chắn sẽ xảy ra”.
Nhận diện thách thức từ sớm, ngay khi nắm bắt thông tin từ giai đoạn điều tra về số lượng bị hại, lãnh đạo THADS TP.Hà Nội đã chỉ đạo xây dựng một phần mềm riêng biệt cho vụ án. Mục tiêu đặt ra là trong số 6.630 nhà đầu tư, hệ thống phải cập nhật chính xác ai đã làm đơn yêu cầu thi hành án, ai đã được chi trả tiền và những ai chưa thực hiện thủ tục.
Đáng chú ý, điểm sáng trong cách làm của THADS TP.Hà Nội là sự chủ động phối hợp liên ngành. Đơn vị đã trực tiếp làm việc với Cục C03 Bộ Công an và chủ tọa phiên tòa sơ thẩm nhằm cá biệt hóa thông tin của từng bị hại. Ba bên thống nhất danh sách 6.630 người bắt buộc có số căn cước công dân để làm căn cứ đối chiếu. Bởi lẽ, họ tên có thể trùng nhau, địa chỉ cư trú có thể thay đổi, nhưng số căn cước luôn là duy nhất và cố định.
Thông tin được mã hóa thành công, cơ quan THADS sẽ tích hợp mẫu đơn yêu cầu thi hành án và đề nghị chuyển khoản trực tiếp vào hệ thống dữ liệu. Đây là 2 thủ tục người dân thường gặp khó khăn, bỡ ngỡ nhất khi tự kê khai, cũng là 2 thông tin cốt lõi giúp hoàn thiện thủ tục thi hành án.
Nhờ tích hợp thông minh, chấp hành viên chỉ cần tìm kiếm và ấn chọn mã số của người bị hại, chọn lệnh xuất đơn yêu cầu. Hệ thống lập tức tự động điền đầy đủ, chính xác toàn bộ thông tin từ họ tên, số căn cước cho đến số tiền được nhận. Người dân khi đến làm việc chỉ cần kiểm tra và ký xác nhận.
Theo tính toán của bà Nguyệt, nếu “gõ lạch cạch từng trường hợp như trước đây”, một chấp hành viên chỉ có thể giải quyết được tối đa 50 trường hợp mỗi ngày. Trong khi đó, với phần mềm trong vụ Tân Hoàng Minh, năng suất tăng lên 250 trường hợp mỗi ngày, gấp 5 lần.
Tương tự, vụ án Tập đoàn FLC dù có số lượng bị hại lên tới 28.000 người, nhưng vì đã có kinh nghiệm từ trường hợp Tân Hoàng Minh, THADS TP.Hà Nội tiếp tục xây dựng phần mềm thi hành án riêng biệt, với các giải pháp ứng dụng triệt để công nghệ thông tin. Nhờ đó, chỉ trong thời gian ngắn, khoảng 15.000 nhà đầu tư đã nhận lại được tiền theo như bản án đã tuyên.
Bộ Nội vụ đang xây dựng dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng. Dự thảo bổ sung nhiều quy định mới theo hướng tăng cường quản lý từ sớm và bảo vệ người lao động ngay từ khâu tuyển chọn, đào tạo, trong đó có cấm đưa người lao động đến các quốc gia hoặc vùng lãnh thổ chưa cho phép tiếp nhận lao động nước ngoài vào làm việc.
Theo cơ quan soạn thảo, thời gian qua, tình trạng môi giới, quảng bá việc làm tại những thị trường chưa có cơ chế tiếp nhận lao động nước ngoài hoặc chưa có hành lang pháp lý đầy đủ đã xuất hiện. Điều này khiến người lao động gặp nhiều rủi ro và khó được bảo vệ quyền lợi khi xảy ra tranh chấp.
Dự thảo cũng sửa đổi quy định về ngành nghề bị cấm đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài. Nếu luật hiện hành chỉ cấm công việc massage tại nhà hàng, khách sạn hoặc trung tâm giải trí, thì dự thảo mới đề xuất cấm công việc massage nói chung. Quy định này nhằm hạn chế nguy cơ lao động, đặc biệt là lao động nữ, bị mua bán, bóc lột hoặc cưỡng bức lao động.
Một thay đổi khác liên quan đến tiền dịch vụ khi dự thảo cho phép bên tiếp nhận lao động ở nước ngoài trả thay cho người lao động một phần hoặc toàn bộ khoản tiền dịch vụ mà doanh nghiệp được phép thu. Trong trường hợp này, doanh nghiệp chỉ được thu phần còn thiếu theo thỏa thuận. Các đơn vị sự nghiệp đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài hoạt động không vì mục đích lợi nhuận không được thu tiền dịch vụ của người lao động.
Theo cơ quan soạn thảo, việc cho phép đối tác nước ngoài hỗ trợ một phần chi phí sẽ góp phần giảm gánh nặng tài chính cho người lao động trước khi xuất cảnh.
Chỉ được thu phí đào tạo sau khi lao động được tuyển chọn
Dự thảo cho phép doanh nghiệp chủ động chuẩn bị nguồn lao động theo nhu cầu của thị trường tiếp nhận, thông qua việc trực tiếp hoặc phối hợp với cơ sở giáo dục nghề nghiệp, tổ chức dịch vụ việc làm để đào tạo kỹ năng nghề và ngoại ngữ. Tuy nhiên, để tránh tình trạng người lao động phải bỏ nhiều chi phí nhưng không được tuyển dụng, dự thảo quy định doanh nghiệp chỉ được thu tiền đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng nghề và ngoại ngữ sau khi người lao động đã được phía nước ngoài tuyển chọn.
Đây là điểm mới nhằm khắc phục thực tế nhiều lao động phải đóng tiền từ rất sớm dù chưa chắc chắn có cơ hội xuất cảnh. Quy định được kỳ vọng giúp giảm rủi ro tài chính và bảo đảm quyền lợi của người lao động trong quá trình chuẩn bị đi làm việc ở nước ngoài; đồng thời tăng trách nhiệm đối với doanh nghiệp.
Các doanh nghiệp bị thu hồi giấy phép do vi phạm nghiêm trọng sẽ không được cấp lại giấy phép trong vòng 5 năm. Người đại diện theo pháp luật, chủ sở hữu, thành viên hoặc cổ đông của doanh nghiệp bị thu hồi giấy phép cũng không được tham gia thành lập hoặc điều hành doanh nghiệp mới xin cấp phép trong thời hạn tương tự.
Bộ Nội vụ cho biết điều này nhằm ngăn chặn tình trạng doanh nghiệp vi phạm giải thể hoặc chuyển đổi pháp nhân rồi tiếp tục hoạt động dưới tên gọi khác, qua đó nâng cao tính răn đe và bảo đảm môi trường cạnh tranh lành mạnh.
Sau hơn 5 năm thực hiện, Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng đã tạo hành lang pháp lý quan trọng cho hoạt động đưa lao động ra nước ngoài. Tuy nhiên, thực tế phát sinh nhiều hình thức vi phạm mới như mạo danh doanh nghiệp được cấp phép, cho thuê giấy phép hoạt động, thu tiền trái quy định hoặc tuyển chọn lao động vào những thị trường, công việc tiềm ẩn rủi ro.
Vì vậy, dự thảo luật lần này được xây dựng theo hướng tăng cường kiểm soát từ khâu tuyển chọn, đào tạo đến khi người lao động xuất cảnh và làm việc ở nước ngoài, bảo đảm tốt hơn quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động.
Theo đó, 7 thủ tục hành chính được công bố gồm: đăng ký nghĩa vụ quân sự lần đầu; đăng ký phục vụ trong ngạch dự bị; đăng ký nghĩa vụ quân sự bổ sung; đăng ký nghĩa vụ quân sự chuyển đi khi thay đổi nơi cư trú hoặc nơi làm việc, học tập; đăng ký nghĩa vụ quân sự chuyển đến khi thay đổi nơi cư trú hoặc nơi làm việc, học tập; đăng ký nghĩa vụ quân sự tạm vắng; đăng ký miễn nghĩa vụ quân sự thời chiến.
Hồ sơ của cá nhân sẽ được tiếp nhận qua hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính Bộ Quốc phòng.
Theo hướng dẫn tại Cổng dịch vụ công trực tuyến Bộ Quốc phòng, thủ tục đăng ký nghĩa vụ quân sự lần đầu gồm 3 bước. Trước thời hạn 10 ngày, tính đến ngày đăng ký nghĩa vụ quân sự, ban chỉ huy quân sự cấp xã có trách nhiệm chuyển lệnh gọi đăng ký nghĩa vụ quân sự đến công dân.
Sau khi nhận được lệnh gọi đăng ký nghĩa vụ quân sự, công dân có trách nhiệm đến ban chỉ huy quân sự xã để trực tiếp đăng ký nghĩa vụ quân sự.
Trong thời hạn 1 ngày làm việc, ban chỉ huy quân sự cấp xã có trách nhiệm đối chiếu bản gốc, thẻ CCCD hoặc giấy khai sinh; hướng dẫn công dân kê khai phiếu tự khai sức khỏe nghĩa vụ quân sự, đăng ký các thông tin cần thiết của công dân vào sổ danh sách công dân nam đủ 17 tuổi trong năm, sổ đăng ký công dân sẵn sàng nhập ngũ và chuyển giấy chứng nhận đăng ký nghĩa vụ quân sự cho công dân ngay sau khi đăng ký.
Trong khi đó, thủ tục đăng ký nghĩa vụ quân sự bổ sung gồm 2 bước: trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày có sự thay đổi chức vụ công tác, trình độ học vấn, trình độ chuyên môn, tình trạng sức khỏe và thông tin khác có liên quan đến nghĩa vụ quân sự, công dân phải trực tiếp đến ban chỉ huy quân sự cấp xã để trực tiếp đăng ký nghĩa vụ quân sự bổ sung.
Trong thời hạn 1 ngày, ban chỉ huy quân sự cấp xã thực hiện đăng ký nghĩa vụ quân sự bổ sung; sửa đổi, bổ sung những thông tin thay đổi của công dân vào sổ đăng ký công dân sẵn sàng nhập ngũ, sổ đăng ký quân nhân dự bị, phiếu quân nhân dự bị.
Thủ tục đăng ký nghĩa vụ quân sự chuyển đi khi thay đổi nơi cư trú hoặc nơi làm việc, học tập gồm 2 bước: công dân đã đăng ký nghĩa vụ quân sự khi thay đổi nơi cư trú hoặc nơi làm việc, học tập trực tiếp đến ban chỉ huy quân sự cấp xã làm thủ tục đăng ký nghĩa vụ quân sự chuyển đi.
Trong thời hạn 1 ngày làm việc, ban chỉ huy quân sự cấp xã có trách nhiệm làm thủ tục cho công dân thực hiện đăng ký nghĩa vụ quân sự chuyển đi và cấp giấy giới thiệu di chuyển đăng ký nghĩa vụ quân sự hoặc giấy giới thiệu di chuyển quân nhân dự bị cho công dân, phiếu quân nhân dự bị; đưa ra khỏi sổ đăng ký công dân sẵn sàng nhập ngũ hoặc sổ đăng ký quân nhân dự bị.
Thủ tục đăng ký nghĩa vụ quân sự chuyển đến khi thay đổi nơi cư trú hoặc nơi làm việc, học tập gồm 2 bước: trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày đến nơi cư trú hoặc nơi làm việc, học tập mới, công dân có trách nhiệm đến ban chỉ huy quân sự cấp xã để trực tiếp đăng ký nghĩa vụ quân sự chuyển đến.
Trong thời hạn 1 ngày, ban chỉ huy quân sự cấp xã, cơ quan, tổ chức có trách nhiệm hướng dẫn cho công dân đăng ký nghĩa vụ quân sự chuyển đến; vào sổ đăng ký công dân sẵn sàng nhập ngũ hoặc sổ đăng ký quân nhân dự bị; lập phiếu quân nhân dự bị.
Thủ tục đăng ký nghĩa vụ quân sự tạm vắng gồm 2 bước: công dân đã đăng ký nghĩa vụ quân sự, khi đi khỏi nơi cư trú hoặc nơi làm việc, học tập từ 3 tháng trở lên phải đến ban chỉ huy quân sự cấp xã đã đăng ký nghĩa vụ quân sự để trực tiếp đăng ký nghĩa vụ quân sự tạm vắng.
Trong thời hạn 1 ngày, ban chỉ huy quân sự cấp xã có trách nhiệm làm thủ tục đăng ký nghĩa vụ quân sự tạm vắng; bổ sung các thông tin vào sổ đăng ký công dân sẵn sàng nhập ngũ hoặc sổ đăng ký quân nhân dự bị; lập danh sách công dân đăng ký nghĩa vụ quân sự tạm vắng hoặc đăng ký lại cho công dân (trường hợp công dân trở về).
Thủ tục đăng ký miễn nghĩa vụ quân sự thời chiến gồm 2 bước: trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày công dân đã đăng ký nghĩa vụ quân sự nhận được quyết định bổ nhiệm hoặc được biên chế vào chức danh thuộc diện miễn gọi nhập ngũ trong thời chiến, thì cơ quan, tổ chức nơi công dân công tác cử đại diện mang quyết định bổ nhiệm hoặc giấy xác nhận chức danh thuộc diện miễn gọi nhập ngũ trong thời chiến đến ban chỉ huy quân sự cấp xã để làm thủ tục đưa ra khỏi danh sách đăng ký nghĩa vụ quân sự.
Công dân đã được đưa ra khỏi danh sách đăng ký nghĩa vụ quân sự nếu không còn giữ chức vụ hoặc chức danh thuộc diện miễn gọi nhập ngũ trong thời chiến thì cơ quan, tổ chức nơi công dân công tác cử đại diện đến ban chỉ huy quân sự cấp xã để đăng ký nghĩa vụ quân sự lại.
Ban chỉ huy quân sự cấp xã có trách nhiệm đăng ký miễn nghĩa vụ quân sự thời chiến hoặc đăng ký nghĩa vụ quân sự lại.
Thủ tục đăng ký phục vụ trong ngạch dự bị gồm 3 bước: trước thời hạn 10 ngày, tính đến ngày đăng ký phục vụ trong ngạch dự bị, ban chỉ huy quân sự cấp xã có trách nhiệm chuyển Lệnh gọi đăng ký nghĩa vụ quân sự đến công dân thuộc đối tượng quy định tại khoản 1 khoản 2 điều 18 luật nghĩa vụ quân sự vào tháng 4 hằng năm.
Trong thời hạn 15 ngày làm việc, kể từ ngày công dân thuộc đối tượng quy định tại khoản 3 điều 18 luật nghĩa vụ quân sự về địa phương cư trú có trách nhiệm đến ban chỉ huy quân sự cấp xã để trực tiếp đăng ký phục vụ trong ngạch dự bị vào các ngày trong năm.
Trong thời hạn 1 ngày, ban chỉ huy quân sự cấp xã có trách nhiệm lập phiếu quân nhân dự bị, vào sổ đăng ký quân nhân dự bị và chuyển giấy chứng nhận đăng ký quân nhân dự bị cho công dân đã đăng ký phục vụ trong ngạch dự bị.
Sau khi báo Tuổi Trẻ đăng tải 2 bài "Thuốc ung thư - 'tấm vé' sống đắt đỏ - Kỳ 1: Cuộc chiến bào mòn cơ thể lẫn tiền nong" và "Thuốc ung thư -'tấm vé' sống đắt đỏ - Kỳ 2: Đánh cược vào thuốc xách tay hay chi tiền tỉ xuất ngoại?", đã nhận được nhiều quan tâm, chia sẻ của bạn đọc.
Nhiều bạn đọc cho rằng hiện nay do thuốc điều trị ung thư trúng đích và liệu pháp miễn dịch quá đắt đỏ, dẫn đến nhiều bệnh nhân, gia đình kiệt quệ về thể chất, kinh tế.
Bạn đọc có nickname Ngay chia sẻ chính câu chuyện của gia đình có người thân mắc bệnh ung thư phổi 5 năm qua đã bán hết nhà cửa, mỗi tháng uống thuốc trúng đích từ 22 - 24 triệu đồng, đến nay kinh tế đã cạn kiệt, gần hết tiền.
Bạn đọc Nguyentheanh cho rằng: "Phải có chính sách tốt hơn cho người bệnh ung thư, thuốc đắt đỏ quá. Có mấy loại thuốc lên cả 84 triệu đồng/tháng, quá cao".
"Ai có người thân mắc ung thư sẽ hiểu, đó không chỉ là cuộc chiến tinh thần, mà còn bào mòn bao năm tích góp để đổi lấy thêm những ngày còn thấy người thân bên cạnh", bạn đọc 0968******92 chia sẻ.
"Thương cho rất nhiều gia đình đang gồng mình giữa bệnh tật và chi phí điều trị. Với nhiều bệnh nhân ung thư, cuộc chiến không chỉ là chống chọi với căn bệnh mà còn là nỗi lo tiền thuốc mỗi ngày", bạn đọc Khiết bày tỏ.
Bạn đọc Dương nhận định bài viết phản ánh rất thật áp lực mà nhiều gia đình đang trải qua. Có những người phải bán tài sản, vay mượn hoặc đánh đổi cả kế hoạch tương lai chỉ để giữ người thân ở lại lâu hơn một chút.
Bạn đọc Buimaianh cũng nhận định: "Chính vì thuốc quá đắt, bệnh nhân nghèo không thể tiếp cận được nên mới tìm mua những hàng xách tay này".
"Khi người bệnh tìm đến thuốc xách tay, điều đó cho thấy họ đang bám víu vào bất kỳ hy vọng nào còn sót lại. Nhưng đi kèm với hy vọng là rất nhiều rủi ro về chất lượng và nguồn gốc thuốc", bạn đọc Minh chia sẻ.
Theo bạn đọc Khôi Trần: "Ung thư đã là một cuộc chiến quá khắc nghiệt, nhưng nhiều gia đình còn phải đối mặt thêm với gánh nặng tài chính. Đọc những câu chuyện phải tìm thuốc xách tay hay vay mượn để điều trị thật sự rất xót xa".
Theo bạn đọc Quách: "Mỗi khi đọc về những gia đình bán tài sản, vay nợ hoặc tìm mọi cách để kéo dài sự sống cho người thân mới thấy giá trị của các chính sách an sinh y tế quan trọng đến nhường nào".
Bạn đọc Khoa chia sẻ: "Căn bệnh ung thư giống như một cơn bão mạnh ập đến cuốn bay đi tất cả từ sức khỏe, tài sản và cả tính mạng. Chỉ mong sao y học sớm tìm được thuốc điều trị dứt điểm hoặc nhà nước có cơ chế hỗ trợ chi phí điều trị cho người bệnh".
"Đọc những ca bệnh mới càng thấy sức khỏe là tài sản quý giá nhất. Khi mắc bệnh, nhất là ung thư, nhiều người và gia đình phải đối mặt với chi phí điều trị quá lớn, cần thêm các chính sách hỗ trợ để họ có cơ hội tiếp cận phương pháp điều trị mới", bạn đọc Gia Nghi để lại ý kiến.
Đề xuất về giải pháp, bạn đọc Thúy An cho rằng: "Bộ Y tế cần đàm phán với công ty dược hay có giải pháp gì để giảm giá thuốc cho người bệnh".
Bạn đọc Dinh hy vọng việc mở rộng danh mục bảo hiểm y tế cho các thuốc điều trị ung thư mới sẽ giúp nhiều bệnh nhân tiếp cận được các phương pháp điều trị hiện đại hơn mà không phải gánh chi phí quá sức.
"Tôi chỉ mong trong tương lai sẽ có thêm nhiều loại thuốc ung thư tiên tiến được bảo hiểm hỗ trợ chi trả, để cơ hội điều trị không phụ thuộc quá nhiều vào việc người bệnh giàu hay nghèo, mà dựa trên nhu cầu chăm sóc sức khỏe chính đáng của họ", bạn đọc Mai gửi gắm.
Còn bạn đọc tên Thống đề xuất: "Rất mong thời gian tới sẽ có thêm nhiều chính sách hỗ trợ bảo hiểm, thuốc sinh học tương đương và các quỹ hỗ trợ bệnh nhân để giảm bớt gánh nặng tài chính cho người mắc ung thư".
Bạn đọc Định cũng nhận định các bài báo cũng là lời nhắc về tầm quan trọng của việc tầm soát, phát hiện sớm và chăm sóc sức khỏe định kỳ. Khi bệnh được phát hiện ở giai đoạn sớm, cơ hội điều trị hiệu quả thường sẽ cao hơn rất nhiều.