Nhắc lại vụ án Vạn Thịnh Phát với số tiền phải thi hành 40.000 tỉ đồng cho hơn 43.000 trái chủ chỉ riêng trong giai đoạn 2, Trưởng THADS TP.HCM Nguyễn Văn Hòa thừa nhận “khối lượng công việc này vượt xa khả năng xử lý theo phương thức truyền thống”.
Vậy để giải “bài toán” hóc búa này cần làm gì? THADS TP.HCM quyết định chọn một lối đi mang tính đột phá: khởi động chiến dịch số hóa toàn diện thông qua việc xây dựng 3 hệ thống phần mềm chuyên biệt, chuyển dịch toàn bộ quy trình xử lý hồ sơ từ thủ công sang điện tử.
Thứ nhất là phần mềm tiếp nhận thông tin người được thi hành án, cho phép các trái chủ chủ động kê khai, đối chiếu, cập nhật thông tin cá nhân, tài khoản ngân hàng và đăng ký nhận văn bản điện tử. Sau khi xác thực, dữ liệu sẽ tích hợp vào hệ thống, tạo thành cơ sở dữ liệu thống nhất phục vụ các bước nghiệp vụ tiếp theo.
Thứ hai là phần mềm quản lý tài sản, giúp quản lý tập trung hàng nghìn tài sản (bất động sản, cổ phần, động sản…) và theo dõi toàn bộ quá trình xử lý của từng tài sản theo thời gian thực, đảm bảo sự đồng bộ, minh bạch và chính xác.
Thứ ba là phần mềm thanh toán tiền thi hành án. Hệ thống sẽ tự động tính toán số tiền mỗi người được nhận, tự động xác định các khoản phải thu phí, đối chiếu thông tin tài khoản, lập danh sách chi trả và xuất lệnh thanh toán. Đồng thời, còn tự động tổng hợp kết quả, theo dõi các trường hợp đã nhận, chưa nhận, số tiền còn phải thanh toán…
Theo ông Hòa, với hơn 43.000 trái chủ cùng hàng nghìn tài sản cần xử lý, nếu áp dụng phương pháp thủ công như trước đây thì “gần như không thể hoàn thành trong thời hạn luật định”. Song, nhờ các phần mềm nêu trên, rất nhiều công đoạn được tự động hóa, giúp chi trả hơn 10.000 tỉ đồng chỉ bằng những cú click chuột, bảo đảm đúng tiến độ, đúng quy định và an toàn tuyệt đối.
Các chấp hành viên cũng cho biết thêm, với cách chi trả truyền thống, mỗi ngày chỉ giải quyết được khoảng 50 người, vì quy trình mất nhiều thời gian cho việc làm công văn, gửi nhận giấy tờ qua nhiều khâu, chưa kể phát sinh chi phí bưu chính, in ấn… Nếu vẫn áp dụng như vậy, để giải quyết hết 43.000 trái chủ vụ Vạn Thịnh Phát, thời gian cần có thể kéo dài tới hơn 2 năm.
Nhưng viễn cảnh trên đã không xảy ra. Ứng dụng công nghệ thông tin giúp toàn bộ quy trình rút gọn chỉ bằng vài thao tác công nghệ số. Sau khi dữ liệu chuẩn hóa, cập nhật trên hệ thống và được lãnh đạo duyệt, chấp hành viên chỉ cần ấn nút chuyển tiền, tiền sẽ đi thẳng từ tài khoản của cơ quan thi hành án đến tài khoản của trái chủ. Người dân không cần trực tiếp đến cơ quan THADS ký giấy tờ hoặc nhận tiền mặt, mà sẽ thông qua tài khoản ngân hàng.
“Việc chi trả tiền cho cả ngàn người chỉ với một thao tác trên hệ thống thực chất là thành quả từ chuẩn hóa dữ liệu, số hóa quy trình và ứng dụng công nghệ vào toàn bộ quá trình tổ chức thi hành án”, Trưởng THADS TP.HCM khẳng định.
Tương tự TP.HCM, THADS TP.Hà Nội cũng cho thấy hiệu quả vượt trội của công nghệ thông tin trong việc xử lý các đại án kinh tế. Như vụ Tân Hoàng Minh, Phó chánh văn phòng THADS TP.Hà Nội Bùi Minh Nguyệt chia sẻ, với số bị hại lên tới 6.630 người, nếu làm theo cách thông thường thì “nhầm lẫn, sai sót chắc chắn sẽ xảy ra”.
Nhận diện thách thức từ sớm, ngay khi nắm bắt thông tin từ giai đoạn điều tra về số lượng bị hại, lãnh đạo THADS TP.Hà Nội đã chỉ đạo xây dựng một phần mềm riêng biệt cho vụ án. Mục tiêu đặt ra là trong số 6.630 nhà đầu tư, hệ thống phải cập nhật chính xác ai đã làm đơn yêu cầu thi hành án, ai đã được chi trả tiền và những ai chưa thực hiện thủ tục.
Đáng chú ý, điểm sáng trong cách làm của THADS TP.Hà Nội là sự chủ động phối hợp liên ngành. Đơn vị đã trực tiếp làm việc với Cục C03 Bộ Công an và chủ tọa phiên tòa sơ thẩm nhằm cá biệt hóa thông tin của từng bị hại. Ba bên thống nhất danh sách 6.630 người bắt buộc có số căn cước công dân để làm căn cứ đối chiếu. Bởi lẽ, họ tên có thể trùng nhau, địa chỉ cư trú có thể thay đổi, nhưng số căn cước luôn là duy nhất và cố định.
Thông tin được mã hóa thành công, cơ quan THADS sẽ tích hợp mẫu đơn yêu cầu thi hành án và đề nghị chuyển khoản trực tiếp vào hệ thống dữ liệu. Đây là 2 thủ tục người dân thường gặp khó khăn, bỡ ngỡ nhất khi tự kê khai, cũng là 2 thông tin cốt lõi giúp hoàn thiện thủ tục thi hành án.
Nhờ tích hợp thông minh, chấp hành viên chỉ cần tìm kiếm và ấn chọn mã số của người bị hại, chọn lệnh xuất đơn yêu cầu. Hệ thống lập tức tự động điền đầy đủ, chính xác toàn bộ thông tin từ họ tên, số căn cước cho đến số tiền được nhận. Người dân khi đến làm việc chỉ cần kiểm tra và ký xác nhận.
Theo tính toán của bà Nguyệt, nếu “gõ lạch cạch từng trường hợp như trước đây”, một chấp hành viên chỉ có thể giải quyết được tối đa 50 trường hợp mỗi ngày. Trong khi đó, với phần mềm trong vụ Tân Hoàng Minh, năng suất tăng lên 250 trường hợp mỗi ngày, gấp 5 lần.
Tương tự, vụ án Tập đoàn FLC dù có số lượng bị hại lên tới 28.000 người, nhưng vì đã có kinh nghiệm từ trường hợp Tân Hoàng Minh, THADS TP.Hà Nội tiếp tục xây dựng phần mềm thi hành án riêng biệt, với các giải pháp ứng dụng triệt để công nghệ thông tin. Nhờ đó, chỉ trong thời gian ngắn, khoảng 15.000 nhà đầu tư đã nhận lại được tiền theo như bản án đã tuyên.
Chúng tôi ghé thăm làng Tiên Hòa, xã Vĩnh Quang, tỉnh Gia Lai (trước đây thuộc huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định) vào những ngày hè oi bức. Giữa cái nắng gay gắt của miền Trung, khu rừng Hòn Cấm ở làng Tiên Hòa hiện ra như một ốc đảo tươi mát. Mới chỉ đến gần chân núi, không khí lập tức dịu lại. Tiếng chim ríu rít trên những tán cây cao, gió len qua rừng cây cổ thụ mang theo hơi mát khiến cảm giác oi bức dường như tan biến.
Là người già nhất làng, cụ ông Trần Trọng Tấn (90 tuổi, ở làng Tiên Hòa) cho biết từ khi còn nhỏ đã được cha ông dặn dò "đây là núi cấm", mọi người phải cùng nhau gìn giữ.
Cụ Tấn bảo rằng người dân Tiên Hòa vẫn truyền nhau những câu chuyện về sự ra đời của khu rừng cấm. Theo lời kể của các bậc cao niên, ngày xưa vùng đất quanh chân núi thuộc sở hữu của một phú ông giàu có. Trong những năm hạn hán kéo dài, khi nhiều nơi khô cạn, khu vực quanh Hòn Cấm vẫn giữ được mạch nước ngầm nhờ khu rừng trên đỉnh núi. Nhận thấy giá trị đặc biệt ấy, phú ông đã đặt ra những quy ước nghiêm ngặt để bảo vệ rừng. Từ đó, lệ làng được hình thành, người dân không được tự ý chặt cây hay khai thác lâm sản.
"Ông bà dạy rừng là của chung. Mất rừng là mạch nước ngầm cũng cạn. Bao nhiêu đời nay, người làng không ai dám đụng đến rừng cấm. Bởi vậy những năm hạn nhất, các vùng khác khô hết nước nhưng giếng của dân làng Tiên Hòa thì chưa bao giờ cạn", cụ Tấn kể.
Còn sách Nước non Bình Định của học giả Quách Tấn chép rằng Hòn Cấm tuy thấp nhưng rừng rậm, cây cao, có nhiều danh mộc to lớn, hình thù kỳ quái. Hàng trăm năm trước trong làng có một người thợ rừng vào núi đốn một cây cổ thụ. Sau nhiều lần gãy, mẻ lưỡi rìu, ông mới hạ được cây. Ngay lúc đó, từ vết cắt ở gốc cây bỗng trồi lên một chiếc đầu lâu, tóc xanh như cỏ. Đầu lâu này trợn mắt nhìn người thợ rừng rồi biến mất.
Khúc gỗ sau đó được một phú ông mua về làm nhà. Nhà cất xong, gia đình phú ông liên tục gặp nạn. Nghe người thợ rừng kể lại chuyện "thần tóc xanh" hiện hình, phú ông hiểu rằng thần cần nơi nương tựa nên đã lập miếu thờ tại gốc cây cũ. Từ đó, gia đình họ được bình yên.
Để bảo vệ khu rừng, phú ông làm đơn xin quan địa phương cấm đốn củi và được chuẩn y, từ đó núi có tên là Hòn Cấm. Dù câu chuyện mang màu sắc hoang đường, nhưng người dân lại thích thú truyền tai nhau từ đời này sang đời khác, khiến Hòn Cấm ngày càng nổi tiếng.
Nhờ những quy ước bất thành văn ấy, Hòn Cấm vẫn tồn tại gần như nguyên vẹn đến ngày nay, trong khi nhiều cánh rừng khác thì dần thu hẹp theo thời gian.
Làng Tiên Hòa hiện có khoảng 400 hộ dân. Với người dân nơi đây, giá trị lớn nhất của Hòn Cấm không nằm ở gỗ hay lâm sản mà ở vai trò điều hòa khí hậu và giữ nước. Vào những ngày nắng nóng nhất, nhiệt độ khu vực quanh làng thường thấp hơn các vùng lân cận từ 3 - 4 độ C. Người dân ví khu rừng như một "máy điều hòa tự nhiên" giúp giữ độ ẩm và tạo bóng mát cho cả vùng.
Quan trọng hơn, Hòn Cấm là nguồn sinh thủy cho đời sống và sản xuất. Từ lòng núi, những mạch nước ngầm len lỏi nuôi dưỡng ruộng vườn, cung cấp nước cho các giếng đào của người dân. Trong điều kiện thời tiết ngày càng khắc nghiệt, nguồn nước này có ý nghĩa đặc biệt đối với cộng đồng địa phương.
Hòn Cấm là một ngọn núi thấp với khu rừng nguyên sinh rộng khoảng 4 ha. Cả ngọn núi nằm lọt giữa khu dân cư. Trên núi không khí mát lạnh lạ kỳ. Những tán cổ thụ đan xen với nhau tạo nên một vòm xanh bảo vệ cả khu rừng. Dưới chân, những cây bụi cùng cỏ dại phủ kín lối đi. Dưới cùng là lớp lá khô mục, môi trường sinh sống của nhiều loài động vật, côn trùng nhỏ.
Men theo những lối mòn trong rừng, ông Hồ Đức Cung (62 tuổi, ở làng Tiên Hòa) chỉ cho chúng tôi những cây xay, bằng lăng cổ thụ lớn đến vài người ôm không xuể. Trên thân cây, lớp rêu xanh phủ kín như minh chứng cho tuổi đời hàng chục, thậm chí hàng trăm năm.
"Rừng còn được như hôm nay là nhờ người dân cùng nhau gìn giữ. Đây không chỉ là cây cối mà còn là di sản của làng", ông Cung nói.
Theo ông Cung, dù được bảo vệ khá tốt, nhưng việc tăng cường quản lý, khoanh vùng bảo vệ và nâng cao ý thức cộng đồng vẫn là yêu cầu cần thiết để bảo tồn khu rừng lâu dài.
Bên cạnh công tác bảo tồn, người dân địa phương cũng kỳ vọng phát triển du lịch sinh thái gắn với khu rừng. Nằm cạnh sông Kôn, sở hữu hệ sinh thái tự nhiên cùng những câu chuyện dân gian đặc sắc, Hòn Cấm được đánh giá có tiềm năng trở thành điểm đến trải nghiệm thiên nhiên nếu được đầu tư phù hợp.
Ông Trịnh Thành Trung, Chủ tịch UBND xã Vĩnh Quang, cho biết Hòn Cấm là khu rừng được cộng đồng và chính quyền địa phương gìn giữ từ nhiều năm nay. Khu rừng cũng là nguồn sinh thủy quan trọng cho các giếng đào phục vụ sinh hoạt của người dân.
Chính vì gắn bó mật thiết với đời sống nên từ lâu người dân xem đây là "rừng thiêng", tự giác bảo vệ. Khi phát hiện các hành vi xâm hại rừng, người dân chủ động ngăn chặn và báo chính quyền xử lý.
Theo ông Trung, địa phương sẽ tiếp tục phối hợp với cộng đồng bảo vệ Hòn Cấm, vừa duy trì nguồn nước, hạn chế nguy cơ sạt lở cho khu dân cư dưới chân núi, vừa giữ gìn hệ sinh thái tự nhiên. Đây cũng được xem là nền tảng để phát triển bền vững, hài hòa giữa bảo tồn thiên nhiên và sinh kế của người dân địa phương.
Sau bao biến động của thời gian, Hòn Cấm vẫn giữ được màu xanh nguyên sơ giữa miền bán sơn địa. Không chỉ là một khu rừng nhỏ, nơi đây còn là minh chứng cho sức mạnh của những quy ước cộng đồng, cho ý thức gìn giữ thiên nhiên được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Và chính điều đó đã giúp Hòn Cấm tồn tại đến ngày nay.
Ngày 21.5, Công an phường Sơn Trà (thành phố Đà Nẵng) cho biết vừa bắt giữ Hồ Văn Thảo (29 tuổi, ở phường Sơn Trà), nghi phạm gây ra hàng loạt vụ trộm cắp tài sản trên địa bàn.
Từ tháng 4.2026, Công an phường Sơn Trà đã xác lập chuyên án ST01 để tập trung đấu tranh, làm rõ hành vi phạm tội của nghi phạm gây ra nhiều vụ trộm cắp tài sản tại các cơ sở kinh doanh.
Sau thời gian triển khai đồng bộ các biện pháp nghiệp vụ, lực lượng công an thu thập đầy đủ tài liệu, chứng cứ, xác định Hồ Văn Thảo là nghi phạm thực hiện nhiều vụ trộm trên địa bàn.
Khoảng 2 giờ ngày 19.5, trong lúc mật phục, công an phát hiện Thảo đang cạy phá cửa một nhà thuốc trên đường Khúc Hạo để đột nhập trộm cắp tài sản nên lập tức khống chế, bắt giữ quả tang.
Tại cơ quan công an, Thảo khai nhận do không có nghề nghiệp ổn định, cần tiền tiêu xài nên liên tiếp thực hiện các vụ đột nhập trộm cắp tại cơ sở kinh doanh, siêu thị, nhà thuốc.
Bước đầu, Công an phường Sơn Trà xác định từ cuối năm 2025 đến nay, Hồ Văn Thảo đã gây ra 17 vụ trộm cắp tài sản với tổng giá trị hơn 50 triệu đồng cùng nhiều tài sản khác.
Tang vật công an thu giữ gồm xe máy, dụng cụ dùng để cạy phá khóa cùng nhiều vật chứng liên quan.
Vụ việc đang được Công an phường Sơn Trà tiếp tục củng cố hồ sơ, mở rộng điều tra và xử lý.
Công an thành phố Đà Nẵng khuyến cáo các hộ kinh doanh cần tăng cường hệ thống camera giám sát và kịp thời trình báo khi phát hiện dấu hiệu nghi vấn để phòng ngừa tội phạm trộm cắp.
Thông tin được ông Phạm Văn Mười, Phó giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Cà Mau, cho biết ngày 9/7. Theo ông, Công ty TNHH Tập đoàn Nông nghiệp sạch hữu cơ Toàn Cầu, trụ sở tại phường Rạch Giá, tỉnh An Giang, đang trả dần tiền lúa cho các hợp tác xã và nông dân.
"Do tình hình tài chính khó khăn, doanh nghiệp chưa ấn định thời gian hoàn tất thanh toán, nhưng cố gắng trả nhanh nhất cho nông dân", ông Mười nói.
Theo Sở Nông nghiệp và Môi trường Cà Mau, Công ty Toàn Cầu từng ký hợp đồng thu mua, bao tiêu lúa với một số hợp tác xã và hộ dân tại các xã Trí Phải, Vĩnh Phước, Ninh Thạnh Lợi và Ninh Quới. Thời gian đầu, doanh nghiệp thu mua, thanh toán đúng thỏa thuận, nhưng từ cuối năm 2025 bắt đầu chậm trả tiền lúa.
Qua rà soát vụ lúa - tôm 2025-2026, Công ty Toàn Cầu liên kết với 37 hợp tác xã trên diện tích hơn 800 ha. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện, doanh nghiệp chậm thanh toán tiền thu mua lúa của 5 hợp tác xã và một hộ dân, tổng số tiền hơn 14 tỷ đồng.
Sau nhiều cuộc làm việc với cơ quan chức năng và địa phương, công ty đã chi trả một phần, hiện còn nợ khoảng 11,3 tỷ đồng. Các hợp tác xã, hộ dân đã làm việc trực tiếp với doanh nghiệp để xác nhận số tiền còn lại và tiếp tục yêu cầu công ty đẩy nhanh tiến độ thanh toán.
Một số hợp tác xã cho biết theo hợp đồng, doanh nghiệp phải thanh toán ngay sau khi thu mua bằng tiền mặt hoặc chuyển khoản, song việc chi trả không đúng cam kết. Khoản nợ kéo dài khiến nhiều hộ dân thiếu vốn tái sản xuất, phải tự tìm đầu ra và bán lúa cho thương lái khi vào vụ thu hoạch.
Theo Sở Nông nghiệp và Môi trường, việc liên kết giữa Công ty Toàn Cầu và các hợp tác xã được triển khai trên cơ sở biên bản ghi nhớ hợp tác giữa doanh nghiệp với UBND tỉnh. Sở sau đó ban hành kế hoạch hỗ trợ doanh nghiệp liên kết sản xuất, tiêu thụ lúa gạo, đồng thời phối hợp địa phương tạo điều kiện cho doanh nghiệp thực hiện.
Trước việc doanh nghiệp chậm thanh toán, UBND tỉnh Cà Mau đã chỉ đạo cơ quan chức năng và địa phương nhiều lần làm việc với các bên để tháo gỡ. Ngày 27/3, Phó chủ tịch UBND tỉnh Cà Mau Lê Văn Sử ký văn bản yêu cầu Công ty Toàn Cầu hoàn tất chi trả tiền lúa cho các hợp tác xã và hộ dân theo cam kết.
Công ty Toàn Cầu cho biết gặp khó khăn trong tiêu thụ gạo do biến động thị trường và tác động từ tình hình quốc tế. Doanh nghiệp nói lượng hàng tồn kho lớn, chưa có đơn hàng xuất khẩu mới nên ảnh hưởng dòng tiền; cam kết trả dần mỗi tuần 50-100 triệu đồng và tiếp tục thanh toán khi có đơn hàng mới.
Sở Nông nghiệp và Môi trường Cà Mau đề nghị các hợp tác xã, hộ dân thanh lý hợp đồng với doanh nghiệp, yêu cầu công ty trả nợ theo cam kết, đồng thời hoàn thiện hồ sơ, chứng từ liên quan. Cơ quan này cũng phối hợp chính quyền địa phương tiếp tục theo dõi, giám sát việc thanh toán.