Mẹ của hai bé là sản phụ 23 tuổi (ở Nghệ An), mang thai lần đầu sau IVF. Khi thai 25 tuần, người mẹ nhập viện trong tình trạng tụt cổ tử cung, hở chữ Y (hở eo tử cung là tình trạng cổ tử cung suy yếu, mở sớm trong thai kỳ).
Tại BV Phụ sản Hà Nội, các bác sĩ đã chăm sóc để cố gắng giữ thai thêm trong bụng mẹ. Tuy nhiên, sản phụ vẫn sinh sớm, khi thai được 27 tuần 6 ngày tuổi. Hai bé chào đời ngày 12.1.2026, được hồi sức và chuyển lên Khoa Sơ sinh. Ở tuổi thai này, phổi chưa đủ trưởng thành để tự thở. Cả hai bé đều suy hô hấp nặng do bệnh màng trong, phải bơm curosurf (kỹ thuật trong điều trị suy hô hấp ở trẻ sơ sinh, giúp bé phát triển khỏe mạnh); thở máy xâm nhập 9 ngày, sau đó tiếp tục được hỗ trợ hô hấp thêm 32 ngày.
Những ngày đầu đời, hai bé được nuôi bằng từng giọt dịch truyền tĩnh mạch, trong điều kiện y tế rất nghiêm ngặt. Khi các bé được khoảng 34 tuần tuổi, người mẹ mới lần đầu tiên được vào gặp con. Sau hơn 2 tháng điều trị, bé gái có cân nặng 1.800 gram; bé trai 1.750 gram, đủ điều kiện ra viện. Đến nay, gần 3 tháng tuổi, mỗi bé đã có cân nặng khoảng 3 kg.
Theo BV Phụ sản Hà Nội, trẻ sinh đúng tháng là chào đời trong khoảng thai kỳ 39 – 41 tuần. Trẻ sinh non tháng nhẹ cân dễ gặp phải các biến cố nguy hiểm do suy hô hấp, nhiễm trùng.

Những yếu tố ảnh hưởng đến đường huyết không chỉ là lượng tinh bột trong khoai mà còn là cấu trúc của tinh bột, lượng chất xơ và các hợp chất sinh học khác. Do vậy, khoai lang dù là thực phẩm có nhiều tinh bột nhưng lại có thể giúp ổn định đường huyết nếu ăn đúng cách, theo chuyên trang Eating Well (Mỹ).
Trên thực tế, nhiều bằng chứng nghiên cứu cho thấy khoai lang không gây tăng đường huyết đột ngột như các loại tinh bột trắng như cơm, bánh mì, bánh ngọt, bún hay phở. Ngược lại, khoai lang còn hỗ trợ kiểm soát chuyển hóa đường glucose trong cơ thể.
Một trong những yếu tố quan trọng nhất giải thích điều này là chỉ số đường huyết (GI). Khoai lang có chỉ số GI ở mức trung bình, thường vào khoảng 50 - 60, thấp hơn so với nhiều loại thực phẩm làm từ tinh bột trắng như bánh mì trắng hay cơm trắng.
Điều này có nghĩa là đường glucose từ khoai lang được giải phóng vào máu chậm hơn, giúp tránh tình trạng đường huyết tăng vọt rồi giảm nhanh sau đó.
Ngoài ra, hàm lượng chất xơ trong khoai lang cũng rất quan trọng. Chất xơ giúp làm chậm quá trình tiêu hóa bằng cách kéo dài thời gian thức ăn lưu lại trong dạ dày và ruột non.
Khi quá trình tiêu hóa chậm lại, đường glucose được giải phóng từ từ vào máu thay vì ồ ạt. Điều này giúp cơ thể kiểm soát đường huyết tốt hơn. Ngoài ra, chất xơ còn nuôi dưỡng hệ vi sinh đường ruột, từ đó gián tiếp cải thiện khả năng chuyển hóa đường glucose.
Bên cạnh đó, không thể bỏ qua vai trò của tinh bột kháng, một dạng tinh bột đặc biệt có trong khoai lang. Khác với tinh bột thông thường, tinh bột kháng không bị tiêu hóa ở ruột non mà đi xuống đại tràng và được vi khuẩn lên men tại đây. Quá trình này tạo ra các a xít béo chuỗi ngắn có tác dụng cải thiện độ nhạy insulin và giảm phản ứng đường huyết sau ăn.
Ngoài ra, cấu trúc tinh bột trong khoai lang cũng góp phần quan trọng. Tinh bột gồm hai thành phần chính là amylose và amylopectin. Amylose tiêu hóa chậm hơn, trong khi amylopectin dễ bị phân giải nhanh thành glucose. Khoai lang có tỷ lệ amylose tương đối cao hơn so với nhiều món làm từ tinh bột trắng. Do đó, tốc độ giải phóng đường glucose vào máu chậm hơn.
Một yếu tố quan trọng khác là cách chế biến. Cùng là khoai lang nhưng nếu nấu theo các phương pháp khác nhau thì tác động lên đường huyết cũng khác nhau. Luộc hoặc hấp thường giúp giữ chỉ số đường huyết ở mức thấp hơn, trong khi nướng hoặc chiên có thể làm tăng chỉ số này do phá vỡ cấu trúc tinh bột và tạo ra nhiều đường đơn hơn, theo Eating Well.
Tin Gốc: Thanh Niên

Loại cây ở Thanh Hóa chứa hoạt chất quý
Theo thống kê trên thế giới, cứ 4 người thì có ít nhất 1 người từng mắc các bệnh viêm đường hô hấp.
Trăn trở trước thực tế đó, GS.TS Nguyễn Mạnh Cường và nhóm nghiên cứu Viện Hoá học - Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam đã kiên trì theo đuổi hướng tìm kiếm các hoạt chất chống viêm từ dược liệu tự nhiên.
Ông kỳ vọng những nghiên cứu bài bản này sẽ góp phần tạo ra các sản phẩm an toàn, có cơ sở khoa học, hỗ trợ bảo vệ sức khỏe lá phổi. Đồng thời, đây cũng là hướng đi giúp phát huy giá trị nguồn dược liệu địa phương, đặc biệt là cây Quýt hôi, cây thuốc đặc trưng của Việt Nam nói chung và của tỉnh Thanh Hóa nói riêng.
Nghiên cứu tập trung khảo sát 8 cây thuốc chọn lọc có tác dụng kháng viêm trong đó có Quýt hôi, nhằm đánh giá toàn diện từ thành phần hóa học, cơ chế tác dụng đến khả năng phát triển sản phẩm.
Quýt hôi là cây thuốc bản địa của vùng núi Pù Luông, Thanh Hóa. Hiện nay, cây được trồng và mọc tự nhiên tại một số xã vùng núi cao của huyện Bá Thước như Ban Công, Thành Lâm, Thành Sơn, Lũng Cao, Cổ Lũng và Lũng Niêm với diện tích ước tính khoảng 60-80ha.
GS Cường chia sẻ: "Trong dân gian, lá và vỏ quả Quýt hôi từ lâu đã được đồng bào Thái và Mường sử dụng để trị ho hen, cảm cúm, phong thấp. Đặc biệt, lá Quýt hôi còn là thành phần chính trong bài thuốc hỗ trợ điều trị viêm phổi của mế Tiến ở Tân Lạc (Hòa Bình), khu vực giáp ranh với Bá Thước, Thanh Hóa.
Tuy nhiên, dù được sử dụng khá phổ biến trong y học dân gian, loài cây này trước đây hầu như chưa được nghiên cứu đầy đủ về tên khoa học, thành phần hóa học cũng như tác dụng kháng viêm".
Từ thực tế đó, nhóm nghiên cứu đã tiến hành khảo sát và đánh giá một cách hệ thống nhằm làm rõ giá trị khoa học của nguồn dược liệu bản địa này.
Bằng việc kết hợp song song phương pháp so sánh hình thái thực vật và giải trình tự gen, nhóm nghiên cứu lần đầu tiên xác định chính xác tên khoa học của Quýt hôi là Citrus × aurantium L., trong đó dấu “×” cho thấy đây là loài lai hóa tự nhiên.
Nhiều tiềm năng chữa bệnh
Khi tiến hành phân tích tinh dầu lá Quýt hôi tại Việt Nam, nhóm nghiên cứu còn phát hiện hàm lượng lớn các hợp chất thơm thymol và thymol methyl ether. Đây là những thành phần có liên quan đến hoạt tính sinh học và tiềm năng kháng viêm của dược liệu này.
Khi đánh giá tác dụng kháng viêm trong phòng thí nghiệm, cao chiết từ lá Quýt hôi cho thấy khả năng ức chế mạnh sự sản sinh nitric oxide (NO) cùng các cytokine tiền viêm quan trọng như TNF-α và IL-6.
Đây là phát hiện đáng chú ý bởi trước đó tác dụng kháng viêm của loài cây này chưa từng được chứng minh rõ ràng bằng thực nghiệm.
Không chỉ Quýt hôi, rễ cây Nhó đông cũng cho thấy hoạt tính kháng viêm mạnh. Lần đầu tiên, cao ethanol 95% từ rễ cây này được xác nhận không gây độc tính trên động vật thực nghiệm, đồng thời có khả năng ức chế các cytokine tiền viêm quan trọng.
Từ các nguồn dược liệu nghiên cứu, nhóm đã phân lập và xác định một số hợp chất thiên nhiên có tiềm năng sinh học cao như tangeretin, nobiletin, morindone, ostruthin và murrayafoline A.
Các hợp chất này được ghi nhận có khả năng điều hòa những con đường tín hiệu liên quan đến phản ứng viêm.
Theo GS Cường, nhóm đã phối hợp với Viện Sinh học (Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam) để đánh giá tác dụng của các hợp chất thiên nhiên trên mô hình mô phỏng tình trạng đồng nhiễm vi khuẩn và virus, một đặc trưng thường gặp ở các ca viêm phổi nặng trên lâm sàng.
Trên mô hình này, các hợp chất tự nhiên như morindone (từ cây Nhó đông), ostruthin (từ Xáo tam phân) và murrayafoline A (từ cây Cơm rượu trái hẹp) cho thấy khả năng làm giảm mạnh các chất trung gian gây viêm.
Mô hình thực nghiệm kết hợp LPS - thành phần đại diện cho vi khuẩn Gram âm và poly (I:C) - đại diện cho RNA virus, giúp mô phỏng sát hơn phản ứng viêm phức tạp xảy ra trong cơ thể người bệnh.
Kết quả nghiên cứu cho thấy các hợp chất tự nhiên này có tiềm năng trong kiểm soát hiện tượng “bão cytokine”, phản ứng miễn dịch quá mức có thể dẫn đến tổn thương phổi cấp và làm bệnh diễn tiến nghiêm trọng hơn.
Tin Gốc: Dân Trí

Bệnh nhân có tiền sử tăng huyết áp, hút thuốc, uống rượu, từng thoáng tê tay và nói khó nhưng không khám. Trước nhập viện hơn một ngày, anh đột ngột méo miệng, yếu nửa người phải, mất khả năng nói, gia đình nghĩ bệnh sẽ tự cải thiện nên hôm sau mới đưa vào viện.
Ngày 1/4, BS.CK1 Phan Ngọc Thảo, Khoa Nội Thần kinh - Đột quỵ, Bệnh viện Gia An 115, cho biết người bệnh vào viện đã mất ngôn ngữ toàn bộ, liệt mặt phải, yếu nửa người phải. MRI xác định nhồi máu não bán cầu trái do tắc động mạch não giữa.
Thông thường, sau 24 giờ kể từ khi khởi phát đột quỵ, hầu hết mô não bị thiếu máu đã hoại tử hoàn toàn. Tuy nhiên, để xác định chính xác thể tích vùng não còn có thể cứu, bệnh nhân được chụp CT perfusion trên hệ thống Somatom Force VB30 có tích hợp trí tuệ nhân tạo (AI). Bác sĩ xác định vùng não còn cứu được có thể tích lớn, chỉ định can thiệp lấy huyết khối cơ học giúp tái thông mạch máu. Sau điều trị và phục hồi chức năng, tình trạng yếu tay chân và rối loạn ngôn ngữ cải thiện dần.
Bác sĩ Thảo cho biết khi động mạch não bị tắc, não hình thành hai vùng gồm lõi nhồi máu đã hoại tử không hồi phục và vùng "tranh tối tranh sáng" xung quanh - tế bào chưa chết nhưng mất chức năng. Đây là vùng có thể cứu nếu tái thông mạch kịp thời.
Đột quỵ nhồi máu não điều trị hiệu quả nhất trong 4,5 giờ đầu với thuốc tiêu sợi huyết, có thể kéo dài 6-24 giờ với can thiệp lấy huyết khối. Sau 24 giờ, chỉ định rất hạn chế, đòi hỏi bằng chứng từ các chẩn đoán hình ảnh tiên tiến. Trong cấp cứu đột quỵ, "thời gian là não", trì hoãn sẽ mất cơ hội cứu tế bào thần kinh. May mắn, công nghệ hình ảnh hiện đại đã phát hiện thể tích vùng não còn cứu được của bệnh nhân đủ lớn, tạo tiền đề để các bác sĩ can thiệp muộn và thành công.
"Trường hợp tái thông mạch ở giờ thứ 34 cho thấy tiến bộ của y học giúp tăng cơ hội hồi phục", bác sĩ đánh giá.
Đột quỵ thường liên quan nhiều yếu tố nguy cơ như tăng huyết áp, đái tháo đường, rối loạn lipid máu, ngưng thở khi ngủ, hút thuốc lá, căng thẳng kéo dài, lạm dụng rượu bia, béo phì, lối sống ít vận động, bệnh tim mạch và tiền sử cơn thiếu máu não thoáng qua. Việc chủ động tầm soát, kiểm soát các yếu tố nguy cơ và xử trí kịp thời khi có dấu hiệu nghi ngờ giúp giảm thiểu thương tổn não và nâng cao khả năng hồi phục.
Để nhận biết sớm đột quỵ, cần nhớ quy tắc BE FAST, cảnh giác với các triệu chứng mất thăng bằng, mờ mắt, méo mặt, tê yếu một bên tay chân, nói khó và đi cấp cứu ngay khi xuất hiện triệu chứng.
Lê Phương
Nguồn: https://vnexpress.net/cuu-ca-dot-quy-o-gio-thu-34-5057244.html

