Lần đầu tiên tại Việt Nam, một hệ thống phân loại trượt lở theo chuẩn quốc tế đã được nhóm nghiên cứu đề xuất dựa trên dữ liệu khảo sát thực địa, phân tích viễn thám và mô hình số địa hình.
Theo Viện Hàn lâm Khoa học – Công nghệ Việt Nam, kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học quan trọng cho đánh giá nguy cơ, dự báo và cảnh báo sớm trượt lở, góp phần giảm thiểu rủi ro thiên tai.
Trượt lở là hiện tượng khối đất, đá hoặc mảnh vụn trên sườn dốc mất ổn định và dịch chuyển xuống dưới do tác động của trọng lực.
Mưa lớn là tác nhân kích hoạt phổ biến nhất bởi vì nước mưa làm giảm độ bền của đất và tăng khả năng xảy ra trượt lở. Tại Việt Nam, trượt lở thường xảy ra ở các vùng núi phía Bắc, miền Trung và Tây Nguyên, tập trung trong mùa mưa bão và các đợt mưa lớn kéo dài hoặc có cường độ cao.
Những năm gần đây, trượt lở ngày càng diễn biến phức tạp với quy mô và phạm vi ảnh hưởng lớn hơn. Nhiều trận trượt lở xảy ra đồng thời trên diện rộng, tạo ra hàng trăm đến hàng nghìn điểm trượt chỉ trong vài giờ.
Không chỉ gây thiệt hại trực tiếp, trượt lở còn có thể kích hoạt các tai biến dây chuyền như lũ bùn đá, lũ quét, chặn dòng tạm thời và lũ quét do vỡ đập, làm gia tăng đáng kể mức độ rủi ro thiên tai.
Trước thực tế này, TS Phạm Văn Tiền và nhóm nghiên cứu Viện Các Khoa học Trái đất – Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam đã thực hiện đề tài “Nghiên cứu các loại hình trượt lở trong điều kiện mưa cực đoan ở vùng núi phía Bắc và miền Trung Việt Nam”.
Nghiên cứu tập trung nhận diện các loại hình trượt lở, làm rõ cơ chế và động lực phát sinh trong điều kiện mưa lớn cực đoan.
Theo TS. Phạm Văn Tiền, nghiên cứu được hình thành từ nhiều năm khảo sát thực địa và kế thừa kết quả của các đề tài nghiên cứu trước đó về trượt lở đất.
Đặc biệt, trong quá trình anh thực hiện đề tài sau tiến sĩ về “Nghiên cứu cơ chế hình thành và đánh giá các tác động của tai biến trượt lở đến một số công trình hồ và đập chứa nước”, các dữ liệu hiện trường kết hợp phân tích ảnh viễn thám đã cho thấy, hiện tượng trượt lở hàng loạt trên diện rộng ngày càng xuất hiện phổ biến với nhiều dạng phá hủy và cơ chế phát sinh phức tạp.
Những quan sát này đã đặt nền tảng cho nghiên cứu chuyên sâu về nhận diện, phân loại và cơ chế trượt lở trong điều kiện mưa cực đoan ở Việt Nam.
TS. Phạm Văn Tiền cho biết: “Các trận thiên tai gần đây ghi nhận nhiều loại hình trượt lở với quy mô, cơ chế và tính chất vận động khác nhau. Đáng chú ý, một số dạng trượt lở có sức tàn phá rất lớn như trượt lở hàng loạt trên diện rộng, trượt đá quy mô lớn và trượt dạng dòng chảy ngày càng xuất hiện nhiều hơn”.
Tuy nhiên, các loại hình này vẫn chưa được nghiên cứu đầy đủ ở Việt Nam, gây khó khăn cho công tác đánh giá nguy cơ, dự báo và ứng phó thiên tai.
Từ thực tế đó, TS Tiền đã trao đổi và cùng PGS.TSKH Vũ Cao Minh triển khai các khảo sát chuyên sâu nhằm làm rõ cơ chế và động lực phát sinh của các loại hình trượt lở trong điều kiện mưa cực đoan.
Đặc biệt, nhu cầu nhận diện chính xác các loại hình trượt lở và cơ chế hình thành của chúng càng trở nên cấp thiết khi TS Tiền tham gia đề tài “Nghiên cứu xây dựng hệ thống cảnh báo sớm cấp thôn (bản) tích hợp tai biến trượt lở, lũ bùn đá, lũ quét có sự tham gia của cộng đồng tại một số khu vực trọng điểm miền núi phía Bắc”, do TS Đào Minh Đức chủ nhiệm.
Trong đó, nhóm nghiên cứu đã thực hiện hơn 20 chuyến khảo sát tại các khu vực xảy ra trượt lở, nhiều chuyến diễn ra ngay sau thiên tai khi hiện trường còn chưa ổn định, đất đá vẫn có thể tiếp tục dịch chuyển và thường xuyên đối mặt với nhiều tình huống nguy hiểm.
Điển hình là đợt khảo sát thảm họa trượt đá Làng Nủ (Lào Cai), nơi dòng đất đá phát sinh từ khối trượt trên núi Con Voi đã gây thiệt hại đặc biệt nghiêm trọng và tạo ra một trận động đất nhỏ với rung chấn cục bộ kéo dài gần 3 phút.
Theo nhóm nghiên cứu, việc trực tiếp quan sát và ghi nhận các dấu vết hiện trường là nguồn dữ liệu quý giá để làm rõ cơ chế trượt lở, bởi nhiều dấu hiệu quan trọng sẽ nhanh chóng biến mất sau thiên tai.
Nhận diện và làm rõ cơ chế các loại hình trượt lở tại Việt Nam
Phân tích dữ liệu từ nhiều trận trượt lở tại miền Bắc và miền Trung cho thấy, hiện tượng này chịu chi phối mạnh bởi mưa cực đoan, bao gồm cường độ mưa, lượng mưa tích lũy và phạm vi ảnh hưởng của mưa.
Nhiều trận trượt lở xảy ra khi cường độ mưa đạt 50-70 mm/giờ hoặc trong các đợt mưa kéo dài với lượng tích lũy vài trăm tới hàng nghìn milimét.
Đặc biệt, các đợt mưa diện rộng do bão và áp thấp nhiệt đới có thể làm đất đá bão hòa trên phạm vi lớn, dẫn tới hàng trăm, thậm chí hàng nghìn điểm trượt xuất hiện đồng thời.
Hai dạng mưa có khả năng kích hoạt trượt lở rõ rệt gồm: mưa cường độ rất lớn trong thời gian ngắn và mưa kéo dài nhiều ngày với lượng tích lũy lớn. Đây là cơ sở quan trọng để xây dựng các ngưỡng mưa phục vụ dự báo và cảnh báo sớm.
Kết quả nghiên cứu cho thấy, trượt lở không chỉ gia tăng về tần suất mà còn mở rộng phạm vi ảnh hưởng và mức độ thiệt hại trong những năm gần đây.
Đáng chú ý, các trận trượt lở hàng loạt trên diện rộng xuất hiện ngày càng phổ biến với hàng trăm đến hàng nghìn điểm trượt phát sinh đồng thời chỉ trong thời gian ngắn.
Ở những khu vực chịu tác động mạnh của mưa cực đoan, mật độ điểm trượt có thể đạt hàng chục, thậm chí hơn 100 điểm trên mỗi km².
Qua phân tích dữ liệu của hơn 20 trận trượt lở lớn tại Việt Nam từ năm 2009 đến nay, nhóm nghiên cứu đã nhận diện và làm rõ cơ chế của các loại hình trượt lở chủ yếu.
Nghiên cứu đã làm sáng tỏ đặc điểm và điều kiện hình thành của một số loại hình còn chưa được nhận diện tốt ở Việt Nam như sạt đất đá (debris avalanche), trượt đá cứng (hard-rock slide), trượt đá nửa cứng (weak-rock slide) và trượt chảy dẻo (earth flow).
Kết quả cho thấy, sạt đất đá là loại hình xuất hiện phổ biến nhất trong các trận trượt lở gần đây. Trên cơ sở các kết quả thu được, nhóm đã đề xuất phân loại trượt lở ở Việt Nam theo hệ thống phân loại quốc tế, tạo cơ sở khoa học cho nghiên cứu, đánh giá nguy cơ và phân vùng rủi ro trượt lở tại các địa phương.
Mô hình mô phỏng trượt lở trong điều kiện mưa cực đoan
Bên cạnh khảo sát thực địa, nhóm nghiên cứu đã ứng dụng mô hình máy tính LS -RAPID để tái hiện quá trình phát sinh và lan truyền của các khối trượt do mưa lớn tại dốc Tả Mò (Tuyên Quang) và Trà Leng (Đà Nẵng).
Kết quả mô phỏng phù hợp với các dấu vết và số liệu thực tế, giúp làm rõ cơ chế trượt lở cũng như đánh giá chính xác hơn phạm vi tác động của dòng đất đá. Phương pháp này mở ra khả năng dự báo các kịch bản trượt lở trong tương lai, góp phần nâng cao hiệu quả phòng ngừa và giảm thiểu thiệt hại do thiên tai.
Trên cơ sở nhận diện các loại hình trượt lở do mưa cực đoan, nhóm đã đề xuất hệ thống giải pháp ứng phó theo hướng tổng hợp, ưu tiên các giải pháp phi công trình.
Các nhà nghiên cứu cho rằng, sự xuất hiện ngày càng nhiều của các loại hình trượt lở nguy hiểm đòi hỏi cách tiếp cận mới trong đánh giá nguy cơ và quản lý rủi ro thiên tai.
Theo đó, các giải pháp cần được triển khai đồng bộ từ đánh giá nguy cơ, quy hoạch dân cư, nâng cao năng lực dự báo và cảnh báo sớm đến tăng cường cảnh báo tại cộng đồng.
Nhóm nhấn mạnh việc xây dựng bản đồ nguy cơ trượt lở chi tiết, tích hợp đánh giá đa tai biến và phát triển hệ thống cảnh báo sớm dựa trên dữ liệu quan trắc, công nghệ GIS và trí tuệ nhân tạo.
Đáng chú ý, mô hình cảnh báo sớm cấp cơ sở được đề xuất theo hướng kết hợp giữa dữ liệu khoa học và quan sát tại chỗ. Người dân được hướng dẫn nhận diện các dấu hiệu bất thường như vết nứt, nước đổi màu hoặc chuyển động của đất đá, qua đó có thể chủ động sơ tán trước khi xảy ra trượt lở.
Hội đồng nghiệm thu cấp Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam đánh giá cao kết quả của đề tài.
Phát hiện đánh dấu lần đầu tiên loài này được ghi nhận tại khu vực sau hơn 25 năm, được công bố trên tạp chí khoa học Environmental DNA, dựa trên nghiên cứu của nhóm chuyên gia thuộc Trung tâm Minderoo OceanOmics, Đại học Tây Australia.
Các nhà nghiên cứu đã thu thập được ADN môi trường (eDNA) của loài mực khổng lồ Architeuthis dux khi khảo sát những hẻm núi ngầm sâu tới 4.500m ngoài khơi Ningaloo (Nyinggulu), Tây Australia.
Theo các nhà khoa học, eDNA là những mảnh vật chất di truyền mà sinh vật để lại trong môi trường xung quanh như da, chất nhầy hoặc chất thải. Phương pháp này cho phép phát hiện sự hiện diện của các loài động vật biển sâu vốn rất khó quan sát trực tiếp.
“Việc tìm thấy dấu vết của mực khổng lồ thực sự khơi gợi trí tưởng tượng của mọi người”, Tiến sỹ Georgia Nester, tác giả chính của nghiên cứu, cho biết.
Mực khổng lồ là một trong những sinh vật bí ẩn nhất đại dương. Cá thể lớn nhất từng được ghi nhận có thể dài tới khoảng 10m, tương đương chiều dài một chiếc xe buýt cỡ nhỏ.
Loài này cũng sở hữu đôi mắt lớn nhất trong thế giới động vật, kích thước của nó có thể tương đương một chiếc bánh pizza cỡ lớn.
Dù có kích thước đồ sộ, mực khổng lồ hiếm khi được ghi hình do sinh sống ở vùng biển sâu hàng trăm mét dưới mặt nước. Phần lớn hiểu biết của con người về loài vật này đến từ các xác chết dạt vào bờ hoặc mẫu vật mắc vào lưới đánh cá.
Theo nhóm nghiên cứu, đây là lần đầu tiên trong hơn 25 năm mực khổng lồ được ghi nhận tại vùng biển Tây Australia bằng phương pháp eDNA, đồng thời là vị trí xa nhất về phía bắc của loài A. dux từng được ghi nhận ở phía đông Ấn Độ Dương.
Tiến sỹ Lisa Kirkendale, phụ trách bộ sưu tập động vật thân mềm tại Bảo tàng Tây Australia, cho biết phát hiện này cho thấy hệ sinh thái biển sâu tại khu vực vẫn còn rất nhiều bí ẩn chưa được khám phá.
Trong chuyến khảo sát trên tàu nghiên cứu Falkor của Schmidt Ocean Institute, các nhà khoa học đã thu thập hơn 1.000 mẫu vật và phát hiện dấu vết của 226 loài sinh vật biển.
Ngoài mực khổng lồ, nhóm nghiên cứu còn phát hiện nhiều loài sinh vật biển sâu khác như cá nhà táng lùn, cá voi mỏ Cuvier, cá mập ngủ, lươn cusk không mặt và cá răng cưa mảnh mai. Một số mẫu vật có thể đại diện cho các loài hoàn toàn mới đối với khoa học.
“Có một lượng lớn đa dạng sinh học dưới đáy biển sâu mà chúng ta chỉ mới bắt đầu khám phá”, Tiến sỹ Nester nhận định.
Trên thực tế, mãi tới năm 2004 con người mới lần đầu tiên ghi hình được mực khổng lồ còn sống trong tự nhiên. Kể từ đó đến nay, các lần quan sát trực tiếp loài này vẫn rất hiếm.
Dù vậy, mực khổng lồ Architeuthis dux chưa phải động vật không xương sống lớn nhất thế giới. Danh hiệu này thường được nhắc tới cùng loài mực colossal Nam Cực (Mesonychoteuthis hamiltoni), chúng có thể nặng tới khoảng 500kg.
Năm 2025, các nhà khoa học lần đầu ghi hình được một cá thể mực colossal non còn sống trong môi trường biển sâu tự nhiên gần quần đảo Nam Sandwich, cách bán đảo Nam Cực khoảng 1.700km.
“Đây là một trong những quan sát thú vị nhất mà chúng tôi từng ghi nhận”, Giáo sư Kat Bolstad, chuyên gia nghiên cứu về mực tại Đại học Công nghệ Auckland (New Zealand), cho biết.
Theo các nhân viên kiểm lâm làm việc tại Khu bảo tồn hổ Bandhavgarh (bang Madhya Pradesh), họ đã nghe thấy tiếng gầm rú từ một trận chiến giữa những con hổ trưởng thành vào rạng sáng thứ hai (11/5).
Một đội tuần tra đã được cử đi để kiểm tra kỹ lưỡng khu vực và phát hiện xác chết của một con hổ trong rừng, trên cơ thể có nhiều vết thương nghiêm trọng, trong khi các bộ phận trên cơ thể vẫn còn nguyên vẹn.
Lực lượng kiểm lâm tiến hành điều tra nguyên nhân cái chết của con hổ và loại trừ khả năng con hổ bị bọn săn trộm bắn chết. Điều tra thêm cho thấy con hổ đã bị thiệt mạng sau một trận chiến tranh giành lãnh thổ với một con hổ đực khác.
Anupam Sahay, Giám đốc Khu bảo tồn hổ Bandhavgarh, cho biết con hổ bị chết là Pujari, một con hổ đực nổi tiếng to lớn và dũng mãnh trong khu vực. Con hổ này được 9 năm tuổi, độ tuổi sung mãn và mạnh mẽ nhất của loài hổ Bengal.
“Rõ ràng cái chết của Pujari bắt nguồn từ một trận chiến tranh giành lãnh thổ. Trên cơ thể của con vật có nhiều vết cắn, xương cổ bị gãy… cho thấy đây là một trận chiến khốc liệt”, Anupam Sahay bình luận.
Khi còn sống, Pujari đã thống trị một phạm vi rộng lớn trong khu bảo tồn Bandhavgarh. Con hổ này đã trải qua nhiều cuộc chiến mãnh liệt để bảo vệ lãnh thổ cũng như đàn con non của mình và chưa từng thất bại cho đến khi bị mất mạng.
Các nhân viên kiểm lâm nhận định thủ phạm giết chết Pujari là con hổ đực có tên D1, một trong những con hổ đực lớn nhất trong khu bảo tồn, đồng thời là đối thủ tranh giành lãnh thổ với Pujari trong suốt một năm qua.
D1 mới chỉ khoảng 7 năm tuổi nên trẻ và khỏe hơn so với Pujari, sở hữu ngoại hình to lớn không thua kém gì đối thủ.
Việc một con hổ lao vào cuộc chiến sống còn với đối thủ có kích thước và sức mạnh tương đương là điều không thường xuyên xảy ra, bởi lẽ hổ là loài sống và săn mồi đơn độc, do vậy nếu bị thương sau cuộc chiến, hổ sẽ gặp nhiều khó khăn trong việc đi săn.
Hiện các nhân viên kiểm lâm vẫn chưa rõ D1 đang ở đâu nên dự đoán con hổ này cũng đang phải chịu vết thương nghiêm trọng sau trận chiến. Có thể D1 đã phải rút sâu vào rừng để dưỡng thương, thậm chí không loại trừ khả năng con vật đã thiệt mạng sau cuộc chiến với đối thủ nặng ký.
Theo số liệu thống kê mới nhất của Ủy ban Bảo tồn Động vật hoang dã Ấn Độ, hiện tại có hơn 130 cá thể hổ đang sống tại Khu bảo tồn Bandhavgarh. Cái chết của “hổ vương” Pujari được xem là một sự mất mát lớn của Khu bảo tồn này và khiến nhiều người yêu thích động vật hoang dã cảm thấy tiếc nuối.
Ngày 28/5, tại Bangkok, Thái Lan, Bộ trưởng Bộ KH&CN Vũ Hải Quân đã có cuộc gặp với Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ Giáo dục Đại học, Khoa học, Nghiên cứu và Đổi mới sáng tạo Thái Lan Yodchanan Wongsawat nhằm trao đổi các định hướng thúc đẩy hợp tác khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo giữa hai nước.
Tại cuộc gặp, Bộ trưởng Vũ Hải Quân đánh giá cao tiềm lực khoa học, công nghệ của Thái Lan và cảm ơn phía bạn đã trao Công hàm xác nhận tiếp tục thực hiện Hiệp định hợp tác khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo giữa Chính phủ Việt Nam và Chính phủ Vương quốc Thái Lan.
Bộ trưởng cũng chia sẻ về các chiến lược lớn Việt Nam đang triển khai nhằm thúc đẩy phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, coi đây là động lực tăng trưởng mới của nền kinh tế.
Bộ trưởng nhấn mạnh hai bên cần tăng cường hợp tác giữa các trường đại học, viện nghiên cứu hai nước thông qua các chương trình nghiên cứu chung và đầu tư phòng thí nghiệm trong các lĩnh vực công nghệ mới.
Cùng với đó, Việt Nam và Thái Lan sẽ bắt đầu từ những dự án hợp tác cụ thể, thiết thực để tạo nền tảng cho các chương trình hợp tác lớn hơn trong tương lai.
Tại cuộc họp, hai bên cùng thống nhất tổ chức cuộc họp lần thứ nhất của Ủy ban hỗn hợp về hợp tác khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo Việt Nam - Thái Lan vào năm 2027 tại Thái Lan ở cấp Bộ trưởng.
Cuộc họp lần thứ hai dự kiến tổ chức tại Việt Nam vào năm 2029.
Hai nước sẽ thúc đẩy hợp tác trong các lĩnh vực công nghệ chiến lược như chip bán dẫn, công nghệ sinh học, công nghệ thực phẩm và hỗ trợ hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo.
Sáng cùng ngày, trước sự chứng kiến của lãnh đạo cấp cao hai nước, Bộ trưởng Bộ KH&CN Vũ Hải Quân đã trao đổi Công hàm (Ý định thư) với Giáo sư, Tiến sĩ Yodchanan Wongsawat, Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ Giáo dục Đại học, Khoa học, Nghiên cứu và Đổi mới sáng tạo Thái Lan (MHESI).
Công hàm của hai bên khẳng định cam kết tiếp tục triển khai Hiệp định hợp tác về Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo giữa Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ Vương quốc Thái Lan, được ký tại Bangkok ngày 17/8/2017.
Việc trao đổi Ý định thư lần này thể hiện quyết tâm của hai bên trong việc khôi phục và thúc đẩy triển khai hiệu quả Hiệp định, qua đó tạo nền tảng mở rộng hợp tác nghiên cứu, đổi mới sáng tạo và phát triển công nghệ giữa hai nước, mang lại lợi ích thiết thực cho cộng đồng nhà khoa học, doanh nghiệp và nhân dân Việt Nam - Thái Lan.
Đây cũng là hoạt động có ý nghĩa trong bối cảnh hai nước hướng tới kỷ niệm 50 năm thiết lập quan hệ ngoại giao (1976-2026), đồng thời góp phần cụ thể hóa quan hệ Đối tác Chiến lược Toàn diện Việt Nam - Thái Lan được nâng cấp vào tháng 5/2025.
Sáng 28/5, Thủ tướng Thái Lan Anutin Charnvirakul và Phu nhân đã chủ trì lễ đón trọng thể Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và Phu nhân cùng Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam tại Tòa nhà Chính phủ Thái Lan ở thủ đô Bangkok.
Ngay sau lễ đón, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và Thủ tướng Thái Lan Anutin Charnvirakul cùng đoàn đại biểu cấp cao hai nước tiến hành hội đàm.
Các hoạt động này diễn ra trong khuôn khổ chuyến thăm từ ngày 27/5 đến 29/5 của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đến Thái Lan. Chuyến thăm diễn ra đúng vào dịp hai nước đánh dấu 50 năm thiết lập quan hệ ngoại giao bắt đầu từ năm 1976.