Sáng ngày 1/7, Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD-ĐT) công bố kết quả điểm thi kì thi tốt nghiệp THPT 2026, đồng thời công bố phổ điểm theo 5 tổ hợp xét tuyển truyền thống (hay thường gọi là khối thi): A00 (Toán, Lý, Hóa), B00 (Toán, Hóa, Sinh), C00 (Văn, Sử, Địa), D01 (Toán, Văn, Tiếng Anh), A01 (Toán, Lý, Tiếng Anh). Đây là dữ liệu quan trọng để thí sinh tham khảo, cân nhắc trước khi đăng ký nguyện vọng xét tuyển vào các trường đại học, cao đẳng.
Phổ điểm khối A00 thi tốt nghiệp THPT năm 2026
Tổ hợp A00 năm 2026 có 175.241 thí sinh dự thi, tăng 13.041 thí sinh so với năm 2025. Điểm trung bình đạt 19,41, tăng 0,04 điểm so với năm trước (19,37), trong khi điểm trung vị đạt 19,75, tăng 0,5 điểm so với năm trước (19,25). Với đỉnh rơi vào khoảng 21,5-23 điểm.
Kỳ thi năm nay không ghi nhận bài thi 0 điểm, trong khi số bài đạt điểm tuyệt đối là 1.
Phổ điểm khối A01 thi tốt nghiệp THPT năm 2026
Tổ hợp A01 năm 2026 có 143.177 thí sinh dự thi, giảm 3.783 thí sinh so với năm 2025. Điểm trung bình đạt 18,41, giảm 0,46 điểm so với năm trước (18,87), trong khi điểm trung vị đạt 18,5, giảm 0,25 điểm so với năm trước (18,75). Với đỉnh rơi vào khoảng 18-19 điểm.
Kỳ thi năm nay không ghi nhận bài thi 0 điểm và đạt điểm tuyệt đối.
Phổ điểm khối B00 thi tốt nghiệp THPT năm 2026
Tổ hợp B00 năm 2026 có 47.200 thí sinh dự thi, tăng 2.236 thí sinh so với năm 2025. Điểm trung bình đạt 19,69, tăng 1,4 điểm so với năm trước (18,29), trong khi điểm trung vị đạt 19,95, cao hơn 1,95 điểm. Với đỉnh rơi vào khoảng 21-22 điểm.
Kỳ thi năm nay không ghi nhận bài thi 0 điểm, trong khi đó có 4 bài đạt điểm tuyệt đối.
Phổ điểm khối C00 thi tốt nghiệp THPT năm 2026
Tổ hợp C00 năm 2026 có 277,165 thí sinh dự thi, giảm 20.212 thí sinh so với năm 2025.
Điểm trung bình đạt 17,23, giảm 1,49 điểm so với năm trước (19,72), trong khi điểm trung vị đạt 17,25, giảm 2,6 điểm so với năm trước (19,85). Với đỉnh rơi vào khoảng 17-17,5 điểm. Kỳ thi năm nay không ghi nhận bài thi 0 điểm và đạt điểm tuyệt đối.
Phổ điểm khối D01 thi tốt nghiệp THPT năm 2026
Tổ hợp D01 năm 2026 có 330.523 thí sinh dự thi, giảm 20.131 thí sinh so với năm 2025.
Điểm trung bình đạt 19,01, tăng 0,43 điểm so với năm trước (18,58), trong khi điểm trung vị đạt 19, tăng 0,5 điểm so với năm trước (18,5). Với đỉnh rơi vào khoảng 18,5-19,5 điểm. Kỳ thi năm nay không ghi nhận bài thi 0 điểm và đạt điểm tuyệt đối.
Sau khi Bộ GD&ĐT công bố điểm thi, từ ngày 1 đến hết ngày 5/7, thí sinh có nhu cầu được nộp đơn phúc khảo tại nơi đăng ký dự thi. Công tác tổ chức phúc khảo bài thi hoàn thành chậm nhất ngày 20/7.
Ngày 23/5, trao đổi với Người Đưa Tin, ông Phan Thanh Hải, Giám đốc Sở Văn hoá và Thể thao Tp.Huế, cho biết, đề án "Huế - Kinh đô áo dài Việt Nam" có thể xem là một chiến lược văn hóa mang tính nền tảng, không chỉ đối với Huế mà còn với việc định vị áo dài Việt Nam trên trường quốc tế. Nếu trước đây áo dài thường được nhìn như một biểu tượng thời trang hay hình ảnh đại diện phụ nữ Việt Nam, thì nay Huế đang hướng tới cách tiếp cận sâu hơn, xem áo dài như một không gian văn hóa, một hệ giá trị sống và một phần của bản sắc dân tộc.
Theo ông Hải, vai trò lớn nhất của đề án là tạo ra một trung tâm hội tụ và lan tỏa các giá trị liên quan đến áo dài. Huế có lợi thế rất đặc biệt vì đây là nơi bảo lưu khá đầy đủ tiến trình lịch sử của áo dài từ thời chúa Nguyễn, triều Nguyễn đến hiện đại. Đồng thời, Huế cũng là nơi còn giữ được phong cách mặc áo dài mang tính chuẩn mực, thanh lịch và giàu chiều sâu văn hóa.
Đề án không chỉ dừng ở việc tổ chức lễ hội hay trình diễn, mà hướng tới xây dựng một hệ sinh thái văn hóa áo dài gồm: bảo tồn nghề may truyền thống, đào tạo thế hệ trẻ, phát triển công nghiệp sáng tạo, du lịch văn hóa, không gian trải nghiệm, bảo tàng áo dài, trình diễn nghệ thuật, truyền thông quốc tế và ngoại giao văn hóa.
"Trong bối cảnh Việt Nam đang thúc đẩy phát triển công nghiệp văn hóa theo tinh thần các nghị quyết mới của Trung ương, áo dài hoàn toàn có thể trở thành một "quyền lực mềm" rất mạnh. Và Huế, với vai trò 'Kinh đô áo dài', sẽ là nơi kết nối giữa truyền thống và sáng tạo, giữa di sản và kinh tế văn hóa, giữa bản sắc dân tộc và hội nhập quốc tế.
Có thể nói, nếu làm tốt, đề án này không chỉ nâng tầm áo dài Huế mà còn góp phần định vị thương hiệu văn hóa Việt Nam trong thế kỷ XXI. Quan điểm của Huế hiện nay là bảo tồn áo dài không phải đưa áo dài trở lại bảo tàng hay đóng khung trong quá khứ, mà phải làm cho áo dài tiếp tục sống trong đời sống hiện đại một cách tự nhiên, bền vững và có chiều sâu văn hóa", ông Hải nhấn mạnh.
Giám đốc Sở Văn hoá và Thể thao Tp.Huế khẳng định, chiến lược của thành phố là kết hợp hài hòa giữa bảo tồn nguyên gốc và khuyến khích sáng tạo thích ứng. Một mặt, Huế chú trọng phục dựng và bảo tồn các giá trị truyền thống như áo ngũ thân, kỹ thuật may thủ công, nghi thức mặc áo dài trong cung đình và dân gian, các chuẩn mực thẩm mỹ Huế. Thành phố đã phối hợp với nhiều nhà nghiên cứu, nghệ nhân và nhà thiết kế để tư liệu hóa, nghiên cứu sâu hơn về lịch sử và tri thức áo dài.
Chính vì vậy, việc "Tri thức May và Mặc áo dài Huế" được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ghi danh là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia là một dấu mốc rất quan trọng, nhưng đó mới chỉ là bước khởi đầu. Để tiến tới xây dựng hồ sơ trình UNESCO, điều kiện tiên quyết là phải chứng minh được sức sống thực sự của di sản trong cộng đồng. UNESCO hiện nay không chỉ quan tâm đến giá trị lịch sử hay tính độc đáo của di sản, mà đặc biệt chú trọng việc di sản ấy có còn được cộng đồng thực hành, trao truyền và thích ứng với đời sống đương đại hay không.
Giám đốc Sở Văn hoá và Thể thao Tp.Huế chia sẻ, trong trường hợp áo dài Huế, chúng ta có nhiều thuận lợi rất đặc biệt. Huế không chỉ là nơi lưu giữ nhiều hình thức áo dài truyền thống nhất, mà còn là không gian văn hóa - nơi áo dài vẫn hiện diện khá tự nhiên trong đời sống xã hội: Từ lễ hội, cưới hỏi, nghi lễ tôn giáo, trường học, công sở đến các hoạt động du lịch, nghệ thuật cộng đồng. Đây là yếu tố rất quan trọng để xây dựng một hồ sơ có chiều sâu và có tính thuyết phục quốc tế.
Bên cạnh đó, cần tiếp tục hệ thống hóa tri thức nghề may, kỹ thuật cắt may thủ công, nghệ thuật phối màu, cách mặc áo dài theo từng hoàn cảnh văn hóa Huế, đồng thời nhận diện đầy đủ vai trò của các nghệ nhân, nhà nghiên cứu, cộng đồng thực hành. Một hồ sơ UNESCO mạnh không thể chỉ dựa vào biểu tượng áo dài, mà phải cho thấy cả hệ sinh thái văn hóa xoay quanh nó.
Ngoài ra, cần có chiến lược dài hạn về tư liệu hóa, số hóa, giáo dục di sản và hợp tác quốc tế. Huế hiện có nhiều điều kiện thuận lợi để từng bước xây dựng hồ sơ theo hướng di sản sống, gắn với bản sắc đô thị di sản, thành phố festival và trung tâm văn hóa đặc sắc của Việt Nam.
Mặt khác, Huế cũng chủ trương đưa áo dài trở lại mạnh mẽ trong đời sống cộng đồng. Những năm gần đây, hình ảnh áo dài xuất hiện ngày càng nhiều trong trường học, công sở, lễ hội, du lịch, hoạt động nghệ thuật, thậm chí trong các không gian phố đi bộ hay sinh hoạt cộng đồng. Điều này rất quan trọng, bởi di sản chỉ thực sự sống khi cộng đồng thấy nó gần gũi và hữu ích.
"Thành phố cũng khuyến khích các nhà thiết kế sáng tạo trên nền tảng truyền thống, miễn là vẫn giữ được tinh thần văn hóa cốt lõi của áo dài Huế: Sự thanh lịch, kín đáo, hài hòa và tinh tế. Đây là cách tiếp cận phù hợp với tinh thần bảo tồn di sản hiện đại của UNESCO - tức là bảo tồn động, bảo tồn trong phát triển.
Tỉnh Đắk Lắk mới sau sáp nhập là sự hội tụ giữa "rừng và biển", giữa bản sắc văn hóa Tây Nguyên và văn hóa duyên hải. Hiện nay, tỉnh đang sở hữu hai sân bay là sân bay Buôn Ma Thuột và sân bay Tuy Hòa, đóng vai trò cửa ngõ hàng không quan trọng của khu vực Tây Nguyên và khu vực Duyên hải Nam Trung Bộ.
Thị trường du lịch có nhiều tiềm năng nhờ lợi thế về thiên nhiên, di sản, văn hoá song lại mang tính mùa vụ rõ rệt. Giai đoạn cao điểm tập trung vào các tháng đầu năm (từ tháng 1 đến tháng 3) và các tháng mùa hè (từ tháng 6 đến tháng 8) với thời tiết mùa khô, thuận lợi cho các hoạt động lễ hội. Giai đoạn thấp điểm tập trung vào các tháng còn lại (tháng 4,5) và các tháng mùa đông (từ tháng 9 đến tháng 12) do vào mùa mưa, nhu cầu du lịch sụt giảm mạnh.
Trao đổi với PV Người Đưa Tin, ông Nguyễn Tất Danh - Trưởng chi nhánh Vietnam Airlines tại Buôn Ma Thuột cho biết, với giai đoạn cao điểm, Vietnam Airlines tăng tần suất 64 chuyến/tuần. Ngược lại, giai đoạn thấp điểm, mặc dù hãng đã điều chỉnh tần suất xuống còn 35 chuyến/tuần nhưng lợi nhuận không cao.
"Trong bối cảnh giá nhiên liệu tăng cao và nguồn cung nhiên liệu hạn chế do ảnh hưởng của tình hình chiến sự tại Trung Đông, Vietnam Airlines phải đối mặt áp lực duy trì khai thác các đường bay này. Dù vậy, hãng vẫn nỗ lực triển khai các chương trình kích cầu nhằm đáp ứng nhu cầu đi lại tăng mạnh của du khách, người dân trong mùa hè 2026", ông Nguyễn Tất Danh nói.
Hiện nay, Vietnam Airlines đã tăng cường các chuyến bay: đường bay Hồ Chí Minh tăng từ 1 lên 2 chuyến/ngày (vào buổi sáng, buổi tối), đường bay đi Đà Nẵng 3 chuyến/tuần được tăng lên thành bay mỗi ngày, và đường bay Hà Nội cũng được tăng thêm tần suất.
Với Vietjet, hiện tại, đường bay Hà Nội - Tuy Hòa được khai thác đều đặn hàng ngày và đạt hiệu quả cao nhờ kết hợp các tour du lịch biển hoang sơ thu hút khách từ Hà Nội. Đến nay, Hãng hàng không Vietjet đã vận chuyển được 6 triệu lượt khách với 35.000 chuyến bay an toàn, đúng giờ đến Buôn Ma Thuột. Riêng đối với sân bay Tuy Hòa, hãng đã vận chuyển được 5 triệu khách, 9.000 chuyến bay.
Theo ông Trần Hoàng Linh, Giám đốc Văn phòng miền trung, Vietjet cho hay, để thu hút và giữ chân du khách lâu dài ngay cả trong giai đoạn thấp điểm, cần thiết phải có sự phối hợp giữa chính quyền địa phương, các doanh nghiệp và hãng hàng không để xây dựng các sản phẩm du lịch trọn gói (bao gồm phương tiện di chuyển, vé máy bay, điểm lưu trú và các dịch vụ cộng thêm).
Với những lợi thế sẵn có sau sáp nhập, Đắk Lắk "đủ sức" để trở thành điểm đến hấp dẫn của khu vực Tây Nguyên và Duyên hải Nam Trung Bộ. Theo ông Nguyễn Tất Danh - Trưởng chi nhánh Vietnam Airlines tại Buôn Ma Thuột, chính quyền địa phương và doanh nghiệp du lịch cần xây dựng, làm mới các gói sản phẩm kết hợp vé máy bay với tour du lịch, phối hợp tổ chức các sự kiện quảng bá điểm đến Đắk Lắk.
Đồng thời triển khai các chương trình kích cầu theo mùa, nhất là mùa thấp điểm, bằng chính sách ưu đãi vé máy bay, tour và dịch vụ lưu trú nhằm duy trì nguồn khách ổn định.
Với mong muốn của các công ty du lịch lữ hành về việc đưa khách quốc tế đến địa phương, đại diện Vietnam Airlines ghi nhận hiện tỉnh chưa có đường bay quốc tế trực tiếp. Tuy nhiên, hãng sẵn sàng phối hợp cùng cơ quan địa phương và các doanh nghiệp du lịch để tổ chức các chuyến bay thuê chuyến (charter), bước đầu giúp tìm kiếm những sản phẩm và tệp khách hàng phù hợp.
"Nếu quá trình thử nghiệm này thành công, Vietnam Airlines sẽ tiến hành mở các chuyến bay quốc tế thường lệ, với hy vọng phối hợp cùng Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Đắk Lắk mang đến một mùa hè du lịch thật sôi động"
Trao đổi với PV Người Đưa Tin, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Đắk Lắk, ông Đào Mỹ, cho hay, điểm nghẽn lớn nhất của du lịch Đắk Lắk hiện nay là chưa xây dựng được bản đồ điểm đến du lịch. Bản đồ điểm đến cần gắn liền với hệ sinh thái dịch vụ (ăn uống, lưu trú, vận tải) để du khách và doanh nghiệp lữ hành dễ dàng nắm bắt thông tin và lựa chọn.
Riêng đối với đường hàng không, các đơn vị lữ hành, lưu trú và vận tải hàng không cần ngồi lại, tính toán, chia sẻ lợi nhuận, hỗ trợ cho nhau để có giá phù hợp phục vụ du khách để du khách yên tâm đến Đắk Lắk du lịch, trải nghiệm, nghỉ dưỡng.
Theo đó, Nghị định quy định về dịch vụ hấp thụ và lưu giữ carbon của rừng, gồm đối tượng cung ứng, sử dụng dịch vụ, chi trả dịch vụ, xây dựng dự án carbon rừng, xác định kết quả giảm phát thải, cấp tín chỉ carbon rừng, trao đổi, chuyển nhượng kết quả giảm phát thải và tín chỉ carbon rừng.
Theo quy định, các cơ sở phát thải khí nhà kính được phân bổ hạn ngạch phát thải có thể chi trả để sử dụng dịch vụ hấp thụ và lưu giữ carbon của rừng nhằm bù trừ lượng phát thải vượt hạn ngạch. Ngoài ra, tổ chức, cá nhân trong nước có nhu cầu tự nguyện giảm phát thải khí nhà kính và tổ chức, cá nhân nước ngoài hoạt động hợp pháp tại Việt Nam cũng thuộc nhóm được sử dụng dịch vụ này.
Nghị định xác định kết quả giảm phát thải và tín chỉ carbon rừng là đối tượng có thể được trao đổi, chuyển nhượng. Trong đó, kết quả giảm phát thải khí nhà kính của rừng là lượng giảm phát thải hoặc tăng hấp thụ carbon của rừng so với mức tham chiếu. Tín chỉ carbon rừng được cấp theo tiêu chuẩn carbon rừng trong nước hoặc tiêu chuẩn quốc tế.
Việc chi trả dịch vụ hấp thụ và lưu giữ carbon của rừng được thực hiện theo hai hình thức gồm trực tiếp và gián tiếp. Với hình thức trực tiếp, bên sử dụng dịch vụ trả tiền cho bên cung ứng theo hợp đồng hoặc thông qua giao dịch trên sàn carbon. Với hình thức gián tiếp, việc chi trả được thực hiện thông qua Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng.
Mức chi trả được xác định theo đơn vị 1 tấn CO2 tương đương hoặc 1 tín chỉ carbon rừng. Giá mua bán, chuyển nhượng kết quả giảm phát thải và tín chỉ carbon rừng được thực hiện theo hợp đồng, đấu giá, giao dịch trên sàn carbon hoặc các hình thức phù hợp khác theo quy định pháp luật.
Đối tượng cung ứng dịch vụ gồm chủ rừng theo Luật Lâm nghiệp, UBND cấp xã và các tổ chức khác được Nhà nước giao trách nhiệm quản lý rừng. Nghị định cũng cho phép hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư là chủ rừng tham gia dự án carbon rừng theo tiêu chuẩn trong nước hoặc quốc tế.
Các chủ rừng có thể tự thực hiện dự án hoặc hợp tác, liên kết, ủy quyền cho tổ chức khác xây dựng dự án carbon rừng. Hồ sơ dự án phải có thông tin về diện tích rừng, loại rừng, hiện trạng rừng, hoạt động giảm phát thải dự kiến, lượng giảm phát thải hoặc tăng hấp thụ carbon dự kiến và phương án chia sẻ lợi ích giữa các bên tham gia.
Đối với các dự án có hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư tham gia, nghị định yêu cầu có cam kết tự nguyện tham gia dự án. Người tham gia phải cam kết thực hiện đúng quy định của dự án và cơ chế phân chia lợi ích từ carbon rừng theo phương án được phê duyệt.
Nguồn thu từ dịch vụ hấp thụ và lưu giữ carbon của rừng sau khi thực hiện nghĩa vụ tài chính được sử dụng cho hoạt động quản lý, bảo vệ và phát triển rừng theo quy định. Với hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư, số tiền thu được được quản lý và sử dụng theo quy định pháp luật hiện hành.
Nghị định cũng yêu cầu hoạt động cung ứng, sử dụng dịch vụ hấp thụ và lưu giữ carbon của rừng phải bảo đảm công khai, minh bạch, hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, chủ rừng và các bên liên quan; đồng thời phù hợp với cam kết quốc tế về giảm phát thải khí nhà kính mà Việt Nam tham gia.
Bộ Nông nghiệp và Môi trường được giao xây dựng tiêu chuẩn carbon rừng quốc gia, tổ chức xác nhận kết quả giảm phát thải và cấp tín chỉ carbon rừng. UBND cấp tỉnh chịu trách nhiệm tổ chức triển khai, kiểm tra và quản lý hoạt động liên quan tại địa phương.