Sau khi xem Mesdames Thanh Sắc, điều tôi suy nghĩ mãi không phải là phim hay hay dở theo nghĩa thông thường, mà là mình nên viết gì về một bộ phim xem xong gần như không để lại một “cú đánh” nào theo kiểu điện ảnh đại chúng? Không phải vì phim thiếu điện ảnh, trái lại, tôi nghĩ tham vọng lớn nhất của phim chính là xây dựng một thế giới điện ảnh có mỹ học riêng, đặt nặng không khí thời đại, bi kịch tâm lý và thân phận con người hơn là chạy theo tình tiết cao trào.
Cái khó của phim nằm ở đó: không cố làm đời sống trở nên kịch tính hơn đời sống, không biến mọi đau khổ thành những cảnh phô diễn, không ép người xem phải khóc, phải giật mình, phải phấn khích theo những chỗ đã được đánh dấu sẵn. Nó tiết chế để giữ lại gương mặt, ánh nhìn, nhịp thở, lời thoại và những khoảng lặng giữa các nhân vật.
Về mặt hình ảnh, phải nói Mesdames Thanh Sắc là một trong những phim Việt hiếm hoi gần đây cho tôi cảm giác có chủ ý mỹ học rõ rệt. Góc quay, màu sắc, ánh sáng, phục trang, âm thanh và cách dựng không khí đều được đặt trong một tổng thể khá nhất quán, không chỉ để làm đẹp bối cảnh Sài Gòn thập niên 1960, mà để tạo ra một thế giới vừa hoa lệ vừa mục rữa, vừa lộng lẫy vừa bất an, vừa có ánh đèn sân khấu vừa có bóng tối của quyền lực, dục vọng và thời cuộc.
Mọi thứ được điều tiết khá kỹ để người xem không bị cuốn vào sự phô trương của bối cảnh, mà trở về với biểu cảm trên mặt và lời thoại của nhân vật. Đây cũng là điều làm tôi bất ngờ nhất: thoại của phim có chất đến kinh ngạc so với mặt bằng chung phim Việt, vốn nhiều khi hoặc quá giải thích, hoặc quá kịch, hoặc quá vô tri, không giống cách con người thật sự nói khi họ đang yêu, đang đau, đang ghen, đang tính toán, đang giữ thể diện, đang cố che đi sự tan vỡ bên trong.
Cầm Thanh, qua diễn xuất của Thanh Hằng, không chỉ là một vũ nữ hay một người đàn bà trong một bi kịch tình ái. Tôi có cảm giác đâu đó có một phần đời của chính Hằng trong nhân vật ấy – một người phụ nữ đã đi qua ánh sáng sân khấu, biết rất rõ cái giá của nhan sắc, danh tiếng, sự thay thế, sự hết thời, sự cô đơn của một người từng được săn đón. Có những câu nói của Cầm Thanh nghe như nói về nghề, nhưng thật ra là nói về kiếp người. “Sóng sau xô sóng trước” không chỉ là quy luật của một vũ trường. Nó là quy luật của cuộc đời. Người ta bước lên, được tung hô, được yêu, được thèm muốn, được sử dụng, rồi một ngày nhận ra mình cũng có thể bị thay thế, bị bỏ lại, bị quên đi, như bất cứ ánh đèn nào sau đêm diễn.
>> ‘Tôi phát ngán vì ra rạp thấy 80% là phim kinh dị’
Điều làm tôi chú ý là phim không cố làm nhân vật thành thiện hay ác một cách dễ dãi. Madame Sắc không chỉ là người đàn bà quyền lực và tàn nhẫn. Cầm Thanh không chỉ là người đàn bà đáng thương. Bá Dũng cũng không chỉ là người đàn ông yếu đuối trong một cuộc tình tay ba. Mỗi người đều có phần đáng trách và phần đáng thương của họ. Mỗi người đều vừa là người gây khổ, vừa là người đang chịu khổ. Nhìn kỹ một chút, ta sẽ thấy con người thường không đi vào bi kịch bằng sự ác tuyệt đối, mà bằng những thiếu thốn rất người – thiếu yêu thương, thiếu tự do, thiếu một chỗ đứng, thiếu cảm giác được nhìn nhận, thiếu khả năng dừng lại trước khi làm tổn thương người khác và chính mình.
Có lẽ vì vậy mà câu hỏi sau cùng không còn là ai đúng, ai sai, ai đáng trách, ai đáng thương. Câu hỏi sau cùng là: nếu kể về cuộc đời ta, ta sẽ bắt đầu từ đâu? Từ lần đầu tiên ta biết mơ ước, hay từ lần đầu tiên ta biết mình khổ? Từ ngày ta bước lên một sân khấu nào đó của đời sống, hay từ ngày ta nhận ra sân khấu ấy không bao giờ thuộc về mình? Từ một lựa chọn mà ta tưởng là tự do, hay từ những điều kiện đã âm thầm đẩy ta đến lựa chọn đó? Rốt cuộc, có bao nhiêu điều trong đời thật sự do ta chọn? Ta chọn yêu một người, hay nỗi cô đơn trong ta đã chọn trước? Ta chọn đi theo vinh quang, hay mặc cảm bị bỏ lại đã đẩy ta đi? Ta chọn tha thứ, hay chỉ sau khi đã đi qua tận cùng oán hận, ta mới hiểu rằng không tha thứ thì chính mình cũng không còn đường sống?
Những người phụ nữ trong Mesdames Thanh Sắc tưởng mình đang đi trong ánh đèn, nhưng ánh đèn ấy được thắp lên bởi một thế giới do đàn ông, tiền bạc, bạo lực, chiến tranh và quyền lực ngầm dựng sẵn. Đời sống cho họ vài khoảnh khắc tưởng là tự do, nhưng phần lớn chỉ là những ngả rẽ hẹp giữa các hình thức mất tự do khác nhau.
Đặt câu chuyện trong Sài Gòn thập niên 1960, phim không chỉ kể chuyện vũ nữ, đánh ghen hay tình tay ba. Nếu xem kỹ, sẽ thấy những cài cắm về lịch sử và thời cuộc khá khéo. Một thành phố vừa hoa lệ vừa bất an, vừa có âm nhạc, vũ trường, khách sạn, kim cương, xe cộ, sắc đẹp, vừa có những thế lực ngầm, những đổi chác, những sợ hãi, những vết nứt của một thời đại. Thời cuộc trong phim không phải là phông nền trang trí. Nó là một áp lực. Nó đẩy con người vào những thế kẹt. Nó làm cho thân phận phụ nữ càng trở nên mong manh, vì giữa cơn chuyển động dữ dội của lịch sử, thân thể và nhan sắc của họ nhiều khi trở thành nơi người khác mặc cả, chiếm hữu, trừng phạt hoặc tiêu dùng.
Khi thời cuộc bình yên, con người có thể sống đơn giản hơn, ít nhất là trên bề mặt. Nhưng khi lịch sử trở nên tranh tối tranh sáng, khi mọi giá trị bị đảo lộn, khi cái đẹp phải sống gần bạo lực, khi tình yêu phải đi qua nghi kỵ và mưu sinh, khi con người phải tự bảo vệ mình bằng những cách đôi khi làm hỏng chính mình, thì nội tâm không còn phẳng nữa.
Nó có nhiều tầng. Có tầng ham sống. Có tầng muốn được yêu. Có tầng muốn trả thù. Có tầng muốn quên. Có tầng vẫn muốn giữ lại một chút sạch trong, dù đời sống đã nhiều lần làm nó hoen ố.
Vì vậy, điều cuối cùng tôi giữ lại từ phim không phải là sự bi kịch, mà là câu hỏi về phần bổn tâm còn sót lại trong con người. Sau tất cả vinh quang, nhục nhã, yêu đương, phản bội, oán hận và trả giá, con người còn giữ được gì? Tiền bạc, sắc đẹp, danh tiếng rồi sẽ qua. Người từng yêu ta cũng có thể rời đi. Người từng nâng ta lên cũng có thể đẩy ta xuống. Những điều ta tưởng là đời mình nhiều khi chỉ là một đoạn vai mà cuộc đời bắt ta diễn.
Nhưng nếu sau tất cả, ta còn giữ được một chút thiện lương, một chút khả năng không biến nỗi đau của mình thành sự tàn nhẫn với người khác, một chút can đảm để tha thứ, thì có lẽ đó đã là phần giá trị cuối cùng của đời người.
Tôi đặc biệt thích cách phim chọn hình ảnh Đức Mẹ ở đoạn cuối. Chi tiết ấy, với tôi, không đơn thuần là một biểu tượng tôn giáo. Nó giống như một cánh cửa nhỏ mở ra sau quá nhiều bóng tối. Không phải cánh cửa để xóa sạch quá khứ, càng không phải để làm cho mọi tội lỗi và tổn thương trở nên nhẹ tênh. Nhưng hình ảnh Đức Mẹ đặt con người trở lại trước khả năng được thương xót, được buông xuống, được trả về một thứ tự do không còn nằm trong thắng thua. Có những nỗi đau nếu chỉ nhìn bằng công lý thì sẽ còn mãi đối đầu. Nhưng nếu có một ánh nhìn của lòng mẹ, của sự từ ái, của một thứ bao dung không đến từ yếu đuối mà đến từ chiều sâu, thì con người có thể thôi muốn kết thúc đời mình bằng oán hận.
Có những lúc con người cần được đặt xuống gánh nặng. Cần được phép mệt. Cần được phép yếu đuối. Cần được nhắc rằng dù đời sống đã đẩy mình đi xa đến đâu, vẫn còn một con đường trở về với phần thiện lương chưa hoàn toàn mất đi.
Bởi vậy, Mesdames Thanh Sắc không làm tôi ra khỏi rạp với cảm giác vừa xem một bộ phim thật “đã”. Nó làm tôi ra khỏi rạp với một khoảng lặng, không ồn ào, không cần chứng minh, không cần vội kết luận.
Phim có thể chưa hoàn hảo. Có những đoạn có thể chưa thật mượt, có những chỗ chưa đủ sức điện ảnh theo mong đợi của nhiều người. Nhưng phim gợi được một điều đáng nghĩ: trên nhân thế này, ai cũng đang đi tìm một chút vinh quang, một chút tình yêu, một chút chỗ đứng, một chút tự do; nhưng càng đi, ta càng thấy con người nhiều khi không thật sự được chọn số phận của mình.
Và vì không được chọn hết, nên có lẽ điều còn lại quan trọng nhất không phải là ta đã thắng được bao nhiêu, được yêu bao nhiêu, nổi tiếng bao nhiêu, hay giữ được bao nhiêu thứ trong tay?
Điều còn lại là sau tất cả, ta có còn đủ thiện lương để không trở thành một người quá tàn nhẫn hay không?
Kỷ niệm 20 năm ngày cưới, vợ chồng tôi mon men đi chụp ảnh kỷ niệm tại một studio của người quen. Sau khi nhận về tấm ảnh đã "photoshop hư hết vài con chuột máy tính", tấm ảnh kỷ niệm trong long lanh. Nhưng khi đem treo cạnh tấm ảnh cưới, tôi không còn nhận ra tôi nữa.
Ở độ tuổi U50, thời gian trôi qua, tất nhiên là tôi trông già hơn xưa, nhưng mái đầu hói do tóc lởm chởm vài cọng "trông phát chán". Chiều cao không biết có lùn đi hay không nhưng trực quan nhìn vào thì thấy bề ngang to ra - bụng bia.
Thời gian thật tàn nhẫn vì làm vạn vật đổi thay. Con người, tất nhiên phải già đi rồi, nhưng đằng đẵng năm tháng trôi qua, ngoại hình thay đổi là điều khách quan phải chấp nhận. Nhưng điều gì thế này? Tướng tá phát phì, bụng to sau những ngày tháng ăn nhậu, lười tập thể dục, tôi còn biết phải biện hộ gì nữa?
Tóc rụng, tóc hói có thể là do gen. Nhưng ai bảo chúng không bị bia rượu, thuốc lá làm "chất xúc tác" đẩy nhanh tiến trình?
Hội bạn của tôi, khi bước vào độ tuổi này, hầu như ai cũng rơi vào một hoặc cả hai tình trạng trên. Đến nỗi chúng tôi than thở với nhau tóc rụng, bụng bia đúng là combo hủy diệt nhan sắc đàn ông Việt độ tuổi 40 trở đi.
Điều đáng nói là trong công ty của tôi, vài thằng em mới 25-30 tuổi cũng đang đau khổ vì tóc rụng. "Tóc rụng từng mảng mỗi lần tắm", "Em phải dọn lỗ thoát nước nhà tắm mỗi ngày vì tóc rụng"... tôi gặp hàng tá thời than vãn như vậy, và chỉ các em ăn hà thủ ô, xài tinh dầu bưởi chống rụng tóc để cứu vãn mái tóc (dù chúng vô dụng với tôi, nhưng biết đâu lại hợp cơ địa với ai đó).
Ở một góc độ nào đó, chúng ta chấp nhận chuyện đàn ông trung niên xuống sắc như một lẽ tự nhiên, đến mức quên mất rằng rất nhiều trong số đó hoàn toàn có thể kiểm soát được.
Tóc rụng có thể là do di truyền, nhưng việc thiếu ngủ, stress kéo dài, bia rượu, thuốc lá - tất cả đều là những chất xúc tác khiến quá trình đó đến sớm hơn và nặng hơn. Bụng bia cũng vậy, không phải tự nhiên mà có. Nó là kết quả của năng lượng nạp vào nhiều hơn tiêu hao trong một thời gian dài, cộng thêm việc cơ thể ngày càng ít vận động.
Đến khi rơi vào tình trạng này, tôi mới phát hiện nhiều đàn ông sẵn sàng chi tiền triệu cho thực phẩm chức năng, dầu gội chống rụng tóc, nhưng lại không sẵn sàng dành 30 phút mỗi ngày để vận động.
Chúng ta tìm cách chữa ngọn vì nó dễ hơn rất nhiều so với việc thay đổi thói quen. Bạn có thể dùng sản phẩm hỗ trợ, có thể thử đủ loại mẹo dân gian, nhưng nếu vẫn giữ nguyên nhịp sống cũ như thức khuya, ăn nhậu, ít vận động thì mọi nỗ lực chỉ giống như tát nước ra khỏi một chiếc thuyền đang thủng.
Khi nhìn sang những người cùng độ tuổi nhưng giữ được phong độ thì thật đáng ghen tỵ và hối hận vì những năm tháng không quan tâm, chăm sóc bản thân.
Khắc
Tìm kiếm thông tin giá cả nhà, tôi hết sức bất ngờ khi thấy một căn hộ chung cư cũ 60 m2 tại Hà Nội hiện có thể được rao bán tới 6 tỷ đồng, tương đương khoảng 100 triệu đồng một m2.
Điều đáng nói là mức giá này đang được xem như "bình thường" trên thị trường.
Nhưng nếu tách cấu thành giá trị bất động sản một cách đơn giản, chúng ta sẽ thấy một nghịch lý rất lớn. Giả sử: Hệ số sử dụng đất của tòa nhà là 20, giá đất khu vực đã ở mức rất cao là 500 triệu đồng một m2.
Khi đó, căn hộ 60 m2 thực chất chỉ có khoảng 3 m2 đất, tức phần giá trị đất khoảng 1,5 tỷ đồng. Cần nhấn mạnh rằng "mức giá đất 500 triệu đồng một m2 này đã bao gồm gần như toàn bộ các yếu tố: Vị trí, hạ tầng, trung tâm đô thị, khả năng sinh lợi và đã định giá vượt rất xa giá trị thực".
Điều này đồng nghĩa trong mức giá 6 tỷ đồng, có tới khoảng 4,5 tỷ đồng đang được thị trường gán cho phần công trình xây dựng đã hơn chục năm tuổi. Tức là phần xây dựng cũ đang bị định giá tới khoảng: 75 triệu đồng một m2.
Theo tôi tìm hiểu, giá thành xây mới căn hộ cao cấp hiện nay thực tế chỉ khoảng 25 triệu đồng một m2, và theo logic khấu hao thông thường sau hơn chục năm sử dụng, công trình đáng lẽ chỉ còn chưa tới 60% giá trị xây mới. Nói cách khác: phần công trình đáng lẽ chỉ nên còn khoảng 12-15 triệu đồng một m2 giá trị thực, nhưng đang được giao dịch ở mức cao gấp nhiều lần.
Đây là một nghịch lý rất đáng suy nghĩ bởi xét về bản chất: Đất có thể tăng giá, nhưng công trình xây dựng vẫn là tài sản hao mòn. Một căn hộ sau chục năm năm sử dụng thì kết cấu đã lão hóa, hệ thống kỹ thuật xuống cấp, chi phí bảo trì tăng lên, tuổi thọ còn lại giảm dần.
Thế nhưng trên thị trường hiện nay, phần công trình cũ lại đang "té nước theo mưa" tăng giá. Phần tăng thực sự của giá đất đã vô tình che giấu đi thực tế rằng: bê tông đang cũ đi, công trình đang xuống cấp, và giá trị kỹ thuật thực của phần xây dựng lẽ ra phải giảm.
Hệ quả là người dân dễ mua tài sản cũ với giá quá cao, thị trường hình thành tâm lý "mọi căn hộ đều chỉ có tăng giá" và giá nhà ngày càng tách xa giá trị sử dụng thực tế.Điều nguy hiểm hơn là hiện tượng này đang vô tình kìm hãm sự phát triển của ngành xây dựng. Bởi vì nếu một căn hộ cũ vẫn được thị trường định giá phần xây dựng tới 75 triệu đồng một m2, trong khi xây mới hiện đại chỉ tốn khoảng 25 triệu đồng một m2 thì việc nắm giữ tài sản cũ có thể sinh lời dễ hơn rất nhiều so với đầu tư xây dựng mới.
Khi đó đổi mới công nghệ xây dựng không còn nhiều ý nghĩa, năng suất xây dựng khó phản ánh vào giá bán và nguồn lực xã hội dễ bị hút vào đầu cơ tài sản hơn là tạo ra giá trị mới.
Trong khi đó, ngành xây dựng là động lực phát triển kinh tế:
- Tạo việc làm.
-Thúc đẩy sản xuất vật liệu.
- Phát triển hạ tầng và nâng cao chất lượng sống đô thị.
Vì vậy, tôi cho rằng một trong những nút tháo gỡ quan trọng để kiểm soát giá nhà ở đô thị là phải "định giá đúng" các công trình cũ.
Cần phổ biến rộng rãi cho người dân hiểu rằng giá đất và giá trị công trình là hai thứ khác nhau. Đất có thể tăng giá, nhưng công trình xây dựng bị hao mòn theo thời gian.
Cơ quan chức năng cũng nên nghiên cứu xây dựng một ứng dụng định giá gần đúng cho người dân, dựa trên loại nhà, diện tích, số tầng, vị trí, giá đất giao dịch thực tế, thời gian công trình đã tồn tại để ước tính chất lượng còn lại, và đơn giá xây dựng mới hiện hành.
Ứng dụng này để người dân có cơ sở tính toán tham khảo trước khi giao dịch. Hiểu rõ phần nào là giá trị đất, phần nào là giá trị công trình để tránh mua tài sản cũ với mức giá bị đẩy lên quá xa giá trị thực.
Một thị trường bất động sản lành mạnh không thể chỉ dựa vào kỳ vọng giá tăng mãi. Nó cần phản ánh đúng giá trị sử dụng, đúng chất lượng công trình và khuyến khích tạo ra tài sản mới cho xã hội thay vì chỉ làm giàu cho tài sản cũ.
Người ta nói về giáo dục, đổi mới sáng tạo, khởi nghiệp công nghệ và tương lai của đất nước. Nhưng có một khía cạnh ít được nhắc đến hơn: Steve Jobs không chỉ là một doanh nhân công nghệ. Cuộc đời ông còn chịu ảnh hưởng sâu sắc từ hành trình tìm kiếm ý nghĩa cuộc sống, từ thiền định và những tư tưởng phương Đông.
Nếu muốn hiểu điều gì đã góp phần tạo nên Steve Jobs, có lẽ chúng ta cần nhìn xa hơn những lớp học, những công thức thành công hay những bài học khởi nghiệp.
Khi đề thi đặt câu hỏi "Làm thế nào để Việt Nam có Steve Jobs?", tôi nghĩ nhiều người sẽ lập tức liên tưởng đến giáo dục STEM, trí tuệ nhân tạo, đổi mới sáng tạo hay hệ sinh thái khởi nghiệp. Tất cả những yếu tố đó đều quan trọng.
Nhưng nếu nhìn vào cuộc đời Steve Jobs, ta sẽ thấy một câu chuyện phức tạp hơn rất nhiều. Steve Jobs không chỉ là một kỹ sư, ông cũng không chỉ là một doanh nhân.
Mà ông là sự kết hợp hiếm có giữa công nghệ, nghệ thuật, trực giác, khả năng kể chuyện, khả năng nhìn thấy những nhu cầu mà thị trường còn chưa nhận ra và một sự ám ảnh gần như cực đoan với cái đẹp.
Những điều đó không hoàn toàn được tạo ra trong lớp học. Chúng đến từ trải nghiệm sống, từ khả năng tự học, từ những thất bại, từ sự tò mò không ngừng và từ những cuộc tìm kiếm nội tâm kéo dài nhiều năm. Có lẽ vì thế mà thế giới có rất nhiều tỷ phú công nghệ, rất nhiều CEO xuất sắc, nhưng chỉ có một Steve Jobs.
Giáo dục có thể dạy những điều đó không? Khi đọc về cuộc đời ông, tôi có cảm giác rằng điều làm nên sự khác biệt không chỉ là trí thông minh hay năng lực công nghệ, mà đó còn là một hành trình dài đi tìm chính mình. Là khả năng quan sát tâm trí, là sự tập trung sâu sắc.
Có lẽ vì thế mà khi đề thi hỏi làm thế nào để Việt Nam có Steve Jobs, tôi lại nghĩ đến một câu hỏi khác:
Chúng ta đang dành rất nhiều thời gian để dạy người trẻ cách cạnh tranh với thế giới. Nhưng liệu chúng ta đã dành đủ thời gian để dạy họ hiểu chính mình hay chưa?