Sáng 30/6, Tòa án Quân sự Trung ương tiếp tục phiên tòa phúc thẩm xét xử vụ án sai phạm tại dự án sân bay Nha Trang (cũ, thuộc tỉnh Khánh Hoà), liên quan đến Tập đoàn Phúc Sơn và một số cựu cán bộ thuộc Bộ Quốc phòng, UBND tỉnh Khánh Hòa.
Sau phần trình bày của Nguyễn Văn Hậu – cựu Chủ tịch Tập đoàn Phúc Sơn, chủ tọa công bố nội dung kháng cáo của gần 400 người mua đất.
Theo tổng hợp của HĐXX, phần lớn người kháng cáo đều không đồng ý nhận tiền bồi thường, mà đề nghị được tiếp tục thực hiện các hợp đồng đã ký với Tập đoàn Phúc Sơn để nhận đất nếu dự án được tháo gỡ. Bởi theo họ: “1 tỷ đồng của năm 2018 sau 8 năm không thể vẫn là 1 tỷ đồng”.
Nhiều người cũng không đồng ý với việc cấp sơ thẩm xác định họ là bị hại, cho rằng mình chỉ là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan hoặc bên thứ ba ngay tình, bởi khi ký hợp đồng họ không bị lừa dối.
Theo quan điểm của các bị hại, số tiền họ góp vốn cũng không bị chiếm đoạt mà đã được doanh nghiệp sử dụng để triển khai dự án.
Một số kháng cáo đề nghị xem xét lại tội danh đối với Nguyễn Văn Hậu và hai người khác, đồng thời cho rằng chủ thể có trách nhiệm bồi thường phải là Công ty Phúc Sơn, thay vì cá nhân ông Hậu.
Các bị hại cũng đề nghị làm rõ toàn bộ dòng tiền hơn 7.000 tỷ đồng đã được sử dụng ra sao, xem xét kê biên tài sản của dự án để bảo đảm quyền lợi cho nhà đầu tư.
Trường hợp dự án không thể tiếp tục triển khai thì phải bồi thường theo giá đất thị trường hiện nay, cộng lãi suất phát sinh do doanh nghiệp chiếm dụng vốn trong nhiều năm, kháng cáo của bị hại nêu.
Đại diện một bị hại phát biểu tại tòa cho rằng hợp đồng được ký giữa khách hàng với Công ty Phúc Sơn, vì vậy nếu doanh nghiệp vi phạm nghĩa vụ hợp đồng thì chủ thể phải bồi thường trước hết là doanh nghiệp, không phải cá nhân Nguyễn Văn Hậu.
Theo bản án sơ thẩm, hiện đã có 2.148 bất động sản của Nguyễn Văn Hậu cùng nhiều tài sản khác bị kê biên để bảo đảm thi hành án.
Đáng chú ý, đại diện nhóm bị hại tiếp tục tranh luận về trách nhiệm hình sự của Nguyễn Văn Hậu và đề nghị HĐXX xem xét tăng hình phạt, thậm chí thay đổi tội danh đối với bị cáo này.
Đại diện cho 157 nhà đầu tư, ông Phạm Hùng cho biết đã ủy quyền để luật sư Hoàng Văn Hướng trình bày các quan điểm tranh luận tại phiên tòa. Luật sư Hướng cho rằng có căn cứ để đề nghị xem xét tăng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Nguyễn Văn Hậu.
Cụ thể, đây là vụ án có tính chất đặc biệt nghiêm trọng về kinh tế, với tổng số tiền liên quan hơn 7.000 tỷ đồng của các nhà đầu tư. Số lượng bị hại lớn, trong đó riêng nhóm bị hại có mặt tại phiên tòa đã hơn 600 người.
“Việc cấp sơ thẩm chỉ tuyên bị cáo Nguyễn Văn Hậu mức án 11 năm tù là chưa phù hợp với tính chất, mức độ, hậu quả và thiệt hại đặc biệt lớn của vụ án”, luật sư Hướng nêu quan điểm.
Tiếp tục tranh luận, một số bị hại cho rằng hành vi của bị cáo Nguyễn Văn Hậu cần được xem xét dưới góc độ khác.
Một bị hại mang mã số 335 đề nghị HĐXX hủy bản án sơ thẩm để xem xét lại tội danh đối với bị cáo Hậu, cho rằng hành vi của bị cáo có dấu hiệu của tội “Tham ô tài sản” thay vì “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Theo bị hại này, nếu xác định lại tội danh thì các nhà đầu tư không còn được xác định là bị hại mà trở thành người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; khi đó Tập đoàn Phúc Sơn mới là chủ thể bị thiệt hại, phù hợp hơn với bản chất vụ việc.
Một luật sư bảo vệ quyền lợi cho nhóm bị hại khác tiếp tục đưa ra quan điểm về dòng tiền trong vụ án. Theo luật sư, số tiền các nhà đầu tư nộp cho Tập đoàn Phúc Sơn hơn 7.000 tỷ đồng, trong đó bị cáo Nguyễn Văn Hậu sử dụng khoảng 3.000 tỷ đồng để thực hiện các dự án BT, còn hơn 3.000 tỷ đồng được đầu tư vào các dự án khác từ nhiều năm trước.
Một bị hại khác cũng đề nghị xem xét chuyển tội danh của bị cáo Hậu từ “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” sang “Tham ô tài sản”, đồng thời làm rõ thêm các hành vi có dấu hiệu “Vi phạm quy định về kế toán” và “Trốn thuế” để có mức xử lý tương xứng.
Tại phần xét hỏi, HĐXX yêu cầu bị cáo Nguyễn Văn Hậu làm rõ các bản án trước đó và phương án khắc phục hậu quả đối với các nhà đầu tư.
Trả lời câu hỏi của chủ tọa, bị cáo Hậu cho biết năm 2025 đã bị Tòa án nhân dân Tp.Hà Nội xét xử về 3 tội danh gồm: Vi phạm quy định về kế toán, Vi phạm quy định về đấu thầu và Đưa hối lộ, với tổng hình phạt 30 năm tù.
Về cam kết bồi thường cho các bị hại, bị cáo Hậu cho biết trước đó dự kiến cần 9 tháng để sắp xếp nguồn tiền, nhưng tại phiên tòa đã đưa ra phương án có thể hoàn tất trong 3 tháng.
Theo Hậu, một số bạn bè, đối tác sẵn sàng hỗ trợ nguồn lực trong vòng 90 ngày để bồi thường đầy đủ số tiền theo bản án.
“Tôi khẳng định 100%. Tôi muốn bảo đảm quyền lợi cho các nhà đầu tư nên phải thanh lý các dự án hiện tại. Tôi sẵn sàng mua lại các dự án đó, không tiếc gì cả”, bị cáo trình bày.
Bị cáo Hậu cũng cho rằng trong các thỏa thuận với khách hàng, mục tiêu của mình là bảo đảm quyền lợi cho nhà đầu tư. Tuy nhiên, do liên quan đến một vụ án khác, khoảng 1.500 tỷ đồng bị thất thoát và nhiều tài sản bị phong tỏa nên việc xử lý gặp khó khăn.
Bị cáo khẳng định không hưởng lợi từ các dự án này và mong muốn các nhà đầu tư tiếp tục đồng hành để cùng giải quyết quyền lợi.
“Nếu khách hàng không chia sẻ, tôi buộc phải tìm đối tác mới, khi đó quyền lợi của khách hàng có thể bị ảnh hưởng nhiều hơn”, bị cáo Hậu nói.
Trước phần trình bày của bị cáo Hậu, một số bị hại phản đối và cho rằng bị cáo không phải là người bị thiệt hại trong vụ án. “Việc đàm phán phải là với Công ty Phúc Sơn chứ không phải cá nhân ông Hậu”, bị hại nêu.
Đại diện Viện kiểm sát cho biết những nội dung bị cáo Nguyễn Văn Hậu trình bày cần được báo cáo lãnh đạo Viện để tiếp tục nghiên cứu.
Sau khi xem xét các ý kiến tranh luận, căn cứ Điều 289 Bộ luật Tố tụng hình sự, HĐXX nhận thấy còn nhiều tài liệu cần thu thập, xác minh cũng như các đề nghị của các bên cần được làm rõ.
Ngày 17/6, Công an tỉnh Lào Cai cho biết đang tạm giữ hình sự 4 đối tượng gồm: Trần Văn Khánh (SN 1983), Đỗ Trọng Cương (SN 1989), Hoàng Văn Nguyện (SN 1985, cả 3 cùng ở Lào Cai) và Tôn Võ Trung (SN 1989, quê Lai Châu), để làm rõ về hành vi mua bán, tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.
Trước đó, ngày 13/6, cảnh sát đột kích vào phòng ngủ tầng 3, số nhà 10 đường Đinh Bộ Lĩnh, tổ 20 phường Lào Cai, tỉnh Lào Cai (đây là nhà riêng của đối tượng Khánh) và bắt quả tang Khánh, Cương, Nguyện, đang có hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy dạng hồng phiến.
Theo cảnh sát, đây là các đối tượng từng có tiền án, tiền sự về ma túy, rất tinh vi, sử dụng nhiều thủ đoạn để che giấu hành vi phạm tội, liên tục thay đổi địa điểm, phương thức mua bán, sử dụng trái phép chất ma túy, gây khó khăn cho công tác phát hiện, bắt giữ, xử lý.
Tại hiện trường, cảnh sát đã thu giữ tang vật là 17 viên ma túy dạng hồng phiến và nhiều đồ vật, dụng cụ liên quan đến việc tổ chức sử dụng ma túy của các đối tượng.
Quá trình đấu tranh, 3 đối tượng trên khai nhận mua ma túy của Tôn Võ Trung (quê Lai Châu).
Tới ngày 14/6, Công an tỉnh Lào Cai thi hành lệnh khám xét khẩn cấp nơi ở của Tôn Võ Trung tại tỉnh Lai Châu. Tại hiện trường, cơ quan điều tra đã bắt quả tang Trung đang tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy ngay tại nhà.
Khám xét nơi ở của Trung, lực lượng chức năng thu giữ 15 viên ma túy hồng phiến có khối lượng 1,569 gam; 2 gói thuốc phiện có khối lượng 21,407 gam. Quá trình điều tra, Trung khai nhận đã nhiều lần bán ma túy cho Cương sử dụng.
Ngày 23/5, Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 3 cho biết đã phê chuẩn quyết định khởi tố ông Phạm Ngọc Dũng, Giám đốc Ban quản lý rừng phòng hộ Bắc Sông Hương cùng 7 bị can về tội Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ, theo Điều 356 Bộ luật Hình sự.
Theo điều tra, năm 2025, Ban quản lý rừng phòng hộ Bắc Sông Hương được giao triển khai 4 dự án trồng và chăm sóc rừng thay thế với tổng diện tích 210 ha, tổng vốn hơn 18,5 tỷ đồng từ Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng TP Huế quản lý.
Công ty Minh An trúng thầu toàn bộ 4 gói thi công. Tuy nhiên, dù quy trình kỹ thuật yêu cầu xử lý thực bì, bón lót phân và lấp hố trước khi trồng, các bên liên quan bị cáo buộc đã bỏ qua nhiều công đoạn bắt buộc.
Cơ quan điều tra xác định ông Phạm Ngọc Dũng cùng một số cán bộ Ban Quản lý rừng phòng hộ Bắc Sông Hương và lãnh đạo Công ty Minh An đã nghiệm thu khống, hợp thức hồ sơ để đề nghị giải ngân 70% kinh phí trồng rừng năm đầu. Sai phạm gây thiệt hại cho Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng TP Huế hơn 750 triệu đồng.
Trong khi người dân phải di dời khẩn cấp vì nguy cơ mất an toàn, dư luận đặt câu hỏi trách nhiệm đền bù, bồi thường thiệt hại cũng như trách nhiệm pháp lý là của ai?
Những ngày qua, khu vực xảy ra sự cố nói trên vẫn đang được phong tỏa, tạm dừng việc thi công để phục vụ công tác điều tra của cơ quan chức năng. Một số nhà tiếp giáp với công trình này đã phải khóa cửa và di chuyển chỗ ở.
Trước đó, vào chiều 19-4, chính quyền địa phương tiếp nhận phản ánh của người dân về việc tháo dỡ công trình (do Công ty CP Vinatex Đà Nẵng làm chủ đầu tư, Công ty TNHH thương mại và dịch vụ Đại Nguyên Nam thi công) ở số 25 Trần Quý Cáp đã làm nhà số 27 Trần Quý Cáp sập hoàn toàn và các nhà từ 29 - 33 bị hư hỏng, nứt tường.
UBND phường Hải Châu cho biết Công an TP đã phối hợp các cơ quan chuyên môn, chủ đầu tư, đơn vị thi công, các hộ dân có liên quan kiểm tra và lập biên bản khám nghiệm ghi nhận hiện trường.
Ngoài ra, cơ quan này cũng cho biết thêm là theo quy định hiện hành không có thủ tục cấp phép tháo dỡ công trình, tuy nhiên chủ đầu tư phải thực hiện phá dỡ theo phương án bảo đảm an toàn.
Cũng theo địa phương này, trước đó (ngày 6-4) UBND phường đã có văn bản nhắc nhở chủ đầu tư về việc che chắn, bảo đảm an toàn trong quá trình thi công...
Mới đây, lãnh đạo UBND phường Hải Châu đã có buổi tiếp công dân là các hộ dân bị ảnh hưởng bởi vụ phá dỡ công trình nêu trên.
Người dân đề nghị phường tiếp dân giải quyết kiến nghị khẩn cấp do công trình phá dỡ tại 25 Trần Quý Cáp không che chắn, không bố trí dàn giáo chống đỡ bảo vệ những công trình liền kề, đã làm sập một nhà dân và gây sụt lún trụ nhà, xé toạc ngang dọc các căn khác. Việc này ảnh hưởng nghiêm trọng đến an toàn tính mạng các hộ dân.
Người dân cũng đề nghị phường xem xét nhanh chóng giải quyết hậu quả do Công ty Vinatex gây ra. Các cơ quan có thẩm quyền phải thông báo công khai lộ trình xử lý trách nhiệm để người dân biết, yên tâm sinh sống.
"Phải đình chỉ thi công cho đến khi hoàn thiện việc đền bù thiệt hại thỏa đáng, khắc phục và hoàn trả nguyên trạng ban đầu trước khi sự cố xảy ra…" - đại diện một hộ dân nêu ý kiến.
Sau buổi làm việc, UBND phường Hải Châu đã kết luận nhiều nội dung, trong đó thống nhất cao việc bảo vệ quyền lợi của người dân. Đề nghị Công ty Vinatex có văn bản trả lời cho các hộ dân đúng thời gian cam kết.
Đồng thời, phường sẽ xử lý nghiêm đối với hành vi gây lún nứt, sụp đổ các công trình lân cận trong quá trình thi công, sau khi có kết quả của cơ quan công an chuyển về địa phương.
Phường cũng đề nghị các cơ quan chuyên môn khẩn trương xử lý và sớm có kết quả để giải quyết nhanh vụ việc; đề đạt nguyện vọng chính đáng của các hộ dân để đảm bảo người dân được yên tâm sinh sống…
Đề cập vấn đề trên, luật sư Trần Văn Hương (Đoàn luật sư TP Đà Nẵng) cho biết theo quy định của Luật Xây dựng, chủ đầu tư phải tiến hành (hoặc thuê tổ chức tư vấn có năng lực) thực hiện lập, thẩm tra thiết kế phương án, giải pháp phá dỡ công trình xây dựng và thực hiện thi công phá dỡ công trình xây dựng; chịu trách nhiệm trước pháp luật, bồi thường thiệt hại do lỗi của mình gây ra.
Nhà thầu thi công phải có trách nhiệm lập biện pháp thi công phá dỡ công trình phù hợp với phương án, giải pháp phá dỡ được phê duyệt; thực hiện thi công phá dỡ công trình theo đúng biện pháp thi công; theo dõi, quan trắc công trình; bảo đảm an toàn cho con người, tài sản, công trình và các công trình lân cận; chịu trách nhiệm trước pháp luật và bồi thường thiệt hại do lỗi của mình gây ra.
Theo Bộ luật Dân sự, chủ đầu tư, chủ sở hữu công trình, đơn vị thi công tùy các sai phạm cụ thể, có những hành vi trái luật xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của người dân thì phải có trách nhiệm phải bồi thường các thiệt hại.
Tại điều 589 của luật này, thiệt hại bồi thường được xác định sẽ bao gồm:
Tài sản bị mất, bị hủy hoại hoặc bị hư hỏng; lợi ích gắn liền với việc sử dụng, khai thác tài sản bị mất, bị giảm sút; chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế và khắc phục thiệt hại; thiệt hại khác do luật quy định. Việc giải quyết bồi thường thiệt hại có thể được các bên thương lượng, thỏa thuận với nhau.
Nếu không thỏa thuận được, người dân có thể khởi kiện ra tòa...