Đầu tháng 7, chị Phan Kiều Trinh, 40 tuổi, người con thứ tư của gia đình ông Phan Lồng, 87 tuổi, và bà Nguyễn Thị Hoa, 74 tuổi, hoàn thành 25 chương tự truyện ghi lại hành trình vượt khó của gia đình. “Tôi viết để con cháu hiểu về một thời cơ hàn, giúp chúng noi gương tiếp bước”, chị Trinh nói.
Ông Lồng kết hôn với bà Hoa năm 1977, sinh 8 người con, gồm ba trai, 5 gái. Gia đình ông thời bấy giờ được coi là nghèo nhất xóm. Để nuôi đàn con, ông làm đủ nghề, từ bán thuốc Tây dạo, lên rừng chặt củi. Bà Hoa ở nhà quanh năm trồng rau, gánh củi ra chợ bán.
Chị Trinh kể, tuổi thơ của 8 anh em ám ảnh với cái đói, bữa ăn thường chỉ có sắn lùn già cứng như củi, luộc lên phải dùng gậy đập mới tách được để chia nhau. Cơm trắng là món ăn hiếm hoi.
Cơm không đủ ăn nhưng ông Lồng không cho đứa con nào nghỉ học. “Các con nhất định phải học. Chỉ có học mới thay đổi được cuộc đời”, người cha nhắc đi nhắc lại câu nói ấy suốt mấy chục năm. Thấy nhà nghèo, nhiều người trong xóm khuyên ông bà cho con nghỉ học, ở nhà đi làm đỡ đần cha mẹ nhưng ông đều gạt đi.
Để dạy đàn con vào nếp không dễ. Mỗi tối sau bữa cơm, ông Lồng bắt tất cả các con ngồi vào bàn học. Người cha ngồi bên ngoài canh, hễ nghe tiếng xì xầm ông chỉ cần hắng giọng, không gian lập tức im lặng. Buổi sáng, đúng 4h lũ trẻ phải dậy khi nghe cha gọi. Ông lập quy định: mỗi tuần chỉ được sang nhà hàng xóm xem nhờ tivi một lần vào tối thứ 7; đi đâu phải xin phép; trong bữa ăn không nói chuyện và không để ruồi đậu vào thức ăn.
Khi các con lớn dần, ông giao nhiệm vụ đứa lớn kèm cặp em nhỏ. Dịp hè hay Tết, đứa lớn kiểm tra kiến thức đứa nhỏ. Môn nào em yếu, anh chị lại phụ đạo. Ai phạm lỗi đều bị ông Lồng phạt roi. Bà Hoa chọn cách im lặng để đồng nhất cách dạy, không để con ỷ lại.
“Cơm có thể thiếu nhưng mỗi khi gom góp được ít tiền, bố lại mua Magie, B6, dầu cá cho các con uống “để đầu óc sáng hơn”. Đến giờ tôi vẫn không thể quên được hình ảnh những chiều mưa bão, bố cầm áo mưa cũ đi bộ 2 km đón con đi học về”, chị Trinh kể.
Khi các con lớn, chi phí học tập đè nặng. Tuổi 60, ông Lồng vẫn vào vùng núi Phước Sơn gánh hàng thuê cho bãi vàng. Khi đôi chân không chịu nổi những cung đường dốc, ông xin xác nhận hộ nghèo để con được miễn giảm học phí.
Sự hy sinh của cha mẹ trở thành động lực cho 8 đứa con. Người anh cả Phan Học trở thành điểm tựa cho cả gia đình. Đến tận sau này, các em của anh vẫn thường nghe thầy cô kể lại câu chuyện anh nhiều lần dậy sớm đạp xe đi bán củi, đến lớp muộn không dám xin vào, cứ lén đứng ngoài cửa lớp để học bài.
Thầy Nguyễn Văn Năm, giáo viên trường THCS Quế Cường, kể từng nhiều lần đứng ra bảo lãnh cho gia đình nợ học phí để những đứa con của ông Lồng không bị đứt đoạn việc học. “Một bộ đồ, tập sách hay chiếc xe đạp cũ mấy anh em thay nhau dùng, nhưng ai cũng chăm học”, ông Năm kể. Giấy khen của 8 anh em dán kín căn nhà thủng ngói.
Năm 1996, anh cả Phan Học đỗ ĐH Bách khoa Đà Nẵng, mở đường cho 7 người em vào đại học, trong đó 5 người học ĐH Bách Khoa TP HCM. “Có lần giảng viên nhận nhầm đứa này với đứa kia, bảo sao bé sinh viên này ‘đúp hoài’ không tốt nghiệp”, chị Trinh kể.
Vừa đến giảng đường, các con ông Lồng vừa dạy thêm, bán hàng nông sản, thực phẩm quê nhà trên các diễn đàn mạng xã hội, đỡ gánh nặng cho cha mẹ. Ở nhà, vợ chồng già đi khắp nơi gom hàng gửi vào TP HCM cho con bán kiếm tiền học, sinh hoạt phí.
Đến nay, các con cháu của ông Lồng, bà Hoa có 9 bằng cử nhân, 6 bằng thạc sĩ, hai tiến sĩ, một người được phong hàm phó giáo sư. Người con cả Phan Học làm luận án tiến sĩ ngành điện tử – viễn thông ở Thụy Điển và nghiên cứu sau tiến sĩ tại Anh. Người con thứ hai Phan Văn Ca lấy bằng tiến sĩ tại Hàn Quốc, hiện là phó giáo sư. Con út Phan Thị Bích Thao tốt nghiệp hai ngành thạc sĩ tại Pháp.
Hiện tại, các con ông Lồng đều có cuộc sống ổn định, có người là giảng viên, chuyên gia, kỹ sư IT. Nhiều năm liền, gia đình được huyện Quế Sơn và UBND tỉnh Quảng Nam tặng danh hiệu “vượt khó nuôi dạy con thành tài”.
Khi cái nghèo lùi xa, ông Lồng mắc bệnh Alzheimer, không còn nhớ tên các con. Hiện tại, các con đón ông bà về phường An Khê, quận Thanh Khê, Đà Nẵng để phụng dưỡng. Căn nhà tạm bợ năm xưa ở quê giờ đã được xây mới kiên cố.
Tiếc nuối nhất của các con ông Lồng là cha không còn minh mẫn, nhưng bài học của ông khắc sâu trong họ. “Bây giờ, chúng tôi vẫn tiếp tục học hàng ngày, qua công việc, sách vở và những người xung quanh. Học tập giúp chúng tôi mở rộng tầm nhìn và trân trọng hơn sự hi sinh của cha mẹ”, tiến sĩ Phan Học, nói.
Những ngày qua, liên quan tới vụ việc nam thanh niên đá chết chó cưng của một gia đình ở chung cư tại Hải Phòng nhận được sự quan tâm của bạn đọc. Trong bài viết phản ánh của Dân trí, nhiều độc giả gửi bình luận thể hiện quan điểm riêng của mình trước sự việc này.
Qua tổng hợp ý kiến, có thể thấy dư luận chia thành nhiều góc nhìn khác nhau. Trong đó, 2 quan điểm chính là lên án hành vi bạo lực với động vật, nhưng cũng không ít người cho rằng, chủ nuôi cần chịu trách nhiệm ở trường hợp này khi để chó chạy tự do trong khu vực chung cư.
Một số độc giả cho rằng, dù ở bất kỳ hoàn cảnh này, việc dùng lực mạnh khiến con vật chết rồi bỏ đi, là hành động vô cảm.
Độc giả Trương Tuấn nhận định, không phải ai cũng yêu chó, nhưng cách hành xử với một con vật nhỏ phản ánh phần nào cách ứng xử của con người.
Trong khi đó, độc giả Lê Văn Ký cho rằng người có lòng trắc ẩn sẽ không chọn cách đối xử bạo lực với những sinh vật yếu thế hơn mình. Theo anh, nếu đặt mình vào vị trí của chủ nuôi thì sẽ hiểu được cảm giác đau xót khi chứng kiến thú cưng bị đối xử như vậy.
Một số ý kiến khác bày tỏ sự tiếc nuối trước cái chết của chú chó và mong cơ quan chức năng sớm làm rõ toàn bộ diễn biến sự việc.
Bên cạnh những bình luận bày tỏ sự thương cảm với chú chó, khá nhiều bạn đọc của Dân trí cho rằng, việc thả chó chạy tự do trong hành lang chung cư là không phù hợp.
Độc giả Trần Bình nhấn mạnh, khi đưa vật nuôi ra khu vực công cộng, chủ nuôi cần sử dụng dây dắt, rọ mõm (nếu thuộc trường hợp phải áp dụng) và kiểm soát vật nuôi để tránh ảnh hưởng đến người khác.
Độc giả Hoài An cho biết, bản thân từng có trải nghiệm hoặc chứng kiến người khác bị chó lao tới, cắn hoặc dọa cắn nên luôn có tâm lý e ngại khi gặp chó không được kiểm soát.
Không ít người cũng cho rằng việc nuôi thú cưng nhưng thiếu ý thức đã làm ảnh hưởng đến hình ảnh của cộng đồng những người yêu động vật.
Không chỉ gây tranh cãi về ý thức nuôi thú cưng, việc thả rông chó tại khu dân cư còn làm dấy lên lo ngại về nguy cơ lây truyền bệnh dại.
Chó thả rông bắt buộc phải rọ mõm
Với thông tin này, nhiều người dân sống tại các chung cư bày tỏ sự lo lắng và cho rằng ban quản lý chung cư cần thực hiện nghiêm việc nhắc nhở, yêu cầu chủ nuôi cần rọ mõm chó, sử dụng dây dắt khi đưa vật nuôi ra khu vực chung, tránh các trường hợp đáng tiếc xảy ra.
Trao đổi với phóng viên Dân trí, ông Thân Văn Thiện, đại diện ban quản lý tại một chung cư thuộc phường Yên Sở (Hà Nội) cho biết, hiện tình trạng người dân nuôi thú cưng như chó mèo ở chung cư rất nhiều.
Việc cư dân để chó cưng thả rông tại khu vực hành lang, không gian sinh hoạt chung tiềm ẩn nhiều nguy cơ mất an toàn, đồng thời vi phạm các quy định về quản lý vật nuôi tại chung cư.
Ban quản lý đã tăng cường tuyên truyền, nhắc nhở cư dân thông qua các nhóm liên lạc của tòa nhà và hệ thống thông báo nội bộ, yêu cầu chủ nuôi quản lý chặt vật nuôi khi đưa ra khu vực công cộng.
Tương tự, ông Nguyễn Ngọc Nguyện, trưởng ban vận hành, chung cư báo Nhân dân thuộc phường Xuân Phương (Hà Nội) khẳng định, đơn vị liên tục khuyến cáo cư dân sử dụng dây dắt, không để chó chạy tự do trong hành lang, thang máy và các không gian chung nhằm bảo đảm an toàn cho chính vật nuôi cũng như những người xung quanh.
Mỗi năm thế giới ghi nhận 59.000 người tử vong vì bệnh dại
Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), mỗi năm thế giới ghi nhận khoảng 59.000 người tử vong vì bệnh dại và hơn 10 triệu người phải tiêm vaccine dự phòng sau khi bị động vật nghi mắc bệnh cắn tại hơn 150 quốc gia. Đáng chú ý, khoảng 95% số ca tử vong xảy ra ở châu Phi và châu Á.
Đông Nam Á là điểm nóng của bệnh dại do lượng chó thả rông lớn, tỷ lệ tiêm phòng thấp, cùng với việc buôn bán thịt chó, mèo vẫn diễn ra. Trẻ em và người dân nông thôn chiếm tỷ lệ cao trong số ca tử vong.
Tại Việt Nam, bệnh dại vẫn là vấn đề y tế đáng lo ngại khi mỗi năm ghi nhận hàng chục trường hợp tử vong. Bên cạnh đó, khoảng 400.000 người phải điều trị dự phòng bằng vaccine và huyết thanh kháng dại sau khi bị chó, mèo cắn hoặc cào.
Các chuyên gia khuyến cáo chủ nuôi cần tiêm phòng đầy đủ cho vật nuôi, sử dụng dây dắt khi đưa chó ra nơi công cộng và không để chó thả rông, nhằm giảm nguy cơ tai nạn cũng như phòng ngừa bệnh dại cho cộng đồng.
Những ngày cuối Xuân, dưới chân dãy núi đá vôi của Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Luông, khi sương sớm còn chưa tan, trên mặt suối Khuyn,xã Cổ Lũng, Thanh Hóa, từng đàn vịt nối nhau bơi lững lờ. Tiếng vịt gọi nhau xen lẫn âm thanh róc rách của dòng suối tạo thành một "bản hòa âm" rất riêng của vùng cao Cổ Lũng.
Ngay bên suối, từng đàn bướm vàng đậu kín, thỉnh thoảng lại chấp chới bay lên mỗi khi đàn vịt lướt qua, khung cảnh huyền ảo như một bức tranh.
Ở đó, anh Lục Văn Nam (40 tuổi) bắt đầu ngày mới bằng việc lội suối, kiểm tra đàn vịt hàng nghìn con. Công việc lặp lại suốt hơn một thập kỷ, nhưng với anh, chưa khi nào là nhàm chán.
Sinh ra trong gia đình khó khăn ở bản Khuyn, Nam từng loay hoay tìm hướng đi sau khi tốt nghiệp trung cấp nông lâm. Anh thử nuôi nhiều loại vật nuôi, nhưng không bền. "Mình cứ đi theo cái người ta làm sẵn, nên dễ thất bại", anh kể.
Bước ngoặt đến khi anh nhìn lại chính thứ quen thuộc nhất của bản làng: giống vịt cổ của người Thái. Khi đó, mỗi nhà chỉ nuôi vài chục con, thả suối để cải thiện bữa ăn. Không ai nghĩ có thể phát triển thành hàng hóa.
Nam thì nghĩ khác. Anh nhận ra giống vịt này có thân hình đặc trưng: cổ rụt, thân bầu, chân ngắn, lông nâu xám như chim sẻ và một khoang trắng quanh cổ. Quan trọng hơn, thịt thơm, săn chắc nhờ được nuôi hoàn toàn trong môi trường tự nhiên.
"Nếu mình không làm, có khi vài năm nữa giống vịt này sẽ mai một", anh nói.
Năm 2014, Nam bắt đầu đi khắp các bản làng trong vùng để tìm giống thuần. Anh chọn từng con khỏe mạnh, nuôi thử, rồi tiếp tục chọn lọc qua nhiều lứa.
Không có giáo trình cụ thể, kỹ thuật chăn nuôi chủ yếu được đúc kết từ thực tế. Những kiến thức học được ở trường chỉ là nền tảng. Phần lớn kinh nghiệm đến từ những lần thất bại: vịt mắc bệnh, chết rải rác, hoặc chậm lớn.
"Nuôi ít thì dễ, nuôi hàng nghìn con mới thấy đủ thứ vấn đề", anh nói. Những bệnh như tụ huyết trùng, rụt mỏ, liệt chân… hiện nay cũng có khi xuất hiện, nhưng anh tìm cách khắc phục bằng việc tiêm phòng ngay từ khi còn nhỏ.
Đổi lại, dòng suối Khuyn lại là "lợi thế tự nhiên" hiếm có. Nước chảy quanh năm giúp đàn vịt vận động, ít bệnh, thịt săn chắc hơn so với nuôi nhốt.
Theo anh Nam, công việc chăn nuôi vịt đòi hỏi sự cần mẫn, đam mê và kiên trì. Bởi lẽ thị trường đầu ra thường biến động, không ổn định.
Hiện nay, Nam duy trì đàn khoảng 1.000 con, trong đó có 200 con bố mẹ, 300 con vịt thịt và khoảng 600 con vịt giống đang nuôi. Ngoài bán thịt, anh còn cung cấp con giống cho các hộ dân trong vùng.
Đầu ra chủ yếu là các nhà hàng, quán ăn, khu du lịch trong khu vực Pù Luông, cùng một phần đưa về trung tâm tỉnh Thanh Hóa và Hà Nội.
Tuy nhiên, đây không phải mô hình "hái ra tiền" nhanh chóng. Thời gian nuôi kéo dài ít nhất 3 tháng, chi phí cao, trong khi giá bán biến động. Là đặc sản, vịt Cổ Lũng có giá cao nên cũng kén khách.
"Giá cao thì khó bán, giá thấp thì không có lãi. Tôi phản cân nhắc kỹ lưỡng, nhiều lúc phải chấp nhận lãi ít để tiếp cận được khách hàng", Nam chia sẻ.
Mỗi năm, doanh thu của anh khoảng 300 triệu đồng – con số không quá lớn, nhưng đủ để anh sống ổn định ngay trên quê hương.
Không chỉ dừng lại ở câu chuyện cá nhân, Nam mong muốn mở rộng mô hình, liên kết với các hộ dân để cùng phát triển giống vịt bản địa.
Anh kỳ vọng sẽ tìm được đầu ra ổn định hơn, xây dựng thương hiệu để vịt Cổ Lũng được biết đến rộng rãi, từ đó giúp người dân có thêm sinh kế.
Giữa dòng suối Khuyn trong veo, anh Nam, sau hơn 12 năm, vẫn chọn ở lại cần mẫn với công việc tưởng chừng giản dị ấy.
"Nuôi vịt không giúp mình giàu nhanh", anh nói, mắt dõi theo đàn vịt đang tản ra theo dòng nước, "nhưng cho mình một cuộc sống ổn định và được làm việc bằng chính đam mê".
Đại diện UBND xã Cổ Lũng nhận định, anh Lục Văn Nam là thanh niên chăm chỉ và chịu khó. Mô hình nuôi vịt Cổ Lũng không chỉ giúp anh mở lối thoát nghèo tại địa phương, mà còn giúp bảo tồn giống vịt bản địa, là tấm gương cho bà con đồng bào DTTS trong hành trình phát triển kinh tế.
UBND xã cũng cho hay, vịt Cổ Lũng là giống bản địa quý, đã được bảo hộ chỉ dẫn địa lý và đạt chứng nhận OCOP 3 sao cấp tỉnh năm 2023.
Được biết, từ năm 2016, huyện Bá Thước cũ triển khai dự án phục hồi giống vịt này, hỗ trợ hàng chục nghìn con giống cho người dân.
Giữa tháng 4, những tia nắng bắt đầu làm ấm mặt đất và không khí báo hiệu mùa đông ở Ladakh sắp kết thúc. Dù vậy, sau một đêm đóng băng, nước trong đường ống ở nhà hàng của chị Thảo mới bắt đầu tan chảy. Người phụ nữ 38 tuổi cùng bốn nhân viên đứng cạnh đống chén bát, chờ từng giọt nước nhỏ xuống bồn rửa. Đến gần trưa, khi nhiệt độ tăng lên, nước mới chảy thành dòng.
Đây là khó khăn quen thuộc mà chị đối mặt trong ba năm Thái Thảo mở nhà hàng Việt ở Ladakh.
Chị Thảo là bà chủ ba homestay ở phường Sài Gòn, TP HCM. Năm 2018, chị lần đầu đến Ladakh, vùng đất nằm giữa hai dãy Himalaya và Karakoram, có độ cao trung bình hơn 3.500 m so với mực nước biển. Địa hình đặc thù khiến nơi này có khí hậu khắc nghiệt, mùa đông kéo dài từ tháng 10 đến tháng 5 năm sau với nhiệt độ có thể xuống âm 30 độ C.
Tuy nhiên, những dãy núi đá nhiều màu, hồ nước mặn và các tu viện cổ nằm giữa thung lũng phủ tuyết đã cuốn hút Thảo. Sự yên tĩnh của Ladakh khiến chị quay lại nơi này nhiều lần.
Trong những chuyến đi tour, chị nhận thấy nhiều du khách châu Á khó thích nghi với đồ ăn địa phương. Ẩm thực Ladakh đơn giản, người dân chủ yếu ăn các món đậu hầm nêm nhiều gia vị, dùng kèm bánh làm từ lúa mạch hoặc bột mì. Một lần mời người bản địa ăn thử bánh mì Việt Nam, Thảo bất ngờ khi họ tỏ ra thích thú. Ý định mở một nhà hàng Việt tại đây bắt đầu hình thành.
Năm 2022, chị Thảo quay lại Ladakh để thuê khu đất trống rộng khoảng 800 m2 ở trung tâm Leh, cách khu chợ khoảng 10 phút đi bộ. Khu đất có phía sau nhìn ra núi tuyết, phía trước là tuyến đường tập trung nhiều khách sạn và cửa hàng lưu niệm.
Quá trình xây dựng nhà hàng khó khăn hơn nhiều so với tưởng tượng của chị. Ở Ladakh gần như không có dịch vụ thi công trọn gói nên chị phải tự lo mọi khâu, từ mua gỗ, tìm xưởng cưa, thuê thợ đóng bàn ghế đến liên hệ người chở cát, đá và bê tông. Vật liệu khan hiếm, thợ làm theo từng công đoạn khiến một hạng mục nhỏ cũng mất vài ngày mới xong.
Làm việc quá sức giữa thời tiết khắc nghiệt, chị Thảo bị sốc độ cao nặng, phải nhập viện cấp cứu. Ở độ cao hơn 3.500 m, lượng oxy tại Ladakh thấp hơn đồng bằng khoảng 35%, dễ gây đau đầu và mất sức.
Cuối năm 2022, nhà hàng tên Sài Gòn BBQ and Hotpot in Ladakh hoàn thiện với sức chứa khoảng 60 khách, có cả không gian trong nhà và ngoài sân.
Xây xong nhà hàng, Thảo tiếp tục phải giải bài toán nguyên liệu. Mỗi bó rau hay miếng thịt ở Ladakh đều phải vượt núi, trải qua nhiều chặng bay và mất nhiều ngày mới tới nơi. Nhà hàng phục vụ khoảng 20 món Việt như phở, cơm, gỏi cuốn, lẩu, các món kho và canh. Để có đủ nguyên liệu, chị Thảo tự mang các loại gia vị, bánh tráng, nấm khô và mắm ruốc từ Việt Nam sang Ladakh. Thịt bò, thịt heo cùng sả, ớt Thái, nấm, xà lách và bắp tiếp tục được vận chuyển bằng đường hàng không từ Delhi lên.
Thực tế vận hành khó khăn hơn chị tính toán khi những chuyến bay liên tục bị hủy vì thời tiết xấu. Có lần, bão tuyết khiến chuyến hàng chở rau từ Delhi bị hoãn. Nhà hàng không còn đồ dự trữ, khi hàng đến nơi nhiều thứ đã hư hỏng. Xót tiền và công sức, chị Thảo ngồi giữa sân sau nhà hàng, mở từng thùng thực phẩm đang rã đông cố lựa lại những phần còn dùng được để vớt vát.
"Lúc đó tôi bế tắc và nghĩ đến chuyện bỏ cuộc", chị nói.
Nhưng vài ngày sau, một nhóm du khách Indonesia ghé quán ăn. Họ liên tục khen ngợi hương vị món Việt và hứa sẽ đến Việt Nam du lịch trong thời gian tới. Lời động viên bất ngờ giúp chị Thảo nguôi ngoai, tự an ủi bản thân và quyết định "cho mình thêm một cơ hội".
Đến khoảng tháng 5/2023, khi thời tiết ấm dần, chị thuê phụ nữ ở các làng gần đó trồng rau hữu cơ như cải bó xôi, cà rốt, khoai tây và bông cải giao cho nhà hàng mỗi sáng. Nhờ đó, nguồn cung nguyên liệu dần ổn định.
Dù vậy, nhà hàng của chị Thảo cũng chỉ mở cửa khoảng 6 đến 7 tháng, thường từ giữa tháng 3 đến giữa tháng 11. Vào giữa mùa đông Ladakh, chị đóng cửa về Việt Nam vì thời tiết khắc nghiệt, khách thưa và hệ thống nước thường xuyên đóng băng.
Dù vận hành theo mùa, chi phí đầu vào cao, lợi nhuận không như kỳ vọng nhưng sự đón nhận của khách với ẩm thực Việt là niềm vui lớn, động viên Thảo.
Trong số khách quen có anh Nurbo, 37 tuổi, sống ở làng Uley cách khoảng 80 km. Anh tình cờ biết đến nhà hàng nhưng sau lần ghé đầu tiên đã "mê mẩn" đồ ăn Việt và quay lại đều đặn suốt 3 năm. Anh nói ẩm thực Việt với các món như phở gà, chả giò, gỏi cuốn và lẩu có vị mặn, ngọt, cay hài hòa, khác với khẩu vị Ladakh vốn thiên về vị cay đơn thuần.
Từ khách, anh trở thành người bạn và chứng kiến quá trình chị Thảo xây dựng nhà hàng. Anh kể chị luôn cố gắng giữ hương vị nguyên bản của món Việt, trong đó có nước mắm đặc trưng và nước dùng thanh. Ban đầu, nhiều người thấy lạ, nhưng dần quen với cách nêm nếm này. Anh cũng cho biết với một số khách Ấn Độ, khẩu vị quen vị ngọt hơn nên việc điều chỉnh nhẹ trong món ăn giúp họ dễ tiếp nhận hơn.
Ở Ladakh, phần lớn khách là người trekking đường dài, bữa ăn thường chỉ xoay quanh sandwich hoặc đậu hầm để nhanh lấy lại sức. Khi nhà hàng Việt xuất hiện, thói quen đó thay đổi. Bữa ăn không vội vã mà trở thành khoảng thời gian ngồi lại, ví dụ như món lẩu.
"Cách ăn của người Việt khiến bữa ăn trở nên gắn kết hơn", anh nói.