Tại Khoa Ung bướu, Bệnh viện Đại học Y Hà Nội, bác sĩ Ngô Văn Tỵ phát hiện Hoa có khối u buồng trứng đường kính 20 cm. Sinh thiết trả về kết quả ung thư buồng trứng giai đoạn hai.
Hoa suy sụp, không tin mình mắc ung thư ở tuổi 19. Bác sĩ giải thích các kịch bản phẫu thuật. Nếu tế bào ác tính đã xâm lấn rộng, kíp mổ buộc cắt bỏ toàn bộ phần phụ để loại trừ mầm bệnh, đồng nghĩa cô mất khả năng mang thai. Nếu bệnh còn khu trú, các bác sĩ vẫn có thể áp dụng phẫu thuật bảo tồn sinh sản, giữ lại tử cung và một phần buồng trứng lành.
“Vậy con nên giữ tử cung hay giành lấy mạng sống?”, câu hỏi của Hoa ám ảnh bác sĩ Tỵ. Người mẹ ngồi bên nắm tay cô gái: “Không sinh được thì mình nhận con nuôi, miễn con còn sống”. Cuối cùng, thiếu nữ chọn lên bàn mổ.
Ca phẫu thuật lấy trọn khối u mà không xảy ra tai biến. Nhìn bệnh nhân nằm thiêm thiếp với ống truyền dịch cắm trên tay, bác sĩ Tỵ vẫn nặng lòng vì chặng điều trị phía trước còn dài.
Hoa nằm trong số ngày càng nhiều phụ nữ trẻ Việt Nam mắc ung thư phụ khoa. Theo GLOBOCAN 2022, mỗi năm cả nước ghi nhận khoảng 4.600 ca ung thư cổ tử cung mới và hơn 2.500 ca tử vong. Ung thư buồng trứng thêm khoảng 1.800 ca mắc mới và gần 1.100 ca tử vong. Phần lớn bệnh nhân đến viện khi bệnh đã sang giai đoạn muộn, khi khối u không còn phát tín hiệu rõ ràng, khiến tỷ lệ sống sau 5 năm tụt xuống dưới 30%.
Bác sĩ Tỵ nói điều khiến ông trăn trở là độ tuổi bệnh nhân trẻ dần. Với phụ nữ lớn tuổi, phác đồ hướng thẳng đến mục tiêu kéo dài sự sống. Nhưng với cô gái đôi mươi chưa lập gia đình, cắt tử cung và buồng trứng không dừng ở việc mất khả năng sinh con. Nó giáng một đòn kép lên cả cơ thể lẫn tâm lý.
Người trẻ đón nhận tin dữ theo cách dữ dội hơn. “Họ không nghĩ ung thư gõ cửa ở tuổi này, càng không khi gia đình không ai mắc bệnh”, bác sĩ Hà Hải Nam, Phó trưởng Khoa Ngoại 1, Bệnh viện K, nói.
Cảm giác tương lai đóng sập đẩy nhiều người vào trầm cảm, giận dữ, kiệt sức. Một nghiên cứu của Đại học Quốc gia Singapore công bố năm 2022, theo dõi hơn 20.000 bệnh nhân ung thư khởi phát khi còn trẻ, ghi nhận nhóm này mang nguy cơ trầm cảm và rối loạn lo âu cao hơn suốt phần đời còn lại, ngay cả khi ung thư đã lui bệnh.
Ở Việt Nam, sức ép còn đến từ định kiến. Nhiều người vẫn đóng khung giá trị người phụ nữ vào khả năng sinh con, buộc các cô gái mất thiên chức phải chuẩn bị tinh thần đối diện những lời bàn tán và nguy cơ đổ vỡ hôn nhân. Bác sĩ Nam cho rằng chính lối nghĩ này cần thay đổi, bởi giá trị một con người không nằm ở buồng trứng.
Trước những cú sốc đó, bác sĩ Nam thay đổi cách nói. Ông tránh các từ “ác tính”, “di căn”, “tiên lượng xấu”, chia thông tin thành nhiều lớp và dò theo phản ứng của bệnh nhân. Nguyên tắc duy nhất ông giữ là không giấu sự thật. “Càng giấu, người bệnh càng nghi ngờ. Đến khi vỡ lẽ, họ không còn tin bác sĩ nữa”, ông nói.
Vấn đề nằm ở chỗ ung thư buồng trứng gần như không có cách sàng lọc đại trà hiệu quả cho người khỏe mạnh, khác với ung thư cổ tử cung đã có xét nghiệm HPV và Pap smear. Vì thế bác sĩ khuyến cáo phụ nữ khám phụ khoa định kỳ mỗi 6 đến 12 tháng và đến viện ngay khi bụng to bất thường, đầy hơi kéo dài hay đau vùng chậu, những dấu hiệu Hoa từng nhầm là tăng cân. Phát hiện sớm mở ra cơ hội rất khác. Với ung thư cổ tử cung giai đoạn đầu, tỷ lệ sống sau 5 năm vượt 90%.
Hoa giờ bước vào những đợt hóa trị. Cô đánh đổi cơ hội làm mẹ để giữ lại mạng sống, đúng như lời người mẹ động viên trong phòng bệnh hôm ấy: “Miễn con còn sống”.
"Bệnh viện cơ sở 2 tại phía Tây Hà Nội giúp trẻ em và gia đình khu vực này dễ dàng tiếp cận với các dịch vụ y tế chất lượng cao, tiết kiệm thời gian, chi phí di chuyển, giảm áp lực cho cơ sở nội thành", PGS Trần Minh Điển, Giám đốc Bệnh viện, nói tại Lễ khai trương và chính thức đưa vào hoạt động Cơ sở 2 tại xã Kiều Phú, Hà Nội, hôm 1/6.
Bệnh viện Nhi Trung ương cơ sở 2 được triển khai theo quy hoạch chung xây dựng Thủ đô đến năm 2030, tầm nhìn 2050, đã được Thủ tướng phê duyệt từ năm 2011. Dự án được khởi công xây dựng từ năm 2023 trên diện tích gần 6 ha với tổng mức đầu tư hơn 880 tỷ đồng. Sau quá trình triển khai xây dựng, hoàn thiện cơ sở vật chất và các điều kiện hoạt động theo quy định, đến nay cơ sở 2 đã hoàn thành đầy đủ các điều kiện pháp lý, chuyên môn và nhân lực để chính thức đi vào hoạt động.
Trong giai đoạn đầu, cơ sở 2 có quy mô 300 giường bệnh nội trú, gồm 11 khoa lâm sàng cùng các đơn vị cận lâm sàng và chức năng cần thiết; có khả năng tiếp nhận từ 1.000 đến 1.500 lượt khám ngoại trú mỗi ngày. Cơ sở này tập trung vào các chuyên khoa có nhu cầu khám chữa bệnh lớn, góp phần giảm tải cho cơ sở chính, đồng thời tăng cường năng lực điều trị trong các lĩnh vực như Sơ sinh, Điều trị tích cực, Hô hấp, Bệnh nhiệt đới, Ung thư, Thần kinh, Miễn dịch - Dị ứng - Khớp và nhiều chuyên ngành nhi khoa chuyên sâu khác.
Ông Điển cho biết để bảo đảm chất lượng hoạt động ngay từ những ngày đầu vận hành, bệnh viện đã chuẩn bị đầy đủ nguồn nhân lực, hệ thống quản lý, quy trình chuyên môn, kỹ thuật và các điều kiện bảo đảm chất lượng. Quy trình khám chữa bệnh, xét nghiệm và điều trị tại cơ sở 2 được chuẩn hóa, thống nhất với cơ sở 1, bảo đảm mọi bệnh nhi đều được tiếp cận dịch vụ y tế chất lượng. Đội ngũ bác sĩ, điều dưỡng, kỹ thuật viên tại cơ sở 2 được bố trí theo kế hoạch chung của bệnh viện nhằm bảo đảm chất lượng chuyên môn và chất lượng phục vụ người bệnh.
Tại buổi lễ, Bộ trưởng Y tế Đào Hồng Lan đánh giá việc đưa cơ sở 2 vào hoạt động không chỉ góp phần giảm tải cho cơ sở chính mà còn mở ra một giai đoạn phát triển mới của bệnh viện trong thực hiện sứ mệnh chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khỏe trẻ em Việt Nam.
Với sự đầu tư đồng bộ về cơ sở vật chất, trang thiết bị, nguồn nhân lực và hệ thống quản lý chất lượng, cơ sở 2 được kỳ vọng sẽ góp phần nâng cao năng lực hệ thống nhi khoa quốc gia, để ngày càng có nhiều trẻ em được tiếp cận các dịch vụ y tế chất lượng cao, an toàn, hiện đại.
Ngày 16/6, Giám đốc Sở Y tế TP HCM Tăng Chí Thượng cho biết Nền tảng Sức khỏe cộng đồng của ngành y tế thành phố đã cập nhật dữ liệu sức khỏe 2.311.179 người dân. Trong đó, 2.180.245 hồ sơ là dữ liệu khám sức khỏe học sinh năm học 2025-2026, còn 130.934 hồ sơ thuộc người dân được khám sức khỏe từ đầu năm đến nay.
Đây là lần đầu tiên TP HCM xây dựng dữ liệu sức khỏe có hệ thống cho từng người dân trên nền tảng số, làm nền tảng hình thành hồ sơ sức khỏe điện tử toàn dân. Trước mắt, kết quả khám sức khỏe định kỳ sẽ được cập nhật lên hệ thống để mỗi người dân có dữ liệu sức khỏe ban đầu.
TP HCM hiện có 14 triệu dân. Hồ sơ sức khỏe điện tử của từng người dân sẽ tiếp tục được thành phố xây dựng và cập nhật về sau.
Về lâu dài, hồ sơ sức khỏe điện tử được kỳ vọng giúp người dân theo dõi tình trạng sức khỏe thuận tiện hơn thay vì lưu giữ giấy tờ rời rạc hoặc khai lại thông tin mỗi lần đi khám. Các dữ liệu như kết quả khám định kỳ, yếu tố nguy cơ, bệnh nền hay lịch sử khám chữa bệnh được cập nhật liên tục vào hồ sơ sức khỏe điện tử, hỗ trợ phát hiện sớm bệnh tật và chăm sóc sức khỏe chủ động hơn.
Dự kiến cuối năm 2026, khi kho dữ liệu của ngành y tế vận hành, hồ sơ sức khỏe điện tử sẽ được kết nối với hồ sơ bệnh án tại các cơ sở khám chữa bệnh. Khi đó, bác sĩ có thể tiếp cận thêm dữ liệu nền của người bệnh để đánh giá tình trạng sức khỏe toàn diện hơn, hạn chế bỏ sót nguy cơ và nâng cao hiệu quả điều trị.
Song song với việc xây dựng hồ sơ sức khỏe điện tử, ngày 15/6 Sở Y tế đưa vào hoạt động hệ thống Dashboard quản lý khám sức khỏe đến cấp phường, xã và đặc khu. Hệ thống cho phép lãnh đạo địa phương, trạm y tế theo dõi trực tuyến số người đã khám, tỷ lệ bao phủ, tình hình sức khỏe và tiến độ cập nhật hồ sơ sức khỏe điện tử theo thời gian thực.
Theo Sở Y tế, đưa Dashboard về tận cơ sở giúp địa phương chủ động hơn trong tổ chức khám sức khỏe, theo dõi tình trạng sức khỏe người dân theo địa bàn. Kế hoạch này cũng góp phần hiện thực hóa mục tiêu mỗi người dân TP HCM có một hồ sơ sức khỏe điện tử.
Hiện các xã phường An Nhơn Tây, Bà Điểm, Tân Tạo, Hiệp Phước, Thạnh An, Tân Nhựt, Tăng Nhơn Phú, Hưng Long, Bắc Tân Uyên ghi nhận nhiều người tham gia chương trình khám sức khỏe toàn dân. Tuy nhiên một số nơi vẫn chưa cập nhật đầy đủ dữ liệu lên hệ thống, dẫn đến số liệu thực tế cao hơn ghi nhận trên phần mềm.
Ngày 8.4, theo thông tin từ Bệnh viện đa khoa thành phố Cần Thơ, các bác sĩ Khoa Ngoại Lồng ngực vừa can thiệp kịp thời bảo tồn chân trái cho một bệnh nhân bị đau chân kéo dài do bệnh lý động mạch chi dưới nặng có nguy cơ hoại tử và cưa chân.
Trước đó, bệnh nhân Ng.V.Đ (70 tuổi, quê ở An Giang) nhập viện trong tình trạng loét gót chân dần mở rộng, lâu lành, cẳng bàn chân trái đau dai dẳng kéo dài hơn 3 tháng cùng nhiều bệnh lý nền như tăng huyết áp, tiểu đường…
Qua thăm khám lâm sàng, các bác sĩ ghi nhận động mạch đùi, động mạch khoeo và động mạch dưới gối chân bên trái của bệnh nhân không bắt được. Kết quả siêu âm Doppler mạch máu chi dưới ghi nhận tắc động mạch chậu bên trái, mất phổ 3 pha động mạch đùi, khoeo chân trái. Bệnh nhân được chụp cắt lớp vi tính mạch máu chi dưới (CTA) để đánh giá cụ thể và chính xác hơn tình trạng bệnh lý mạch máu, vị trí tắc nghẽn, mức độ tổn thương mạch máu.
Kết quả cho thấy bệnh nhân bị tắc động mạch chậu bên trái, tắc 1/3 giữa động mạch đùi bên trái và xơ vữa rải rác các động mạch chi dưới khác.
Bệnh nhân được chỉ định can thiệp nội mạch để kịp thời tái thông các mạch máu bị tắc gồm động mạch chậu và động mạch đùi nông bên trái.
Quá trình can thiệp, bệnh nhân được nong bóng và đặt 1 stent 06 x 58 mm vào động mạch chậu trái và nong bóng động mạch đùi bên trái. Sau can thiệp, tình trạng của bệnh nhân được cải thiện rõ, chân ấm, giảm đau chân và tiếp tục điều trị nội khoa.
Theo bác sĩ chuyên khoa 2 Nguyễn Văn Trang, Trưởng khoa Ngoại Lồng ngực, việc can thiệp kịp thời không chỉ giúp bệnh nhân giữ lại chân trái mà còn ngăn chặn nguy cơ hoại tử và phải cắt cụt chi. Với chân còn lại, bác sĩ đã xây dựng kế hoạch theo dõi, thăm khám định kỳ chặt chẽ nhằm phòng ngừa các biến chứng nguy hiểm.
Cũng theo bác sĩ Nguyễn Văn Trang, bệnh động mạch chi dưới là tình trạng các động mạch, từ động mạch chủ bụng đến hệ mạch ở chân, bị hẹp, làm giảm lưu lượng máu nuôi cơ, da và thần kinh ở vùng phía dưới. Nếu không được phát hiện và điều trị sớm, bệnh có thể tiến triển gây teo cơ, loét, hoại tử chi, lan dần từ ngọn đến gốc, thậm chí buộc phải cắt cụt chi.
Hiện nay, phương pháp can thiệp nội mạch cho hiệu quả tương đương phẫu thuật bắc cầu, đặc biệt với các tổn thương trên gối. So với phẫu thuật, kỹ thuật này có nhiều ưu điểm như chỉ cần gây tê tại chỗ, tránh mổ lớn và giúp người bệnh phục hồi nhanh, có thể sinh hoạt bình thường sau 24 - 48 giờ.