Trong nhiều lĩnh vực sản xuất, Việt Nam đã chứng minh khả năng tạo ra những sản phẩm đạt tiêu chuẩn quốc tế. Từ điện tử, cơ khí chính xác đến dệt may, nhiều doanh nghiệp Việt Nam đang tham gia vào chuỗi cung ứng toàn cầu nhờ áp dụng quy trình công nghệ, tiêu chuẩn kỹ thuật và hệ thống kiểm soát chất lượng nghiêm ngặt.
Một sản phẩm muốn đạt chuẩn quốc tế không thể chỉ dựa vào việc chọn được một vài nguyên liệu tốt hay một vài công nhân giỏi. Doanh nghiệp phải xây dựng cả một quy trình: tiêu chuẩn đầu vào, kiểm soát từng công đoạn, đo lường chất lượng và liên tục cải tiến.
Vậy tại sao trong thể thao, chúng ta vẫn còn phụ thuộc nhiều vào việc phát hiện các thần đồng có tài năng đặc biệt mà chưa xây dựng một hệ thống tiêu chuẩn phát triển vận động viên?
Bóng đá là ví dụ rõ nhất. Hiện nay, một cầu thủ trẻ nổi bật ở một giải đấu thiếu niên có thể nhanh chóng nhận được sự chú ý lớn từ truyền thông và người hâm mộ. Nhưng thành tích ở bóng đá trẻ không phải lúc nào cũng phản ánh khả năng trở thành cầu thủ chuyên nghiệp trong tương lai. Nhiều cầu thủ từng được kỳ vọng rất lớn sau đó không thể phát triển như mong muốn do thể lực chưa đáp ứng, chấn thương hoặc không thích nghi được với cường độ bóng đá chuyên nghiệp.
Vấn đề không nằm ở việc chúng ta thiếu tài năng, mà là cách chúng ta đánh giá và phát triển những tài năng đó. Một nền bóng đá muốn tiến đến World Cup không thể chỉ hy vọng tìm được một vài cầu thủ xuất sắc. Một đội tuyển quốc gia chỉ có khoảng 23 cầu thủ, nhưng để tạo ra 23 cầu thủ đẳng cấp quốc tế, cần một hệ thống đào tạo có khả năng phát triển hàng nghìn cầu thủ trẻ theo đúng hướng.
>> Thực tế phũ phàng cho Ronaldo
Việt Nam cần xây dựng một bộ tiêu chuẩn phát triển cầu thủ theo từng độ tuổi, từ U10, U12, U14, U16, U18 đến U21. Bộ tiêu chuẩn này cần dựa trên dữ liệu khoa học, tham khảo từ những nền bóng đá hàng đầu thế giới, bao gồm các nhóm chỉ số:
Thể lực: sức bền, tốc độ, khả năng tăng tốc, sức mạnh, khả năng lặp lại các pha nước rút, khả năng hồi phục.
Kỹ thuật: khả năng kiểm soát bóng, chuyền bóng, xử lý trong không gian hẹp, thi đấu dưới áp lực.
Tư duy chiến thuật: khả năng đọc trận đấu, ra quyết định, thích nghi với hệ thống chiến thuật.
Tâm lý thi đấu: sự ổn định, khả năng chịu áp lực và tinh thần cạnh tranh.
Điều quan trọng là những tiêu chuẩn này không nên chỉ dùng để loại bỏ cầu thủ, mà phải trở thành mục tiêu để cả hệ thống cùng hướng tới. Một cầu thủ 14 tuổi nếu chưa đạt chuẩn về tốc độ hoặc sức mạnh không có nghĩa là không có tương lai. Điều quan trọng là hệ thống phải biết em đang thiếu gì và cần một chương trình phát triển như thế nào để cải thiện trong 2-3 năm tiếp theo.
Khi công bố rõ ràng các tiêu chuẩn, cả xã hội sẽ có chung một mục tiêu. Gia đình biết cần quan tâm đến dinh dưỡng và vận động của trẻ ra sao. Nhà trường biết cần phát triển thể chất cho học sinh như thế nào. Các học viện biết cần xây dựng giáo án theo hướng nào. Bản thân cầu thủ trẻ cũng biết mình cần nỗ lực ở đâu.
Một nền bóng đá mạnh không chỉ được tạo nên bởi những cầu thủ có kỹ thuật tốt, mà còn bởi một môi trường nơi tốc độ, thể lực và trình độ chuyên môn của hàng nghìn cầu thủ cùng được nâng lên. Khi nhiều đội bóng cùng có những cầu thủ đạt chuẩn cao từ nhỏ, tốc độ thi đấu ở các giải trẻ sẽ tự nhiên tăng lên. Các cầu thủ buộc phải xử lý bóng nhanh hơn, tư duy nhanh hơn và thích nghi với cường độ cao hơn. Chính môi trường cạnh tranh đó sẽ tạo ra thế hệ cầu thủ tốt hơn.
Cách làm này không chỉ áp dụng cho bóng đá. Các môn thể thao khác cũng cần một hệ thống tiêu chuẩn phát triển vận động viên theo từng giai đoạn tuổi. Muốn có vận động viên đẳng cấp thế giới ở tuổi trưởng thành, cần xây dựng nền tảng chuẩn quốc tế ngay từ tuổi thiếu niên. Không thể chờ đến khi một vận động viên bước vào đội tuyển mới bắt đầu cải thiện những yếu tố căn bản.
Thay vì chỉ tìm kiếm những cá nhân xuất chúng, hãy xây dựng một hệ thống có khả năng tạo ra nhiều vận động viên đạt chuẩn quốc tế. Khi mỗi lứa tuổi có hàng trăm vận động viên được đào tạo theo chuẩn cao, thành tích quốc tế sẽ không còn là điều phụ thuộc vào may mắn hay một thế hệ tài năng hiếm có, mà trở thành kết quả tất yếu của một quy trình phát triển đúng đắn.
Xây dựng những “tiêu chuẩn thế giới” ngay từ hôm nay cho bóng đá trẻ thì tương lai Việt Nam sẽ là đội bóng thường xuyên được dự World Cup chứ không phải chỉ là hy vọng và mơ ước.
"Năm 2009, khi đang sống ở đường Phan Văn Trị, Gò Vấp, nhận mình thấy đường sá chật chội, đi lại quá vất vả, dân cư lại đông đúc, nên gia đình tôi quyết định chuyển về Quận 2 sống. Hồi đó, nhiều người bảo tôi dại khi là không chọn ở trung tâm mà ra ngoại thành sống, khu toàn cỏ với đồng. Vậy mà chỉ sau 10 năm thì khu rìa Quận 2, Quận 9 cũ cũng đông đúc dân cư. Tuy nhiên, ở đây, tôi đi lại vẫn dễ chịu hơn các khu trung tâm và nội thành.
Tôi vẫn thấy quyết định chuyển nhà của mình ngày đó là hoàn toàn đúng đắn. Bây giờ, mỗi lần đi tới sân bay Tân Sơn Nhất, Quận 1, Quận 3, Quận 7 hay đi về miền Tây, miền Đông, dù phải di chuyển quãng đường xa hơn, nhưng tôi vẫn thấy thuận tiện hơn nhiều".
Đó là chia sẻ của độc giả Trang về quyết định chuyển nhà từ trung tâm ra vùng ven TP HCM trong bối cảnh khu vực nội đô ngày càng ngột ngạt. Theo Sở Xây dựng, riêng khu vực TP HCM cũ có hơn 1.500 chung cư cùng hàng loạt tổ hợp nhà ở, thương mại, văn phòng tập trung ở nội thành. Nhiều tuyến đường phải gánh lượng dân cư vượt xa thời điểm quy hoạch ban đầu. Thành phố hiện còn 22 điểm ùn tắc kéo dài. Tỷ lệ đất dành cho giao thông mới đạt khoảng 15% diện tích đô thị, thấp hơn đáng kể so với mục tiêu 20-25% theo quy hoạch.
Thành phố định hướng hạn chế phát triển thêm chung cư cao tầng ở trung tâm và các nơi đông dân cư, thay vào đó mở rộng không gian đô thị ra các khu vực ngoại vi gắn với đầu tư hạ tầng kết nối. Những khu đất có vị trí thuận lợi, có khả năng phát triển thành công viên sẽ được ưu tiên dành cho không gian công cộng.
>> 40 tuổi vẫn ở thuê vì tiếc 1,2 tỷ mua nhà Sài Gòn
Ủng hộ TP HCM kiểm soát phát triển cao tầng tại khu vực trung tâm, bạn đọc Gacib.oark bình luận "Tôi ở Gò Vấp từ nhỏ nhưng cuối cùng vẫn phải chạy ra khỏi nội đô vì chịu không nổi. Ngày hai buổi trần ai trên con đường từ nhà ở đường Nguyễn Thái Sơn lên Quận 1 làm việc khiến tôi kiệt sức. Có cảm giác thành phố càng cố xóa kẹt xe thì tình hình càng trở nên nghiêm trọng, nhất là khu vực qua công viên Gia Định. Thật khó tin khi con đường nhỏ nhưng lại mọc lên một loạt chung cư mấy chục tầng".
Là một người lựa chọn rời bỏ khu vực trung tâm TP HCM vì quá chật chội, độc giả Kthdtsd kể lại: "Nội đô kẹt xe, khói bụi lại thêm cao ốc mọc lên san sát thế này thì bảo sao chất lượng sống giảm sút. Nhà tôi cũng quyết định chuyển ra một đại đô thị vùng ven được hơn một năm nay và thấy đây là quyết định sáng suốt nhất. Bước chân ra khỏi nhà là có công viên, cây xanh, không khí thoáng đãng, con cái có không gian chạy nhảy an toàn... Trong khi đó, hạ tầng kết nối bây giờ rất tốt, tiện ích trường học, bệnh viện, siêu thị chẳng thiếu thứ gì. Vậy tội gì phải cố bám trụ trong lõi nội đô ngột ngạt cho khổ?".
"Nhiều người cứ sợ đi xa tốn thời gian, nhưng thực tế kẹt xe 5 km trong nội đô mất 45 phút, trong khi đi 15-20 km từ đại đô thị vùng ven qua các trục lộ lớn, đại lộ cũng chỉ mất ngần ấy thời gian. Cái khác biệt là một bên là 45 phút hít khói bụi, ức chế thần kinh; còn một bên là lái xe thông thoáng, tâm lý thoải mái. Nội đô quá tải hạ tầng rồi, giãn dân ra vùng ven là bài toán cứu cánh cho sức khỏe cả thể chất lẫn tinh thần", bạn đọc Vete nói thêm.
Từ ngày 15/5, Thông tư 19/2026/TT-BGDĐT chính thức có hiệu lực, siết chặt quản lý để chống ép buộc dạy thêm. Câu chuyện này lại trở thành chủ đề nóng trong các nhóm phụ huynh và giáo viên. Nhân đây, tôi cũng muốn kể lại hồi ức về việc học thêm của mình - một cựu học sinh đã ngót nghét 40 tuổi.
Ngày tôi học cấp 1, cấp 2, học thêm chưa bao giờ là một "phong trào" rầm rộ. Khi đó, việc học thêm do chính nhà trường tổ chức. Thầy cô dành thời gian này để ôn lại kiến thức cho các bạn yếu và mở rộng một số dạng bài nâng cao cho những bạn khá hơn. Thực chất, kiến thức buổi học thêm không khác biệt quá nhiều so với trên lớp, chỉ là chúng tôi được củng cố lại "kỹ" hơn.
Nếu tiết Toán trên lớp chỉ đủ thời gian làm hai bài tập ví dụ, thì buổi học thêm thầy cô cho làm năm bài để học sinh hiểu sâu, nhớ lâu. Học Văn cũng vậy, chúng tôi được thực hành viết ngay tại lớp học thêm để cô sửa trực tiếp, không có chuyện "đóng sách lại là quên" như những tiết học vội vã. Tuyệt nhiên, không bao giờ có chuyện bạn nào đi học thêm mới làm được bài kiểm tra.
>> Dạy chính khóa 'thiếu chất' nên phải có học thêm cho 'đủ chất'
Ngày ấy, thầy dạy thêm của tôi chính là thầy đứng lớp hàng ngày. Phòng học là lớp học cũ tận dụng lúc trống tiết. Chi phí vì thế rất nhẹ nhàng, không khiến cha mẹ phải chắt bóp tính toán. Thậm chí, những bạn có hoàn cảnh khó khăn còn được thầy cô miễn phí hoàn toàn. Cách quản lý khi ấy đơn giản mà đúng quy chuẩn, không ai phải coi học thêm là vấn đề nan giải, không trẻ con nào phải áp lực giờ giấc ngược xuôi.
Nhìn lại ngày nay, tôi thấy xót xa khi chứng kiến các con mình nháo nhác "chạy show" học thêm. Lũ trẻ phải căn từng phút để kịp di chuyển giữa lớp học chính và trung tâm phụ đạo. Vì nhà trường không được tổ chức, chi phí thuê mặt bằng, vận hành trung tâm đều đổ dồn lên vai phụ huynh. Đáng buồn hơn, có những nơi kiến thức trọng tâm chỉ được dạy tại lớp học thêm, khiến đứa trẻ nào không theo thì khó lòng đạt điểm tốt.
Nhìn các con học từ sáng đến chiều, tối lại lao vào guồng quay bổ trợ, những bậc làm cha làm mẹ như tôi thực sự bất lực. Hy vọng rằng việc học chính hay học thêm đều ngày một "tiến" theo đúng nghĩa của nó: học để lấy kiến thức, chứ không phải học vì nỗi lo sợ bị bỏ lại phía sau.
Chín tháng trước, tôi cũng giống như hàng nghìn sinh viên khác bước ra khỏi cổng trường đại học với rất nhiều hy vọng. Sau bốn năm học tập, ai cũng nghĩ rằng tấm bằng đại học sẽ mở ra cánh cửa nghề nghiệp ổn định, ít nhất là một công việc đúng chuyên ngành, có cơ hội phát triển và đủ để tự nuôi sống bản thân.
May mắn hơn nhiều bạn bè đồng trang lứa, tôi tìm được một công việc khá ổn định ở một công ty chỉ sau vài tháng tốt nghiệp. Thu nhập chưa phải quá cao nhưng đủ để tôi trang trải cuộc sống ở thành phố, phụ giúp gia đình đôi chút và quan trọng nhất là có cảm giác mình đang đi đúng hướng.
Nhưng không phải ai cũng có được sự may mắn đó. Một người bạn thân của tôi tốt nghiệp ngành Quản trị kinh doanh cùng thời điểm với tôi. Khi còn học đại học, cậu ấy là người năng động, tham gia câu lạc bộ, từng làm thêm nhiều công việc liên quan đến bán hàng và Marketing. Chúng tôi đều nghĩ rằng sau khi ra trường, cậu ấy sẽ dễ dàng vào làm ở một công ty lớn với vị trí nhân viên kinh doanh hoặc quản trị dự án.
Thế nhưng, gần một năm trôi qua, điều cậu ấy nhận được không phải là thư mời từ các doanh nghiệp lớn mà là hàng chục email từ chối tuyển dụng, hoặc im lặng sau những buổi phỏng vấn. Hiện tại, bạn tôi đang kiếm sống bằng công việc bán hàng tại một cửa hàng siêu thị mini gần nhà.
>> Tôi về nước làm lễ tân lương 8 triệu sau 5 năm du học
Tôi không xem thường công việc bán hàng, nhưng sự đối lập quá lớn giữa những gì mình từng kỳ vọng và thực tế đang diễn ra khiến tôi không khỏi suy nghĩ. Một người học đại học bốn năm, mang trong tay tấm bằng cử nhân Quản trị kinh doanh, cuối cùng lại đứng tính tiền từng chai nước ngọt, từng gói mì và làm việc hơn 10 tiếng mỗi ngày trong một cửa hàng nhỏ, liệu có xứng đáng không?
Có lần, tôi ghé qua chỗ làm của bạn vào buổi tối, thấy cậu đang ngồi ghi sổ hàng hóa, phía sau là những kệ bánh kẹo và mì gói chất đầy. Nhìn bạn mình trong bộ đồng phục nhân viên bán hàng, tôi chợt thấy chạnh lòng cho một thế hệ trẻ đang phải vật lộn giữa lý tưởng học tập và thực tế khắc nghiệt của thị trường lao động.
Bạn tôi kể đã nộp hồ sơ vào rất nhiều công ty. Có nơi yêu cầu kinh nghiệm tối thiểu một đến hai năm dù tuyển vị trí dành cho sinh viên mới ra trường. Có nơi phỏng vấn nhiều vòng rồi cuối cùng chọn người "phù hợp hơn". Có công ty đăng tuyển liên tục nhưng thực chất mức lương quá thấp hoặc môi trường làm việc thiếu ổn định.
Sau nhiều tháng thất nghiệp, bạn tôi buộc phải tìm việc làm thêm để có thu nhập. Ban đầu chỉ định làm tạm vài tháng, nhưng rồi thời gian cứ kéo dài vì chưa xin được việc chuyên môn. Vẫn biết lao động chân chính luôn đáng trân trọng. Nhưng vấn đề nằm ở chỗ rất nhiều sinh viên đang rơi vào tình trạng học một đằng nhưng cuộc sống lại đẩy họ sang một hướng khác hoàn toàn.
Xã hội vẫn thường nói đại học là con đường ngắn nhất để đổi đời. Nhưng thực tế bây giờ phức tạp hơn rất nhiều. Số lượng cử nhân ra trường mỗi năm ngày càng lớn trong khi nhu cầu tuyển dụng không tăng tương ứng. Nhiều ngành học đào tạo theo lý thuyết nhiều hơn thực hành khiến sinh viên thiếu kỹ năng thực tế. Không ít người cầm bằng đại học nhưng loay hoay không biết mình thực sự giỏi điều gì?
Trước đây, rất nhiều người chọn ngành Quản trị kinh doanh vì nghĩ đây là ngành "an toàn", dễ xin việc và phù hợp với nhiều lĩnh vực. Nhưng cũng vì quá phổ biến nên mức độ cạnh tranh cực kỳ cao. Một vị trí tuyển dụng có thể nhận hàng trăm hồ sơ. Trong cuộc cạnh tranh ấy, những người chưa có kinh nghiệm như bạn tôi dễ dàng bị loại.
Nhiều cử nhân bây giờ làm shipper, xe ôm công nghệ, bán hàng online, phục vụ quán ăn hoặc làm các công việc không liên quan đến ngành học. Một số người chấp nhận làm trái ngành để tồn tại. Một số khác tiếp tục học thêm với hy vọng tăng cơ hội cạnh tranh. Và cũng có người dần mất phương hướng sau nhiều lần bị từ chối.
Có lẽ điều mà người trẻ cần lúc này là một thị trường lao động thực tế hơn, nơi sinh viên mới ra trường có cơ hội được đào tạo và thử sức thay vì bị yêu cầu kinh nghiệm ngay từ đầu. Các trường đại học cũng cần gắn đào tạo với nhu cầu thực tiễn nhiều hơn để sinh viên không bị sốc khi bước vào đời hay phải kiếm việc nhờ may mắn.