Từ ngày 15/5, Thông tư 19/2026/TT-BGDĐT chính thức có hiệu lực, siết chặt quản lý để chống ép buộc dạy thêm. Câu chuyện này lại trở thành chủ đề nóng trong các nhóm phụ huynh và giáo viên. Nhân đây, tôi cũng muốn kể lại hồi ức về việc học thêm của mình – một cựu học sinh đã ngót nghét 40 tuổi.
Ngày tôi học cấp 1, cấp 2, học thêm chưa bao giờ là một “phong trào” rầm rộ. Khi đó, việc học thêm do chính nhà trường tổ chức. Thầy cô dành thời gian này để ôn lại kiến thức cho các bạn yếu và mở rộng một số dạng bài nâng cao cho những bạn khá hơn. Thực chất, kiến thức buổi học thêm không khác biệt quá nhiều so với trên lớp, chỉ là chúng tôi được củng cố lại “kỹ” hơn.
Nếu tiết Toán trên lớp chỉ đủ thời gian làm hai bài tập ví dụ, thì buổi học thêm thầy cô cho làm năm bài để học sinh hiểu sâu, nhớ lâu. Học Văn cũng vậy, chúng tôi được thực hành viết ngay tại lớp học thêm để cô sửa trực tiếp, không có chuyện “đóng sách lại là quên” như những tiết học vội vã. Tuyệt nhiên, không bao giờ có chuyện bạn nào đi học thêm mới làm được bài kiểm tra.
>> Dạy chính khóa ‘thiếu chất’ nên phải có học thêm cho ‘đủ chất’
Ngày ấy, thầy dạy thêm của tôi chính là thầy đứng lớp hàng ngày. Phòng học là lớp học cũ tận dụng lúc trống tiết. Chi phí vì thế rất nhẹ nhàng, không khiến cha mẹ phải chắt bóp tính toán. Thậm chí, những bạn có hoàn cảnh khó khăn còn được thầy cô miễn phí hoàn toàn. Cách quản lý khi ấy đơn giản mà đúng quy chuẩn, không ai phải coi học thêm là vấn đề nan giải, không trẻ con nào phải áp lực giờ giấc ngược xuôi.
Nhìn lại ngày nay, tôi thấy xót xa khi chứng kiến các con mình nháo nhác “chạy show” học thêm. Lũ trẻ phải căn từng phút để kịp di chuyển giữa lớp học chính và trung tâm phụ đạo. Vì nhà trường không được tổ chức, chi phí thuê mặt bằng, vận hành trung tâm đều đổ dồn lên vai phụ huynh. Đáng buồn hơn, có những nơi kiến thức trọng tâm chỉ được dạy tại lớp học thêm, khiến đứa trẻ nào không theo thì khó lòng đạt điểm tốt.
Nhìn các con học từ sáng đến chiều, tối lại lao vào guồng quay bổ trợ, những bậc làm cha làm mẹ như tôi thực sự bất lực. Hy vọng rằng việc học chính hay học thêm đều ngày một “tiến” theo đúng nghĩa của nó: học để lấy kiến thức, chứ không phải học vì nỗi lo sợ bị bỏ lại phía sau.
"Tôi thuộc thế hệ 9X đời đầu, sinh ra trong một gia đình không mấy dư dả. Hồi đó, bố mẹ từng định hướng tôi thi vào trường một ngành chỉ vì một lý do rất thực tế: không phải lo học phí và ra trường có công việc ổn định. Nhưng cuối cùng tôi lại chọn học Tài chính - Ngân hàng tại một trường đại học top đầu - một lựa chọn của tuổi trẻ, với mong muốn được theo đuổi ngành mình yêu thích. Chỉ có điều, khi bước vào giảng đường, tôi mới hiểu rằng cái nghèo không chỉ là chuyện thiếu tiền. Nó còn lấy đi của tôi hai thứ quý giá nhất: thời gian và cơ hội.
Trong khi nhiều bạn cùng trang lứa có thể dành thời gian học ngoại ngữ, tham gia câu lạc bộ, đi thực tập hoặc xây dựng các mối quan hệ, tôi phải đầu tắt mặt tối đi làm thêm để trang trải chi phí sinh hoạt. Tôi không có điều kiện đầu tư cho tiếng Anh - thứ gần như là 'tấm vé vào cửa' đối với ngành tài chính, ngân hàng. Khi tốt nghiệp, tôi hoàn toàn lép vế so với nhiều bạn đến từ RMIT hay Ngoại thương - những người đã được chuẩn bị tốt hơn cả về kỹ năng lẫn trải nghiệm.
Có một giai đoạn, tôi phải làm phục vụ tại quán cà phê chỉ để sinh tồn ở thành phố. Tôi nghĩ chỉ cần chăm chỉ làm việc là mọi thứ rồi sẽ ổn. Nhưng một câu hỏi của vị khách trong quán đã khiến tôi thay đổi suy nghĩ: 'Làm thế này thì bao giờ mới kiếm được công việc đúng chuyên môn?'.
Câu hỏi đó khiến tôi nhận ra mình đang mắc kẹt trong một cái bẫy mà nhiều người trẻ xuất thân khó khăn cũng gặp phải. Chúng tôi phải đi làm để có tiền trang trải cuộc sống, nhưng càng dành nhiều thời gian để kiếm tiền trước mắt thì chúng tôi càng mất đi cơ hội đầu tư cho tương lai của chính mình.
>> Cử nhân 'hết date' nếu 10 năm chạy xe ôm công nghệ, shipper
Thế rồi, tôi quyết định 'thắt lưng buộc bụng', dừng công việc làm thêm để học lại từ đầu những kỹ năng còn thiếu. Hành trình ấy không hề dễ dàng. Tôi mất đúng 7 năm trầy trật mới chuyển được sang công việc thuộc lĩnh vực mà mình mong muốn.
Chính vì đã trải qua điều đó, đến thế hệ của em gái mình, khi điều kiện gia đình đã khá hơn, tôi chủ động trở thành người dẫn dắt trong việc định hướng nghề nghiệp cho em. Tôi khuyến khích em đi làm tại doanh nghiệp ngay từ năm hai đại học để tích lũy kinh nghiệm thực tế. Kết quả, sau khi tốt nghiệp, em tôi có việc làm ngay. Quan trọng hơn, nếu chẳng may thất nghiệp, em vẫn có sự hỗ trợ của tôi và gia đình để có thể bình tĩnh tìm kiếm cơ hội mới, thay vì phải chấp nhận bất cứ công việc nào chỉ vì áp lực cơm áo.
Sự khác biệt nhiều khi không nằm ở năng lực hay sự chăm chỉ. Một người trẻ có thể rất giỏi, rất nỗ lực, nhưng nếu rơi vào hoàn cảnh 'ba không' - không gia thế, không mạng lưới quan hệ và không có công việc ổn định - thì hành trình đi đến thành công sẽ khó khăn hơn rất nhiều. Người trẻ không có 'khoản đệm' tài chính thường không được phép thất bại, hay từ chối những công việc không phù hợp. Họ buộc phải chọn công việc giúp mình sống được trước khi nghĩ đến việc sống đúng với năng lực và mong muốn của bản thân".
Đó là chia sẻ của độc giả Ponluvbigbang xung quanh câu chuyện về những người trẻ "ba không". Với những người trẻ có xuất phát điểm kém hơn về gia thế và quan hệ thì nỗ lực và bằng cấp là chưa đủ. Sự thiếu hụt vốn tài chính gia đình và quan hệ xã hội tạo ra cái bẫy kép, siết chặt từ hai phía: vừa triệt tiêu cơ hội việc làm, vừa âm thầm ăn dần sức khỏe tinh thần. Khi các cánh cửa đóng lại hết lần này đến lần khác, ban đầu là họ thất vọng. Rồi dần dần, thất vọng chuyển thành hoài nghi chính mình.
"Tôi thuộc thế hệ 6X, sinh ra và lớn lên ở một vùng quê ven biển. Học xong, chưa kịp lấy bằng tốt nghiệp, tôi khăn gói theo bác họ vào vùng biển Khánh Hòa - Phú Yên để lập nghiệp. Nhờ bác xin giúp, tôi trở thành công nhân cầu đường.
Tuổi trẻ của tôi trôi qua trên những công trình, hết tháng này sang năm khác. Tôi xa quê, xa cha mẹ, miệt mài lao động với mong muốn có cuộc sống ổn định và cũng để có điều kiện lo cho gia đình. Trong quãng thời gian đó, tôi luôn cố gắng làm ăn để các em có điều kiện học hành. Khi cha mẹ đau ốm, tôi cũng gửi tiền về phụ giúp trong khả năng của mình. Tôi chưa từng nghĩ mình đang làm để sau này được nhận lại điều gì. Với tôi, đó đơn giản là trách nhiệm của một người con.
Đến nay tôi đã ngoài 60 tuổi, nghỉ hưu. Cha mẹ tôi cũng đều đã ngoài 100 tuổi. Ngôi nhà cấp bốn ngày xưa cùng gần 1.000 m2 đất ở quê đã đứng tên vợ chồng em trai tôi. Ở tuổi này, tôi chỉ mong có thể trở về quê sinh sống những năm cuối đời. Vì thế, tôi đề nghị em trai cắt cho mình 5 m ngang đất và làm giấy tờ để có một chỗ ở.
>> 'Tài sản thừa kế sớm giúp tôi ngẩng cao đầu với nhà chồng'
Nhưng điều tôi nhận được là câu trả lời khiến bản thân rất buồn. Em tôi nói đất đã chia và làm sổ riêng cho các con hết rồi. Đau lòng hơn, vợ chồng em còn nói rằng ngày trước khi tôi mua đất trong Nam, bố mẹ đã cho tiền, dù không nói là bao nhiêu; khi tôi làm nhà, bố mẹ cũng từng hỗ trợ, cũng không rõ số tiền. Vì thế, theo em, ngôi nhà và mảnh đất ở quê phải thuộc về em.
Tôi biết có những chuyện đã qua rất lâu, không còn giấy tờ hay bằng chứng để chứng minh ai đúng, ai sai? Điều khiến tôi buồn không hẳn là 5 m đất kia, mà là cảm giác bản thân đã rời quê đi làm ăn, dành cả tuổi trẻ bươn chải, cố gắng đỡ đần gia đình, đến khi muốn trở về lại không còn một chỗ nào cho mình.
Có lẽ nhiều người sẽ cho rằng ai chăm sóc cha mẹ nhiều hơn thì nên được hưởng nhiều hơn. Tôi cũng không phủ nhận công sức của người ở gần cha mẹ. Nhưng tôi nghĩ, người con đi xa không có nghĩa là đã quên gia đình. Mỗi người có một cách báo hiếu khác nhau. Người ở gần bỏ công chăm sóc. Người ở xa cố gắng làm lụng, gửi tiền về khi cha mẹ đau ốm, giúp các em có điều kiện học hành. Những sự hy sinh ấy đều đáng được ghi nhận".
Đó là chia sẻ của độc giả Phan Phan về những trăn trở trong chuyện phân chia tài sản thừa kế giữa các thành viên trong gia đình. Thực tế, khi cha mẹ già đi, câu chuyện nhà đất và tài sản không chỉ là vấn đề pháp lý mà còn trở thành phép thử đối với tình cảm anh em. Không ít gia đình giữ được hòa khí nhờ sự minh bạch, công bằng ngay từ đầu, nhưng cũng có những trường hợp nảy sinh mâu thuẫn kéo dài vì mỗi người có một cách nhìn khác nhau về công sức đóng góp, trách nhiệm chăm sóc cha mẹ và quyền được hưởng di sản.
Nhiều người cho rằng người con ở gần, trực tiếp phụng dưỡng cha mẹ xứng đáng được hưởng phần nhiều hơn. Trong khi đó, không ít ý kiến lại cho rằng những người con đi làm ăn xa, âm thầm gửi tiền về phụ giúp gia đình, tạo điều kiện để các em học hành hay hỗ trợ cha mẹ lúc đau ốm cũng có những đóng góp không thể chỉ đo đếm bằng thời gian ở cạnh.
Cách đây vài năm, vợ chồng tôi thống nhất với nhau rằng mỗi tháng, sau khi trừ hết chi phí sinh hoạt, mỗi tháng phải để ra ít nhất 10 triệu đồng cho quỹ hưu trí. Đây được xem như là một khoản chi bắt buộc, giống như tiền điện hay tiền học của con và tuyệt đối không đụng vào nếu không thật sự nguy kíp.
Khoản tiền đó, mỗi năm chúng tôi lại cân đối để mua vàng để giữ giá trị trong bối cảnh lạm phát khó đoán. Khi tích lũy đủ, chúng tôi sẽ bắt đầu tìm đất vườn ở những khu vực xa trung tâm, giá còn thấp để dành.
Chúng tôi tin rằng vài chục năm nữa, những vùng đất hôm nay còn heo hút rồi cũng sẽ thay đổi. Sau này chúng tôi sẽ về đó sống.
Chúng tôi chọn cách này vì nhìn tới lui và phát hiện một thực tế rất rõ: Nhiều gia đình gần như không có tích lũy vì họ tiêu hết cho con cái trong thời gian dài.
Với nhiều gia đình, việc nuôi con dường như không có điểm dừng rõ ràng. Con 18 tuổi vẫn được xem là chưa đủ lớn. 25 tuổi, đi làm rồi nhưng vẫn ở nhà, ăn uống, sinh hoạt phụ thuộc vào cha mẹ. Thậm chí có những trường hợp ngoài 30 tuổi, chưa lập gia đình thì vẫn sống như một đứa trẻ lớn. Mọi chi phí từ ăn uống, điện nước đến cả những khoản cá nhân vẫn do cha mẹ gánh.
Không dừng lại ở đó, khi con lập gia đình, nhiều người vẫn không ra riêng. Cha mẹ tiếp tục hỗ trợ, thậm chí nuôi luôn cả cháu. Một vòng lặp kéo dài khiến tài chính của cha mẹ bị bào mòn dần theo năm tháng. Đến khi nhận ra cần chuẩn bị cho tuổi già thì đã muộn.
Tôi từng chia sẻ quan điểm này với nhiều người, nhưng không phải ai cũng đồng tình. Lý do lớn nhất vẫn là yếu tố văn hóa "hy sinh tất cả vì con" được xem là chuẩn mực. Nhiều người cho rằng, đã là cha mẹ thì phải lo cho con đến khi nào không lo nổi nữa mới thôi.
Về phía con cái thì sao, chúng suy nghĩ gì? Con cái ngày nay có thể phải di chuyển liên tục vì công việc, sống ở những thành phố đắt đỏ, thậm chí ra nước ngoài. Không gian sống ngày càng thu hẹp, chi phí ngày càng cao. Việc ở chung nhiều thế hệ không còn dễ dàng như trước. Ngay cả khi muốn báo hiếu, không phải ai cũng đủ điều kiện về tài chính hay thời gian.
Quan trọng hơn, kỳ vọng "con cái sẽ chăm sóc mình khi về già" đôi khi là một sự đặt cược đầy rủi ro. Không hẳn là chúng bất hiếu, mà là vì hoàn cảnh không cho phép. Như tôi chỉ có một đứa con, nếu không tự lo cho tuổi già của hai vợ chồng, thì trong tương lai, làm sao có thể "ép" hay "trách" đứa con một phải hiếu thảo, chăm sóc chúng tôi?
Vậy nên, theo tôi, cách báo hiếu thiết thực nhất mà cha mẹ có thể dạy cho con, chính là tự lo được cho chính mình. Mà muốn lo được cho chính mình sau này, cha mẹ cần phải bớt "thương" con.