Khánh Linh
Nguồn: https://vnexpress.net/nuoc-nao-co-nhieu-xe-dap-hon-dan-so-5059674.html
Giáo Dục
Thí sinh gần 1.000 điểm đợt 1 đoán điểm năng lực thấp hơn ở đợt 2, vì sao?

Trưa 24.5, thí sinh đã hoàn tất kỳ thi đánh giá năng lực (V-ACT) đợt 2 do ĐH Quốc gia TP.HCM tổ chức. Với sự tham gia của 170.127 thí sinh, kỳ thi có tỷ lệ thí sinh dự thi đạt 98,27% so với số đăng ký. Đây là số lượng thí sinh tham dự cao nhất từ trước đến nay của kỳ thi. Trong số trên 170.000 thí sinh dự thi đợt 2 năm nay, có trên 63% thí sinh từng dự thi đợt 1 trước đó, đăng ký dự thi đợt 2 để cải thiện điểm số. Tuy nhiên, bước ra khỏi phòng thi, học sinh chia sẻ kết quả khác nhau về bài làm của mình.
Thí sinh đầu tiên bước ra khỏi điểm thi Trường ĐH Khoa học tự nhiên (ĐH Quốc gia TP.HCM), Gia khang (học sinh Trường THPT chuyên Lê Hồng Phong, TP.HCM), cho biết đã hoàn thành 100% bài thi đánh giá năng lực đợt 2. Ở đợt đầu, thí sinh này đạt 846 điểm nhưng đợt 2 cảm thấy khá nhẹ nhàng vì chỉ thi dự phòng bởi bản thân đã nhận kết quả trúng tuyển một ĐH tại Pháp. So với đợt đầu tiên, đợt này đề thi phần tiếng Việt dễ hơn, toán khó hơn, phần kiến thức lý-hóa-sinh đa số đọc hiểu không cần tính toán nhiều.
Cùng quan điểm trên, Huy Vũ (học sinh Trường THPT Trần Khai Nguyên, TP.HCM), cho rằng các câu hỏi trong phần tiếng Việt đã "dễ thở" hơn, tiếng Anh ở mức tương đương nhưng toán và phân tích số liệu khó hơn đợt 1. "Trong đó, phần tiếng Việt dù đề ngắn hơn nhưng vẫn có những câu khó. Em từng làm nhiều đề phần tiếng Việt nhưng vẫn có những câu hỏi em chưa thấy bao giờ, ví dụ câu hỏi luật gieo vần a-b trong thơ hiện đại", thí sinh này chia sẻ.
Huy Vũ chia sẻ thêm: "Nếu được hỏi phần nào trong đề dễ lấy điểm nhất, em cho rằng đó là 30 câu của phần thi tiếng Anh. Từ ngữ trong để tương đối dễ hiểu, không quá chuyên ngành và có thể đoán được. Riêng phần tư duy khoa học, các câu hỏi kiểm tra kiến thức rộng của nhiều lĩnh vực. Tùy thuộc mức độ hiểu biết của mỗi người mà có thể làm tốt phần hay không".
Theo thí sinh này, nếu các năm trước đề thi đợt 2 được đánh giá dễ hơn đợt 1 thì năm nay không phải như vậy. Ở đợt 1 đạt gần 800 điểm, thí sinh này hy vọng đợt 2 có thể đạt trên mức 800.
Sau khi bước ra khỏi phòng thi, một nhóm học sinh tranh luận sôi nổi về câu hỏi liên quan tới lợi nhuận của đề thi. "Lợi nhuận bằng doanh thu và chi phí, trong khi đề cho sẵn tỷ lệ lợi nhuận và yêu cầu tính lợi nhuận. Câu này em không biết cách tính, em nghĩ đây là một câu hỏi đánh giá hiểu biết cao của thí sinh", một học sinh Trường THPT Trần Khai Nguyên ( P.An Đông, TP.HCM) chia sẻ.
M.T (học sinh Trường Phổ thông Năng khiếu, ĐH Quốc gia TP.HCM) dự định thi để xét tuyển ngành vi mạch bán dẫn Trường ĐH Khoa học tự nhiên (ĐH Quốc gia TP.HCM). Thí sinh này cũng nhận định đề thi đợt 2 đặc biệt khó hơn đợt 1 ở phần toán học. Do đó, dù tiếng Việt và tư duy khoa học có phần dễ hơn đợt 1 nhưng sẽ không dễ lấy điểm cao. Ở đợt đầu tiên thí sinh này đạt gần 1.000 điểm nhưng khi dự đoán kết quả bài thi đợt này, thí sinh này cho biết "đề khó hơn nên khó đạt được điểm cao như đợt 1".
Cũng dự thi tại Trường ĐH Khoa học tự nhiên (ĐH Quốc gia TP.HCM), A.Đ (học sinh Trường THPT Trần Hữu Trang, P.Chợ Lớn, TP.HCM) cho biết không dự thi đợt 1. "Đề thi khá khó, nhất là phần toán và tiếng Anh. Khả năng em chỉ làm chắc khoảng 50% bài thi".
Bài thi đánh giá năng lực của ĐH Quốc gia TP.HCM năm 2026 tiếp tục được xây dựng trên cơ sở cấu trúc đã điều chỉnh từ năm 2025, phù hợp với Chương trình giáo dục phổ thông 2018. Thí sinh làm bài trong thời gian 150 phút với 120 câu hỏi trắc nghiệm gồm 3 phần: sử dụng ngôn ngữ (60 câu gồm tiếng Việt và tiếng Anh), toán học (30 câu) và tư duy khoa học (30 câu). Cấu trúc bài thi hướng đến đánh giá các năng lực cốt lõi như: tư duy logic, phân tích số liệu, giải quyết vấn đề và suy luận khoa học, qua đó đánh giá năng lực học tập ĐH của thí sinh thay vì chỉ kiểm tra khả năng ghi nhớ kiến thức. Kết quả bài thi được 118 trường ĐH-CĐ trên cả nước sử dụng trong tuyển sinh năm nay.
Tin Gốc: Thanh Niên

Đây không chỉ là một vấn đề quản lý giáo dục đơn thuần, mà phản ánh một thách thức mang tính cấu trúc của đô thị lớn: sự lệch pha giữa tốc độ gia tăng dân số học đường và năng lực đáp ứng của hệ thống trường lớp.
Nếu chỉ nhìn nhận vấn đề dưới góc độ "thiếu phòng học", chúng ta có thể đưa ra giải pháp ngắn hạn nhưng nếu đặt nó trong mối quan hệ với dự báo số trẻ, số học sinh đến trường, thì đây thực chất là một bài toán chiến lược, đòi hỏi tư duy hệ thống và tầm nhìn dài hạn.
Trước hết, cần khẳng định xây dựng thêm trường học để giảm ca học, giảm sĩ số lớp, đáp ứng nhu cầu học của nhóm học sinh di cư tự nhiên trong phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo điều kiện giáo dục cho tất cả trẻ em… là một mục tiêu đúng đắn và cần thiết.
Tuy nhiên, điều đáng suy nghĩ là vì sao tình trạng thiếu phòng học kéo dài nhiều năm và chưa được giải quyết triệt để? Câu trả lời nằm ở chỗ chúng ta vẫn đang giải bài toán phòng học theo cách "chạy theo nhu cầu", thay vì "đi trước nhu cầu" bằng các công cụ dự báo khoa học.
"Không dự báo thì mọi quy hoạch đều mang tính hồi ứng, không phải dẫn dắt". Kết quả nếu chỉ xây đủ, xây vừa đủ thì việc chạy theo nhu cầu thực tế sẽ mãi là bài toán dài lâu chưa thể giải.
Trong một đô thị năng động như TP.HCM, dân số không chỉ tăng tự nhiên mà còn tăng cơ học do làn sóng nhập cư. Những khu vực có khu công nghiệp, khu chế xuất hay các khu đô thị mới thường chứng kiến sự gia tăng đột biến của trẻ em trong độ tuổi đến trường.
Nếu không có hệ thống dự báo chính xác và cập nhật, việc xây dựng trường học sẽ luôn rơi vào trạng thái bị động: nơi cần thì chưa có, nơi có thì chưa đủ, và khi xây xong thì nhu cầu đã tiếp tục thay đổi. Do đó, phòng học phải bắt đầu từ câu chuyện dự báo.
Dự báo ở đây không chỉ là ước lượng số lượng trẻ em hay học sinh trong tương lai, mà phải là một hệ thống phân tích đa chiều: theo độ tuổi, theo cấp học, theo không gian địa lý và theo biến động dân cư.
Một vấn đề đáng lưu ý là khoảng cách giữa "có dự báo" và "sử dụng dự báo". Trên thực tế nhiều địa phương đã có số liệu về dân số, về trẻ em trong độ tuổi đến trường nhưng việc chuyển hóa các con số đó thành kế hoạch cụ thể vẫn còn chậm.
Dữ liệu tồn tại nhưng chưa trở thành cơ sở cho quyết định. Điều này dẫn đến một nghịch lý: chúng ta biết trước áp lực sẽ đến nhưng vẫn không chuẩn bị đủ để đón nhận.
Bên cạnh yếu tố dự báo cần nhìn nhận phòng học trong mối quan hệ với chất lượng giáo dục. Việc xây thêm trường lớp để giảm tải số học sinh, giảm số ca học nếu có là cần thiết nhưng nếu chỉ dừng lại ở số lượng, chúng ta có thể vô tình tạo ra một hệ thống "đủ chỗ nhưng chưa đủ chất".
Một khía cạnh khác không thể bỏ qua là sự đồng bộ giữa phòng học và đội ngũ giáo viên. Có những nơi xây được trường mới nhưng lại thiếu giáo viên; ngược lại, có nơi đội ngũ dồi dào nhưng cơ sở vật chất không đáp ứng. Điều này cho thấy phòng học chỉ là một phần của bài toán lớn hơn - bài toán về hệ sinh thái giáo dục.
Việc giảm sĩ số học sinh, tăng trường lớp buộc phải dự báo số giáo viên và cả nhu cầu đào tạo bởi đào tạo một giáo viên cần ít nhất 4 năm.
Ngay cả việc sử dụng cơ chế tuyển dụng đột phá cũng cần phải tính toán về đảm bảo chất lượng, tuyển và giữ chân dài lâu, bồi dưỡng phát triển năng lực liên tục, nhất là thích nghi với các yêu cầu chất lượng cao về "làm nghề" để đáp ứng yêu cầu phát triển của thành phố. Nếu không giải quyết đồng thời các yếu tố liên quan, việc tăng số phòng học cũng khó mang lại hiệu quả như mong đợi.
Trong bối cảnh chuyển đổi số, việc xây dựng các hệ thống dữ liệu lớn, ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong phân tích xu hướng dân số và nhu cầu học tập là hoàn toàn khả thi.
Khi đó, dự báo không còn là những con số tĩnh, mà là một quá trình động, được cập nhật liên tục và phản ánh sát thực tế nhất là cần thỏa mãn các "thông số" định hướng phát triển giáo dục cũng như "gia tốc" phát triển về sức khỏe, tâm lý của học sinh thành phố.
Một điểm quan trọng khác là cần thay đổi cách tiếp cận trong đầu tư. Thay vì tập trung dồn lực để giải quyết các "điểm nóng" khi đã quá tải, cần có cơ chế đầu tư sớm, đi trước một bước. Điều này có thể gặp khó khăn về nguồn lực trong ngắn hạn, nhưng sẽ giúp tiết kiệm chi phí và nâng cao hiệu quả trong dài hạn.
Không thể không nhắc đến vai trò của giáo dục ngoài công lập trong việc giảm áp lực phòng học.
Cần nhìn nhận linh hoạt rằng chúng ta vẫn rất cần giáo dục ngoài công lập nhưng nếu chúng ta đầu tư nhiều phòng lớp cho giáo dục công lập thì giáo dục ngoài công lập phải vận hành mới, phát triển mới với các điều kiện tốt, mô hình hiện đại và các thành tựu giáo dục không ngừng vượt trội.
Sự phát triển của khu vực này cũng cần được đặt trong quy hoạch tổng thể, tránh tình trạng phân bố không đồng đều hoặc chênh lệch quá lớn về chất lượng. Nhà nước cần giữ vai trò chủ đạo trong việc đảm bảo quyền học tập phổ cập, đồng thời tạo điều kiện để các cơ sở ngoài công lập phát triển theo định hướng chung.
Có thể thấy rằng phòng học chỉ là "phần nổi" của một bài toán sâu hơn. Đó là bài toán về cách chúng ta nhìn nhận và quản lý sự phát triển của hệ thống giáo dục và cả văn hóa xã hội trong một đô thị lớn.
Nếu chỉ tập trung vào việc xây dựng thêm phòng học, chúng ta có thể giải quyết được vấn đề trước mắt; nhưng nếu muốn xây dựng một hệ thống giáo dục bền vững thì cần bắt đầu từ nền tảng: dự báo chính xác số trẻ, số học sinh đến trường.
Mỗi phòng học được xây dựng hôm nay không chỉ phục vụ cho hiện tại mà còn là một cam kết cho tương lai.
Nguồn: https://tuoitre.vn/dong-bo-giua-phong-hoc-va-doi-ngu-giao-vien-20260331233803002.htm

Gần 11h ngày 10/4, hàng trăm phụ huynh đứng chật kín trong sân trường Tiểu học Bình Quới Tây để đợi đón con. Vì trường dừng bán trú, các gia đình phải đưa đón 2 buổi mỗi ngày.
Giữa cái nắng 35 độ C, vợ chồng anh Thanh Phong, phường Bình Quới, thay nhau xin về giữa buổi để đón con lớp 1.
"Đón con xong tôi phải chạy ngược lại công ty cách đó 5km, 13h30 đến lượt vợ đưa con đi học", anh Phong nói, cho biết con gái hôm qua đã bị say nắng vì phải di chuyển giữa trưa.
Chị Lan, phụ huynh lớp 1, cũng loay hoay suốt hai ngày qua. Nữ phụ huynh kể phải nhờ ông bà ngoại nấu cơm giúp, sau đó đón con về ăn, rồi đưa đến trường buổi chiều. Chị Lan lo việc dừng bán trú ảnh hưởng giấc ngủ trưa, con khó đảm bảo sức khỏe khi học hai buổi mỗi ngày. Bản thân chị cũng nghĩ khó thu xếp được công việc để đưa đón nếu tình hình kéo dài.
Trong khi đó, chị Ngọc Trang, phụ huynh lớp 3, cố gắng tự chuẩn bị cơm cho con và dự kiến duy trì, kể cả khi trường tổ chức bán trú trở lại.
"Bé từng báo đồ ăn có vấn đề vài lần nhưng tôi nghĩ cháu kén ăn. Sau vụ việc này, tôi không yên tâm để con ăn ở trường", chị nói.
Bà Diệp Thị Ngọc Tiên, Hiệu trưởng nhà trường, thừa nhận việc dừng bán trú gây xáo trộn lớn với phụ huynh, nhưng là phương án bắt buộc để đảm bảo an toàn. Trường dừng tổ chức bán trú ít nhất đến thứ ba tuần sau, khi có kết quả xét nghiệm mẫu thức ăn.
Hôm nay, toàn trường vắng 220 trong tổng số hơn 900 học sinh, chủ yếu ở khối 1, 2. Theo bà Tiên, số này đã giảm so với hôm qua, khi gần 450 em không đi học. Nhiều lớp vắng hơn một nửa do đang điều trị ở viện, theo dõi sức khỏe ở nhà hoặc phụ huynh cho nghỉ vì không thể đưa đón.
Tùy tình hình, giáo viên sẽ điều chỉnh nội dung giảng dạy. Với những lớp vắng nhiều, học sinh chủ yếu ôn tập bài cũ.
"Tôi và thầy cô rất lo lắng, mong sớm tìm được nguyên nhân để ổn định tình hình, sắp đến giai đoạn kiểm tra cuối kỳ", bà Tiên nói.
Sự việc xảy ra hôm 8/4. Trường Tiểu học Bình Quới Tây ghi nhận hơn 100 lượt học sinh xuống phòng y tế khám với các biểu hiện mệt mỏi, sốt. Trong đó, hơn 40 em nôn ói, đau bụng, nghi ngộ độc thực phẩm ngay đầu giờ sáng, khi chưa đến giờ ăn trưa.
Tính đến sáng 10/4, tổng số ca điều trị, nhập viện lên đến 148, theo thống kê của Sở Y tế. Kết quả xét nghiệm ban đầu tại Bệnh viện Nhân dân Gia Định ghi nhận trong 10 học sinh có 7 em dương tính với Salmonella - vi khuẩn gây tiêu chảy.
Trong báo cáo gửi thành phố, Sở An toàn Thực phẩm cho hay khu vực nhà ăn của trường Tiểu học Bình Quới Tây rộng, thông thoáng, vệ sinh sạch sẽ. Tuy nhiên, Sở nghi ngờ bữa ăn ngày 7/4 có vấn đề. Hôm đó, học ăn gà kho gừng, canh bắp cải nấu thịt, dưa leo xào, mận; bữa xế có bánh flan.
Hiệu trường cho hay trường dùng suất ăn công nghiệp, giá 37.000 đồng gồm ăn trưa và bữa xế.
Lệ Nguyễn

