Đây không phải là điều bất thường mà thường là dấu hiệu cho thấy cách tập sai. Khi tập sai phương pháp, cơ thể sẽ phản ứng bằng cách tăng tiết các hoóc môn căng thẳng và làm tăng đường huyết, theo chuyên trang sức khỏe Medical News Today (Anh).
Vì vậy, điều quan trọng không phải là tập nhiều mà là tập đúng. Với người tiểu đường hay tiền tiểu đường, nếu tập nhiều mà đường huyết không hạ thì có thể do những nguyên nhân sau:
Không phải cứ tập càng nặng thì đường huyết càng giảm. Các bài tập cường độ cao như chạy nước rút, tập cường độ cao ngắt quãng (HIIT) hoặc nâng tạ nặng có thể làm đường huyết tăng tạm thời. Nguyên nhân là cơ thể tiết hoóc môn adrenaline và cortisol, kích thích gan đưa thêm đường glucose vào máu để cung cấp nhanh nguồn năng lượng cho vận động.
Ngược lại, các bài tập cường độ vừa như đi bộ nhanh, đạp xe hoặc bơi lội thường giúp giảm đường huyết hiệu quả hơn. Những hoạt động này cho phép cơ bắp sử dụng đường glucose một cách ổn định, không kích hoạt phản ứng stress mạnh. Vì vậy, nếu chỉ tập nặng mà không cân nhắc cường độ phù hợp, loại hình vận động thì có thể vô tình làm đường huyết tăng thay vì giảm.
Thời điểm tập cũng ảnh hưởng rõ rệt đến đường huyết. Khi tập lúc đói, đặc biệt là buổi sáng sớm, cơ thể dễ rơi vào trạng thái stress nhẹ và tăng tiết đường glucose vào máu. Điều này có thể khiến đường huyết tăng dù đang vận động.
Trong khi đó, vận động nhẹ như đi bộ sau bữa ăn lại giúp kiểm soát đường huyết tốt hơn. Lúc này, lượng đường glucose trong máu đang tăng và cơ bắp có thể sử dụng trực tiếp để tạo năng lượng. Vì vậy, chỉ cần thay đổi thời điểm vận động, hiệu quả kiểm soát đường huyết đã có thể khác đi đáng kể.
Một sai lầm khác là tập dồn dập trong vài ngày rồi nghỉ dài. Hiệu quả của tập luyện đối với khả năng kiểm soát đường huyết chỉ kéo dài trong khoảng 1 – 3 ngày. Nếu không duy trì đều đặn, cơ thể sẽ nhanh chóng quay lại trạng thái ban đầu.
Vì vậy, tập đều mỗi tuần quan trọng hơn là tập thật nặng trong thời gian ngắn. Ngay cả những buổi tập nhẹ nhưng đều đặn cũng có thể mang lại hiệu quả kiểm soát đường huyết tốt hơn, theo Medical News Today.

Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) và các cơ quan y tế quốc gia, đến nay đã có 8 trường hợp được xác nhận nhiễm virus Hanta, 2 trường hợp được xếp vào nhóm có khả năng mắc bệnh. Các ca bệnh liên quan đến công dân của 6 quốc gia, gồm Hà Lan, Anh, Đức, Thụy Sĩ, Pháp và Hoa Kỳ.
Ba người đã tử vong trong đợt bùng phát này. Trong đó, hai trường hợp được xác nhận mắc virus Hanta, một trường hợp còn lại được xem là ca nghi nhiễm. Các cơ quan y tế cho biết những người từng tiếp xúc gần với bệnh nhân, cũng như các trường hợp có triệu chứng nghi ngờ, đang tiếp tục được điều tra và theo dõi.
Virus Hanta là nhóm virus có thể gây bệnh nặng ở người, thường lây qua tiếp xúc với chất thải của động vật gặm nhấm nhiễm bệnh. Tuy nhiên, trong đợt bùng phát trên tàu MV Hondius, giới chuyên môn đặc biệt lưu ý đến chủng Andes. Đây là biến thể hiếm hơn, có khả năng lây truyền từ người sang người khi tiếp xúc gần.
Hà Lan
Hà Lan là quốc gia ghi nhận các ca bệnh nghiêm trọng nhất trong nhóm liên quan đến tàu MV Hondius. Hai công dân Hà Lan trên tàu đã tử vong, trong khi một người khác được xác nhận nhiễm virus.
Hai nạn nhân đầu tiên là một cặp vợ chồng người Hà Lan, từng đi du lịch vòng quanh Nam Mỹ trước khi lên tàu tại Ushuaia, Argentina, vào ngày 1/4.
Người chồng, 70 tuổi, bắt đầu xuất hiện triệu chứng vào ngày 6/4 và qua đời ngày 11/4. Thi thể của ông được đưa xuống tàu khi MV Hondius cập cảng Saint Helena, một hòn đảo ở Nam Đại Tây Dương, trong các ngày 22-24/4. Do không có xét nghiệm virus Hanta được thực hiện vào thời điểm đó, WHO xếp ông vào nhóm ca nghi nhiễm.
Vợ ông, 69 tuổi, cũng rời tàu tại Saint Helena vì cảm thấy không khỏe. Tình trạng của bà chuyển biến xấu trong chuyến bay đến Johannesburg ngày 25/4. Bà tử vong tại bệnh viện một ngày sau đó và được xác nhận mắc virus Hanta vào ngày 4/5.
Ca bệnh thứ ba của Hà Lan là bác sĩ trên tàu. Người này báo cáo có triệu chứng vào ngày 30/4. Xét nghiệm sau đó cho kết quả dương tính với chủng Andes vào ngày 6/5. Bác sĩ được sơ tán về Hà Lan cùng ngày sau khi tàu cập khu vực ngoài khơi Cape Verde. Tình trạng sức khỏe của ông được ghi nhận ổn định trong quá trình điều trị cách ly.
Anh
Tại Anh, hai công dân đã được xác nhận nhiễm bệnh, một trường hợp khác được xếp vào nhóm nghi ngờ.
Một người đàn ông Anh bắt đầu bị ốm ngày 24/4 với biểu hiện sốt và viêm phổi. Ba ngày sau, ông được sơ tán từ đảo Ascension ở Đại Tây Dương đến Nam Phi để điều trị tích cực. Ca bệnh này được xác nhận nhiễm virus Hanta vào ngày 2/5. Kết quả giải trình tự gen sau đó cho thấy bệnh nhân nhiễm chủng Andes.
Một công dân Anh khác là hướng dẫn viên trên tàu, bắt đầu có triệu chứng ngày 27/4 và có kết quả xét nghiệm dương tính ngày 6/5. Ông được sơ tán sang Hà Lan ngày 7/5 từ Cape Verde. Tình trạng sức khỏe của người này ổn định trong thời gian điều trị cách ly.
Trường hợp thứ ba của Anh là một người đàn ông đã rời tàu tại quần đảo Tristan da Cunha ở Nam Đại Tây Dương vào ngày 14/4. Ông được điều trị cách ly tại đây sau khi xuất hiện triệu chứng từ ngày 28/4.
Tổ chức Y tế Thế giới xếp trường hợp này vào nhóm nghi nhiễm trong khi chờ kết quả xét nghiệm. Theo cơ quan chức năng Anh, lực lượng quân sự và nhân viên y tế đã được điều động bằng đường không tới hòn đảo để hỗ trợ y tế khẩn cấp và bổ sung vật tư cần thiết.
Đức
Đức ghi nhận một ca tử vong liên quan đến đợt bùng phát.
Bệnh nhân là một phụ nữ bị sốt vào ngày 28/4, sau đó tiến triển thành viêm phổi và qua đời trên tàu vào ngày 2/5. Mẫu bệnh phẩm sau khám nghiệm được chuyển đến Hà Lan cùng các bệnh nhân sơ tán. Xét nghiệm xác nhận bà nhiễm virus Andes.
Thi thể của bà vẫn ở trên tàu MV Hondius trong thời gian con tàu chuẩn bị rời đảo Tenerife của Tây Ban Nha để đến Hà Lan.
Thụy Sĩ
Thụy Sĩ ghi nhận một trường hợp là nam hành khách đã xuống tàu tại Saint Helena ngày 22/4, sau đó bay về Thụy Sĩ ngày 27/4, quá cảnh qua Nam Phi và Qatar.
Người này xuất hiện triệu chứng vào ngày 1/5 sau khi về nước. Ông được điều trị cách ly và có kết quả dương tính với virus Andes ngày 5/5.
Pháp
Tại Pháp, Bộ trưởng Y tế Stephanie Rist cho biết một phụ nữ Pháp được hồi hương từ Honduras đã cảm thấy không khỏe vào tối 10/5 và có kết quả xét nghiệm dương tính với virus Hanta.
Trường hợp này tiếp tục được cơ quan y tế theo dõi, trong bối cảnh các nước đang rà soát những người từng có mặt trên tàu hoặc tiếp xúc gần với ca bệnh.
Hoa Kỳ
Bộ Y tế và Dịch vụ Nhân sinh Hoa Kỳ thông báo ngày 10/5 rằng một trong 17 công dân Mỹ được hồi hương từ con tàu có kết quả xét nghiệm PCR dương tính với virus.
Một người khác trong nhóm này có triệu chứng nhẹ và đang được theo dõi. Các trường hợp còn lại tiếp tục được giám sát theo quy trình y tế nhằm phát hiện sớm dấu hiệu bất thường.
Các chuyên gia khuyến cáo những người từng có mặt trên tàu MV Hondius hoặc có tiếp xúc gần với ca bệnh cần chủ động theo dõi sức khỏe. Khi xuất hiện các dấu hiệu như sốt, mệt mỏi, ho, khó thở hoặc bất kỳ triệu chứng hô hấp bất thường nào, người dân nên liên hệ cơ sở y tế để được tư vấn và kiểm tra kịp thời.
Khai báo y tế sớm, tuân thủ hướng dẫn cách ly khi cần thiết và phối hợp với cơ quan chức năng là những biện pháp quan trọng để giảm nguy cơ lây lan. Hiện các cơ quan y tế tại nhiều quốc gia vẫn tiếp tục điều tra dịch tễ, xét nghiệm các trường hợp nghi ngờ và giám sát nhóm tiếp xúc gần nhằm kiểm soát đợt bùng phát này.
Tin Gốc: Dân Trí
Sức Khỏe
Ăn chuối: Chuyên gia chỉ cách ăn vừa không tăng đường huyết, vừa tốt cho sức khỏe

Chuối là loại trái cây giàu dinh dưỡng, đặc biệt chứa nhiều kali có lợi cho sức khỏe. Tuy nhiên, theo chuyên gia dinh dưỡng Aviv Joshua (Mỹ), chuối cũng chứa lượng đường tự nhiên nên có thể làm tăng đường huyết. Mức độ tăng này phụ thuộc nhiều vào khẩu phần ăn và độ chín của chuối.
Một quả chuối chín cỡ trung bình có chỉ số đường huyết GI khoảng 51 (thấp), nhưng chỉ số tải lượng đường huyết là 13 (ở mức trung bình). Khi chuối chín, tinh bột chuyển hóa thành đường, làm tăng chỉ số GI. Theo đó, chuối xanh (chưa chín) có GI thấp nhất (30 - 40), giúp đường huyết ổn định hơn. Ngược lại, chuối quá chín có GI cao nhất (65-70), khiến đường huyết tăng nhanh hơn.
Để thưởng thức chuối mà không gây tăng đột biến đường huyết, chuyên gia Joshua đưa ra lời khuyên đơn giản sau đây:
Chọn chuối xanh hoặc chưa chín: Hàm lượng tinh bột kháng cao trong chuối xanh giúp làm chậm quá trình tiêu hóa, giữ chỉ số GI thấp.
Lưu ý khẩu phần: Chọn quả nhỏ hơn hoặc chia nhỏ quả lớn để ăn rải rác trong ngày.
Kết hợp thực phẩm: Ăn chuối cùng protein, chất xơ hoặc chất béo lành mạnh (như các loại hạt, sữa chua, yến mạch) để trì hoãn sự tăng đường huyết.
Bảo quản lạnh: Giữ chuối trong tủ lạnh giúp làm chậm quá trình chín, trì hoãn việc chuyển hóa tinh bột thành đường và duy trì chỉ số GI thấp.
Đối với người tập thể dục, chuối là lựa chọn phổ biến vì carbohydrate cung cấp nguồn năng lượng nhanh chóng, còn kali hỗ trợ chức năng cơ bắp.
Hiệp hội Tiểu đường Mỹ khẳng định: Đối với hầu hết mọi người (kể cả người bệnh tiểu đường), chuối hoàn toàn có thể là một phần trong chế độ ăn uống cân bằng nếu bạn chú ý đến độ chín, khẩu phần và cách kết hợp thực phẩm đi kèm, theo trang tin sức khỏe Verywell Health.
Tin Gốc: Thanh Niên

Bệnh Ebola (EBOD) là một bệnh lý nghiêm trọng, thường dẫn đến tử vong ở người. Bệnh do các virus thuộc chi Orthoebolavirus, họ Filoviridae gây ra.
Đến nay, các nhà khoa học đã xác định được 6 loài Orthoebolavirus, trong đó có 3 loài từng gây ra các đợt bùng phát dịch lớn, bao gồm:
Virus Ebola (EBOV): Gây bệnh virus Ebola (EVD).
Virus Sudan (SUDV): Gây bệnh virus Sudan (SVD).
Virus Bundibugyo (BDBV): Gây bệnh virus Bundibugyo (BVD).
Bệnh Ebola được ghi nhận lần đầu tiên vào năm 1976 trong hai đợt bùng phát đồng thời: một đợt do virus Sudan tại Nzara (nay thuộc Nam Sudan) và đợt còn lại do virus Ebola tại Yambuku (nay thuộc Cộng hòa Dân chủ Congo). Đợt dịch thứ hai xảy ra tại một ngôi làng gần sông Ebola, đây cũng chính là nguồn gốc tên gọi của căn bệnh này.
Hiện nay, đã có vaccine và liệu pháp điều trị cho bệnh virus Ebola (EVD). Tuy nhiên, các thể bệnh Ebola khác như SVD hay BVD vẫn chưa có vaccine hoặc thuốc điều trị đặc hiệu. Các sản phẩm thử nghiệm vẫn đang trong quá trình phát triển.
Can thiệp bằng các biện pháp chăm sóc hỗ trợ tích cực sớm - bao gồm bù nước và điều trị các triệu chứng đặc hiệu - có thể cải thiện đáng kể khả năng sống sót của bệnh nhân. Tiếp cận y tế kịp thời chính là yếu tố sống còn.
- Các nhà khoa học nhận định rằng dơi quả (họ Pteropodidae) là vật chủ tự nhiên của Orthoebolavirus.
- Virus có thể xâm nhập vào người thông qua việc tiếp xúc gần với máu, chất tiết, cơ quan hoặc dịch cơ thể của các động vật bị nhiễm bệnh.
- Các loài động vật có nguy cơ cao bao gồm dơi quả, tinh tinh, gorilla, khỉ, linh dương rừng hoặc nhím được phát hiện bị bệnh, đã chết hoặc tìm thấy trong rừng mưa nhiệt đới.
- Khi đã xâm nhập vào cộng đồng, virus có thể lây từ người sang người thông qua tiếp xúc trực tiếp (qua da bị tổn thương hoặc niêm mạc) với:
Lưu ý:
- Người bệnh không có khả năng lây truyền virus trước khi xuất hiện các triệu chứng. Họ sẽ tiếp tục là nguồn lây nhiễm chừng nào trong máu vẫn còn chứa virus.
- Nhân viên y tế và hộ lý là nhóm thường xuyên bị lây nhiễm trong quá trình điều trị cho bệnh nhân Ebola. Tình trạng này xảy ra do tiếp xúc gần với người bệnh khi các biện pháp phòng ngừa và kiểm soát nhiễm khuẩn không được thực hiện một cách nghiêm ngặt.
- Các nghi lễ mai táng có hành vi tiếp xúc trực tiếp với thi thể người quá cố cũng là một nguyên nhân làm gia tăng tốc độ lây lan của bệnh.
Thời gian ủ bệnh (khoảng thời gian từ khi nhiễm virus đến khi khởi phát triệu chứng) dao động từ 2 đến 21 ngày.
- Các triệu chứng của bệnh Ebola có thể xuất hiện đột ngột, bao gồm:
- Tiếp sau đó là các biểu hiện: nôn mửa, tiêu chảy, đau bụng, phát ban và suy giảm chức năng gan, thận. Việc theo dõi sát sao các triệu chứng này là nhiệm vụ đặc biệt quan trọng đối với các nhân viên y tế.
- Xuất huyết thường được coi là triệu chứng phổ biến trong nhận thức của công chúng, nhưng trên thực tế biểu hiện này ít gặp hơn và chỉ xuất hiện ở giai đoạn muộn của bệnh. Một số bệnh nhân có thể bị xuất huyết nội và ngoại vi, bao gồm: nôn ra máu, đại tiện ra máu, chảy máu mũi, chảy máu nướu răng và âm đạo. Tình trạng chảy máu tại các vị trí tiêm truyền cũng có thể xảy ra.
- Khi virus tấn công vào hệ thần kinh trung ương, người bệnh có thể rơi vào trạng thái lú lẫn, dễ kích động và hung hăng.
- Ở giai đoạn đầu, phân biệt bệnh Ebola với các bệnh truyền nhiễm khác như sốt rét, thương hàn, nhiễm khuẩn lỵ trực khuẩn (shigellosis), viêm màng não và các bệnh sốt xuất huyết do virus khác trên lâm sàng là rất khó khăn do các triệu chứng có sự tương đồng lớn.
- Để xác định chính xác một ca nhiễm Orthoebolavirus, bác sĩ phải sử dụng các phương pháp chẩn đoán xét nghiệm sau:
- Các mẫu bệnh phẩm thu thập từ bệnh nhân chứa nguy cơ an toàn sinh học cực kỳ cao. Do đó, việc kiểm tra phòng thí nghiệm đối với các mẫu chưa được bất hoạt phải được tiến hành trong điều kiện an toàn sinh học tối đa. Tất cả mẫu sinh học chưa bất hoạt khi vận chuyển trong nước và quốc tế đều phải được đóng gói theo quy trình hệ thống 3 lớp.
Qua nhiều năm, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) cùng các đối tác đã xây dựng các tài liệu hướng dẫn và tổ chức đào tạo nhằm tối ưu hóa quy trình chăm sóc giúp nâng cao cơ hội sống sót cho bệnh nhân, bất kể họ có được tiếp cận với các phương pháp điều trị đặc hiệu hay không.
Đây được gọi là "Chăm sóc hỗ trợ tối ưu", quy trình này bao gồm việc chỉ định các xét nghiệm liên quan, quản lý cơn đau, đảm bảo dinh dưỡng, điều trị đồng nhiễm (như bệnh sốt rét) và các phương pháp tiếp cận khác nhằm tạo điều kiện tốt nhất cho bệnh nhân phục hồi.
- Đối với bệnh virus Ebola (EVD):
Hiện có hai loại vaccine đã được phê duyệt: Ervebo (của hãng Merck & Co.) và bộ đôi Zabdeno & Mvabea (của hãng Janssen Pharmaceutica). Vaccine Ervebo được khuyến nghị sử dụng như một phần của hoạt động ứng phó với dịch bệnh (theo khuyến cáo của Nhóm chuyên gia tư vấn chiến lược - SAGE vào tháng 7/2024).
- Đối với các thể bệnh Ebola khác (như SVD):
Một số vaccine thử nghiệm hiện đang ở các giai đoạn phát triển khác nhau. Nhằm ứng phó với dịch bệnh, một quy trình chuẩn (CORE protocol) cũng đã được thiết lập để đánh giá tính an toàn, khả năng dung nạp, tính sinh miễn dịch và hiệu quả của các vaccine thử nghiệm này.
- Sự tham gia của cộng đồng là chìa khóa để kiểm soát thành công bất kỳ đợt bùng phát dịch nào. Công tác dập dịch dựa trên một chuỗi các biện pháp can thiệp đồng bộ: chăm sóc lâm sàng, giám sát và truy vết tiếp xúc, dịch vụ xét nghiệm, phòng ngừa và kiểm soát nhiễm khuẩn tại các cơ sở y tế, mai táng an toàn và tôn trọng phong tục, tiêm chủng (chỉ áp dụng cho bệnh virus Ebola) và huy động xã hội.
- Nâng cao nhận thức về các yếu tố nguy cơ và các biện pháp bảo vệ cá nhân là cách hiệu quả để giảm tỷ lệ lây nhiễm sang người. Các thông điệp giảm thiểu rủi ro cần tập trung vào các khuyến cáo sau:
Giảm nguy cơ lây truyền từ động vật hoang dã sang người: Tránh tiếp xúc với dơi quả hoặc khỉ/vượn bị nhiễm bệnh, đồng thời không tiêu thụ thịt sống của chúng.
Giảm nguy cơ lây truyền từ người sang người: Hạn chế tối đa việc tiếp xúc trực tiếp hoặc tiếp xúc gần với người nhiễm bệnh, đặc biệt là với dịch cơ thể của họ. Cần tránh tiếp xúc vật lý gần với bệnh nhân Ebola. Người bệnh phải được cách ly tại trung tâm điều trị chuyên dụng để được chăm sóc sớm và ngăn ngừa lây nhiễm tại nhà.
Minh bạch thông tin: Cộng đồng cần được thông tin đầy đủ về bản chất căn bệnh cũng như các biện pháp kiểm soát dịch. Điều này đạt hiệu quả cao nhất khi người dân tham gia trực tiếp vào công tác ứng phó và có sự thảo luận cởi mở.
Các biện pháp bao vây dập dịch bao gồm: tổ chức mai táng an toàn và tôn trọng người quá cố; xác định những người từng tiếp xúc với người nhiễm Ebola và theo dõi sức khỏe của họ trong vòng 21 ngày; cách ly người lành khỏi người bệnh để ngăn chặn sự lây lan diện rộng và tập trung chăm sóc cho các bệnh nhân đã xác định. Bên cạnh đó, việc duy trì vệ sinh cá nhân và làm sạch môi trường sống cũng đóng vai trò then chốt.
- Nhân viên y tế phải luôn thực hiện các biện pháp phòng ngừa chuẩn khi chăm sóc bệnh nhân, bất kể chẩn đoán ban đầu của họ là gì. Các biện pháp này bao gồm: vệ sinh tay cơ bản, vệ sinh đường hô hấp, sử dụng phương tiện bảo hộ cá nhân (để ngăn chặn các giọt bắn hoặc tiếp xúc với vật liệu nhiễm khuẩn), thực hành tiêm an toàn và quy trình mai táng an toàn, tôn nghiêm.
- Khi chăm sóc cho bệnh nhân nghi nhiễm hoặc đã xác định mắc Ebola, nhân viên y tế cần áp dụng thêm các biện pháp kiểm soát nhiễm khuẩn tăng cường để tuyệt đối tránh tiếp xúc với máu, dịch cơ thể của bệnh nhân, cũng như các bề mặt hoặc vật dụng bị ô nhiễm như quần áo, chăn ga gối đệm.
- Nhân viên phòng thí nghiệm cũng là nhóm nguy cơ cao. Tất cả mẫu bệnh phẩm thu thập từ người và động vật để xét nghiệm Orthoebolavirus phải được xử lý bởi đội ngũ nhân sự đã qua đào tạo và tiến hành tại các phòng thí nghiệm được trang bị đầy đủ thiết bị chuyên dụng.
- WHO khuyến cáo không cần cách ly những bệnh nhân đã phục hồi và có kết quả xét nghiệm máu âm tính với Orthoebolavirus.
Tuy nhiên, người khỏi bệnh có thể phải chịu đựng các di chứng cả về mặt lâm sàng lẫn tâm lý. WHO khuyến khích các quốc gia bị ảnh hưởng xem xét thành lập chương trình chăm sóc y tế để giảm nhẹ di chứng, hỗ trợ tái hòa nhập cộng đồng, tư vấn tâm lý và thực hiện các xét nghiệm sinh học cần thiết.
- Khoa học chứng minh rằng Orthoebolavirus vẫn có thể tồn tại ở một số cơ quan đặc quyền miễn dịch trên cơ thể của một số người đã phục hồi. Những vị trí này bao gồm tinh hoàn, bên trong nhãn cầu và não bộ.
- Y học đã ghi nhận những trường hợp tái phát triệu chứng lâm sàng mà không phải do tái nhiễm ở người đã khỏi bệnh. Nguyên nhân của hiện tượng này hiện vẫn chưa được thấu hiểu một cách trọn vẹn.
- Lây truyền virus Ebola qua tinh dịch của người nhiễm bệnh đã được ghi nhận kéo dài tới 15 tháng sau khi phục hồi lâm sàng. Để giảm thiểu nguy cơ này, một chương trình xét nghiệm tinh dịch cần được triển khai nhằm mục tiêu:
- Trong trường hợp không có chương trình xét nghiệm tinh dịch, nam giới đã khỏi bệnh cần tuyệt đối tuân thủ các biện pháp tình dục an toàn trong vòng 12 tháng.
- Ngoài ra, Orthoebolavirus có thể tồn tại trong nhau thai, nước ối và thai nhi của những phụ nữ bị nhiễm bệnh khi đang mang thai, cũng như trong sữa mẹ của phụ nữ đang cho con bú. Do đó, các chương trình chăm sóc người sống sót cần phải bao gồm cả việc chăm sóc toàn diện cho phụ nữ mang thai và cho con bú sau khi họ phục hồi.
Tin Gốc: Vnexpress

