Ngày 8-7, lãnh đạo UBND tỉnh Đắk Lắk cho biết đã chỉ đạo các sở, ngành triển khai nhiều giải pháp nâng cao giá trị ngành trồng mía, sản xuất đường, đồng thời siết chặt kiểm soát đường nhập lậu…
Giữa cái nắng gay gắt, bà Phan Thị Nội (xã M’Đrắk) vẫn đi chặt mía thuê để có thêm thu nhập, trong khi gần 3ha mía của gia đình lại thua lỗ.
Bà cho biết mưa kéo dài khiến năng suất giảm mạnh, vụ này chỉ thu khoảng 35 tấn, chưa bằng một nửa năm trước.
“Giá mía còn 550 đồng/kg nên năm nay chỉ còn khoảng 80 triệu đồng, thấp hơn năm ngoái 120 triệu đồng”, bà nói.
Ông K.V.S.R. Subbaiah – Tổng giám đốc Công ty TNHH Công nghiệp KCP Việt Nam (xã Sơn Hòa, Đắk Lắk) – cho biết niên vụ mía đường 2025 – 2026 chịu tác động của bão, lũ, mưa kéo dài nhưng áp lực lớn nhất lại đến từ thị trường.
“Có thời điểm lượng đường tồn kho tại các doanh nghiệp vượt 100.000 tấn, trong khi các nhà máy vẫn phải thu mua mía theo hợp đồng liên kết với hơn 19.000 hộ dân để giữ vùng nguyên liệu”, ông nói.
Ông K.V.S.R. Subbaiah nói chỉ trong một năm, giá đường trong nước giảm từ 20.698 đồng xuống còn 17.115 đồng/kg. “Áp lực đến từ đường nhập lậu từ Thái Lan qua Lào, Campuchia vào Việt Nam, cùng với HFCS (sirô ngô giàu fructose) giá rẻ hưởng thuế 0%. Ngoài ra đường nhập khẩu chính ngạch và chính sách thuế mới khiến nhu cầu đường mía suy giảm”, ông nhận xét.
Theo bà Đặng Thị Thủy – Phó giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Đắk Lắk – để vùng nguyên liệu lớn nhất cả nước phát huy lợi thế, ngoài đầu tư giống mới, thủy lợi và cơ giới hóa, điều quan trọng nhất vẫn là kiểm soát hiệu quả đường nhập lậu. “Nếu không xử lý được nút thắt này, vùng nguyên liệu lớn nhất cả nước sẽ rất khó giữ được lợi thế cạnh tranh ngay trên thị trường trong nước”, bà Thủy nói.
Trước khó khăn của người dân, doanh nghiệp, bà Lê Đào An Xuân – Phó trưởng đoàn chuyên trách Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Đắk Lắk – cho biết đơn vị đã tổ chức giám sát và có báo cáo đến cấp có thẩm quyền về tình trạng đường nhập lậu và một số chính sách bất lợi khác.
Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Đắk Lắk kiến nghị Bộ Công Thương tiếp tục duy trì biện pháp chống bán phá giá, chống trợ cấp đối với đường mía nhập khẩu từ Thái Lan sau khi chính sách hiện hành hết hiệu lực.
“Đồng thời đoàn đề nghị tăng kiểm tra hoạt động tạm nhập – tái xuất, truy xuất nguồn gốc, xử lý nghiêm đường nhập lậu và điều hành hạn ngạch nhập khẩu phù hợp với cung – cầu thị trường. Muốn giữ được vùng nguyên liệu mía lớn nhất cả nước, trước hết phải tạo được môi trường cạnh tranh bình đẳng cho doanh nghiệp và người trồng mía”, bà Xuân nhấn mạnh.
Trao đổi với Báo điện tử Tuổi Trẻ, ông Chu Thắng Trung – Phó cục trưởng Cục Phòng vệ thương mại (Bộ Công Thương) – cho biết theo quy định, sau 5 năm áp dụng, biện pháp chống bán phá giá và chống trợ cấp đối với đường mía nhập khẩu từ Thái Lan phải được rà soát để xem xét việc gia hạn.
Theo ông Trung, kết quả rà soát cho thấy biện pháp này đã góp phần duy trì môi trường cạnh tranh công bằng giữa đường sản xuất trong nước và đường nhập khẩu từ Thái Lan.
Lượng đường nhập khẩu bán phá giá giảm mạnh, sản lượng đường trong nước giai đoạn 2024 – 2025 tăng gấp 1,7 lần so với giai đoạn 2020 – 2021, lợi nhuận ngành tăng 2,49 lần.
“Nhiều vùng nguyên liệu mía được khôi phục, sản lượng tăng gần 50%, năng suất cũng được cải thiện, góp phần bảo đảm sinh kế cho người dân ở nhiều địa phương”, ông đánh giá.
Tuy vậy, ông Trung nhận định nếu chấm dứt biện pháp phòng vệ thương mại vào thời điểm này, tình trạng bán phá giá và trợ cấp đối với đường Thái Lan có nguy cơ tái diễn.
Dù ngành mía đường đã phục hồi, nền tảng vẫn còn mong manh và có thể chịu thiệt hại đáng kể nếu không tiếp tục áp dụng biện pháp bảo vệ.
“Trên cơ sở đó, Bộ Công Thương đã ban hành quyết định gia hạn áp dụng biện pháp chống bán phá giá và chống trợ cấp đối với một số sản phẩm đường mía có xuất xứ từ Thái Lan đến ngày 15-6-2031”, ông Trung thông tin.
Bộ Tài chính mới đây lấy ý kiến dự thảo thông tư quy định về giao dịch điện tử trên thị trường chứng khoán, trong đó đề xuất áp dụng xác thực sinh trắc học với nhiều giao dịch trực tuyến, đặc biệt là các lệnh rút, chuyển tiền từ 10 triệu đồng trở lên.
Theo dự thảo, có 6 hình thức xác thực giao dịch điện tử như mã khóa bí mật dùng một lần (OTP), chữ ký số, khớp đúng thông tin sinh trắc học, xác thực hai kênh...
Trong đó, thông tin sinh trắc học của khách hàng phải được đối chiếu với dữ liệu sinh trắc học lưu trong chip của căn cước công dân, tài khoản VNeID hoặc trong cơ sở dữ liệu của tổ chức cung cấp dịch vụ chứng khoán trực tuyến.
Theo dự thảo, giao dịch rút hoặc chuyển tiền dưới 10 triệu đồng phải áp dụng tối thiểu một hình thức xác thực như OTP, FIDO, xác thực 2 kênh hoặc sinh trắc học.
Trong khi đó, với giao dịch từ 10 triệu đồng trở lên, nhà đầu tư bắt buộc phải xác thực khớp đúng thông tin sinh trắc học.
Ngưỡng 10 triệu đồng này chỉ áp dụng với giao dịch rút, chuyển tiền ra khỏi tài khoản chứng khoán, không áp dụng cho giá trị các lệnh mua bán cổ phiếu.
Dự thảo cũng đề xuất áp dụng xác thực sinh trắc học khuôn mặt với giao dịch mua bán chứng khoán trực tuyến. Nhà đầu tư phải xác thực ít nhất một lần tại giao dịch đầu tiên của mỗi phiên đăng nhập.
Nếu xác thực sai liên tiếp tối đa 10 lần, hệ thống sẽ khóa chức năng giao dịch cho đến khi hoàn tất kiểm tra, nhận diện lại khách hàng.
Ngoài ra việc xác thực sinh trắc học còn được áp dụng với hoạt động mở, đóng tài khoản chứng khoán trực tuyến.
Dự thảo cũng yêu cầu tổ chức cung cấp dịch vụ phải có giải pháp kỹ thuật bảo đảm việc xác thực và giao dịch được thực hiện trên cùng một thiết bị nhằm hạn chế tình trạng giả mạo hoặc chiếm quyền sử dụng tài khoản.
Việt Nam đang có hơn 12,9 triệu tài khoản chứng khoán, phần lớn là nhà đầu tư cá nhân trong nước. Thực tế,, nhiều công ty chứng khoán và công ty quản lý quỹ đã triển khai eKYC bằng sinh trắc học khi mở tài khoản trực tuyến. Một số đơn vị cũng áp dụng xác thực khuôn mặt hoặc OTP cho các giao dịch có giá trị lớn. Tuy nhiên, do chưa có quy định bắt buộc nên việc triển khai chủ yếu mang tính tự nguyện và chưa đồng bộ trên toàn thị trường.
Theo Bộ Tài chính, việc thị trường chứng khoán Việt Nam dự kiến được FTSE Russell nâng hạng lên thị trường mới nổi thứ cấp từ tháng 9 đòi hỏi khung pháp lý về giao dịch điện tử phải tiệm cận thông lệ quốc tế, tăng tính an toàn và khả năng chống chịu rủi ro của hệ thống.
Theo công ty phân tích thị trường Kpler, xuất khẩu dầu của Mỹ trong tháng 4 có thể đạt 5,2 triệu thùng/ngày, tăng gần một phần ba so với mức 3,9 triệu thùng/ngày của tháng 3.
Đáng chú ý, nhu cầu từ châu Á dự kiến tăng vọt 82%, lên khoảng 2,5 triệu thùng/ngày, biến khu vực này trở thành động lực chính thúc đẩy làn sóng xuất khẩu.
Theo báo Financial Times ngày 10-4, diễn biến này phản ánh sự dịch chuyển nhanh chóng của dòng chảy năng lượng toàn cầu, trong bối cảnh nguồn cung từ Trung Đông - đặc biệt qua eo biển Hormuz - bị gián đoạn nghiêm trọng.
Khu vực châu Á, vốn phụ thuộc lớn vào tuyến vận tải này, buộc phải tìm đến các nguồn cung thay thế ổn định hơn, trong đó Mỹ nổi lên như lựa chọn hàng đầu.
Dữ liệu từ Kpler cho thấy hoạt động vận chuyển cũng đang gia tăng đáng kể. Hiện có tới 68 tàu chở dầu trống đang trên đường tới Mỹ để nhận hàng, cao gấp gần ba lần so với mức 24 tàu trong tuần trước. Con số này cũng vượt xa mức trung bình 27 tàu của năm ngoái, cho thấy nhu cầu vận chuyển dầu Mỹ đang tăng đột biến.
"Cả một đội tàu chở dầu đang đổ về Mỹ", ông Matt Smith, chuyên gia phân tích tại Kpler nhận định, nhấn mạnh quy mô chưa từng có của làn sóng vận chuyển hiện tại.
Sự bùng nổ xuất khẩu cũng củng cố vai trò ngày càng quan trọng của Mỹ như một "nhà cung cấp điều tiết" trên thị trường dầu mỏ toàn cầu. Trong bối cảnh các nguồn cung truyền thống gặp gián đoạn, khả năng đẩy nhanh xuất khẩu giúp Mỹ linh hoạt lấp đầy khoảng trống, đặc biệt tại các thị trường tiêu thụ lớn ở châu Á.
Ngoài ra việc Mỹ gia tăng nhập khẩu dầu thô từ Venezuela trong thời gian gần đây cũng gián tiếp hỗ trợ hoạt động xuất khẩu.
Khi các nhà máy lọc dầu sử dụng nguồn dầu nặng nhập khẩu, lượng dầu nhẹ trong nước - đặc biệt là dầu chuẩn WTI - có xu hướng được chuyển hướng ra thị trường nước ngoài nhiều hơn.
Theo các chuyên gia, xu hướng này có thể tiếp diễn trong ngắn hạn, khi nhu cầu từ châu Á vẫn ở mức cao và nguồn cung từ Trung Đông chưa ổn định hoàn toàn. Trong bối cảnh đó, Mỹ nhiều khả năng tiếp tục duy trì vai trò trung tâm trong việc tái cân bằng thị trường dầu mỏ toàn cầu.
Tuy nhiên mức độ bền vững của đà tăng này sẽ phụ thuộc vào diễn biến địa chính trị trong thời gian tới, cũng như khả năng duy trì sản lượng và hạ tầng xuất khẩu của Mỹ.
Chuyến đi diễn ra vào mùa xuân năm ngoái, trong khuôn khổ một chương trình giao lưu, học tập dành cho cán bộ kỹ thuật và nhân viên trẻ. Không quá dài ngày, nhưng đủ để mang lại những trải nghiệm mới, từ văn hóa, cách làm việc đến tư duy tổ chức sản xuất.
Với chị Cao Huỳnh Di (Phòng Tổng hợp, Nhà máy Nhiệt điện Duyên Hải II), điều đọng lại rõ nhất không phải là công nghệ hay quy trình, mà là câu chuyện con người.
Trong thời gian ở Trung Quốc, chị có dịp tham quan một số địa điểm lịch sử, tìm hiểu thêm về những giai đoạn giao lưu giữa hai nước trong quá khứ.
Điều khiến chị nhớ nhất còn là những sinh hoạt rất đời thường: cùng ăn, cùng làm, cùng trò chuyện với đồng nghiệp đến từ nền văn hóa khác.
Từ cảm giác bỡ ngỡ, nhưng càng tiếp xúc càng thấy dễ hiểu nhau hơn. Sau này quay lại làm việc, chị thấy việc phối hợp với các đồng nghiệp nước ngoài cũng nhẹ nhàng hơn nhiều.
Sau chuyến đi, chị chủ động tham gia các hoạt động giao lưu nội bộ, hỗ trợ kết nối giữa các nhóm nhân sự khác nhau trong nhà máy, những việc nhỏ nhưng giúp môi trường làm việc "mềm" hơn.
Ở một góc nhìn khác, anh Lâm Phú Quốc (nhân viên tổ nhiệt - điều khiển, Phòng Bảo trì thiết bị) lại mang về những bài học rất cụ thể.
Trong thời gian học tập, anh đặc biệt chú ý đến cách các nhà máy theo dõi tình trạng thiết bị theo thời gian thực và quy trình kiểm tra định kỳ. Khi trở về, anh cùng đồng nghiệp đề xuất điều chỉnh một số khâu trong hệ thống theo dõi thiết bị quan trọng. "Không phải là thay đổi lớn, nhưng giúp phát hiện sớm rủi ro và hạn chế gián đoạn. Cải tiến này đã góp phần đảm bảo tính liên tục của sản xuất", anh nói.
Theo anh, giá trị lớn nhất của chuyến đi là nhìn thấy cách người khác giải quyết những vấn đề rất giống mình, rồi chọn lọc cái phù hợp để áp dụng.
Không trực tiếp vận hành máy móc, nhưng chị Lê Ngọc Hạnh Nguyên (Phòng Kỹ thuật sản xuất) lại tìm thấy hướng cải thiện công việc từ những điều tưởng chừng rất nhỏ.
Điều chị ấn tượng là cách quản lý tài liệu và phối hợp giữa các bộ phận trong doanh nghiệp mà chị có dịp quan sát. Sau khi về nước, chị thử điều chỉnh lại cách lưu trữ hồ sơ, đồng thời đề xuất cải tiến quy trình trao đổi nội bộ.
"Công việc hành chính tuy không trực tiếp vận hành thiết bị, nhưng sự hỗ trợ hiệu quả từ hậu cần giúp đội ngũ kỹ thuật tập trung hơn vào sản xuất", chị cho biết.
Trước yêu cầu chú trọng hiệu quả trong hợp tác thực chất, chị cho rằng mỗi vị trí đều có thể đóng góp vào "hiệu quả" bằng sự tận tâm. Công việc hành chính không trực tiếp tạo ra sản phẩm, nhưng nếu làm tốt thì giúp cả hệ thống vận hành trơn tru hơn.
Một năm không phải là quãng thời gian dài, nhưng đủ để thấy những thay đổi nhỏ bắt đầu phát huy hiệu quả. Từ cách giao tiếp trong công việc, cách tổ chức quy trình, đến tư duy tiếp cận vấn đề, tất cả đều có sự điều chỉnh nhất định.
Không có những bước đột phá lớn, nhưng chính những cải tiến nhỏ, đều đặn lại tạo nên sự khác biệt trong vận hành hằng ngày.
Với những người tham gia, chuyến đi không chỉ là một lần "đi học", mà là dịp để nhìn lại công việc của mình từ một góc độ khác - thực tế hơn, linh hoạt hơn, và cũng cởi mở hơn.