Sáng 9.7, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã họp, cho ý kiến về dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về cơ chế, chính sách đặc thù để xử lý vi phạm pháp luật liên quan đến kinh tế nhà nước, kinh tế tư nhân và ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số.
Trình bày tờ trình dự thảo nghị quyết, Bộ trưởng Bộ Công an Lương Tam Quang nêu rõ, dự án nghị quyết được xây dựng nhằm thể chế hóa quan điểm, chủ trương của Đảng, đồng thời, tạo cơ sở pháp lý bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, vì lợi ích chung, không tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Dự thảo gồm 3 chương, 13 điều.
Dự thảo nghị quyết quy định về chính sách xử lý hình sự, gồm không truy cứu trách nhiệm hình sự; loại trừ trách nhiệm hình sự đối với người gặp rủi ro, thiệt hại do ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số; tạm hoãn truy cứu trách nhiệm hình sự và miễn trách nhiệm hình sự.
Để thực hiện các chính sách này, điều 9, điều 10 dự thảo nghị quyết quy định về trình tự, thủ tục tố tụng hình sự và trình tự, thủ tục trong thi hành án hình sự để thực hiện.
Để bảo đảm tương ứng với việc xử lý hình sự, điều 11 dự thảo quy định về xử lý kỷ luật cán bộ, công chức, viên chức, người thuộc lực lượng vũ trang tương ứng với các điều kiện về các chính sách xử lý hình sự quy định từ điều 5 đến điều 8 dự thảo nghị quyết.
Về hiệu lực thi hành và tổ chức thực hiện, nghị quyết dự kiến được thực hiện trong 3 năm.
Trường hợp sau thời điểm hết hiệu lực nhưng thời gian tạm hoãn truy cứu trách nhiệm hình sự để khắc phục hậu quả vẫn còn thì tiếp tục được thực hiện cho đến khi hết thời hạn này (không quá 2 năm).
Qua thẩm tra sơ bộ, Thường trực Ủy ban Kinh tế và Tài chính nhất trí trình Quốc hội xem xét, cho ý kiến và thông qua dự thảo nghị quyết tại kỳ họp không thường lệ thứ nhất, diễn ra trong tháng 8 tới.
Phát biểu kết luận, Phó chủ tịch Quốc hội Nguyễn Hồng Diên đề nghị tiếp tục rà soát kỹ lưỡng các quy định trong dự thảo nghị quyết, nhất là các cơ chế, chính sách hình sự đặc thù. Chỉ quy định những nội dung thực sự khác với các luật, nghị quyết hiện hành và thuộc thẩm quyền của Quốc hội.
Phó chủ tịch Quốc hội cũng nhấn mạnh, cần đánh giá đầy đủ tác động, bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp, tính khả thi, chặt chẽ trong tổ chức thực hiện, tránh tạo khoảng trống pháp lý hoặc phát sinh những vướng mắc trong quá trình áp dụng.
Đồng thời, chuẩn hóa các khái niệm còn chưa rõ nội hàm, mang tính định tính nhằm nâng cao tính minh bạch và thuận lợi trong quá trình tổ chức thực thi.
Đặc biệt, tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện hệ thống quy định, quy trình, thủ tục tố tụng hình sự nhằm cụ thể hóa các chính sách hình sự đặc thù quy định tại dự thảo nghị quyết này, bảo đảm thiết lập được một quy trình tố tụng đủ chặt chẽ, đồng bộ và khả thi, phù hợp với nguồn lực và thực tiễn vận hành của hệ thống tư pháp. Cùng đó, phân định rõ trách nhiệm hình sự với trách nhiệm hành chính, dân sự, giữa trách nhiệm của pháp nhân với cá nhân.
Xử lý nghiêm hành vi cố ý làm trái, tham nhũng, nhưng sẽ khoan hồng, giảm nhẹ đối với phạm vi vì mục đích phát triển kinh tế – xã hội, bảo đảm quốc phòng an ninh, không vụ lợi, không tham nhũng, đã chủ động khắc phục hậu quả.
Việc xử lý cần ưu tiên áp dụng các biện pháp kinh tế, dân sự, hành chính; xử lý hình sự là biện pháp cuối cùng.
Tiếp tục rà soát, bổ sung thời điểm nghị quyết có hiệu lực thi hành và thời hạn thực hiện thí điểm các cơ chế, chính sách đặc thù bảo đảm phù hợp với lộ trình sửa đổi bộ luật Hình sự và bộ luật Tố tụng hình sự.
Trường hợp các chính sách đặc thù được luật hóa trong luật sửa đổi cần xác định rõ thời điểm nghị quyết hết hiệu lực và phương án chuyển tiếp để tránh chồng chéo hoặc tạo ra khoảng trống pháp lý.
Ông Nguyễn Hồng Diên cũng đề nghị, nghiên cứu phân loại mức độ thiệt hại và quy định ngưỡng mức độ thiệt hại phải báo cáo xin ý kiến cấp có thẩm quyền về định hướng, cơ chế, chính sách đặc thù xử lý các vi phạm pháp luật liên quan đến kinh tế nhà nước, kinh tế tư nhân và ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số.
Kết luận nêu rõ, Bộ Chính trị thống nhất thông qua chủ trương của Đề án "Đẩy mạnh công tác sở hữu trí tuệ phục vụ phát triển kinh tế - xã hội trong tình hình mới" của Bộ KH-CN.
Để công tác sở hữu trí tuệ phục vụ hiệu quả phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong tình hình mới, Bộ Chính trị nêu rõ, cần quán triệt và triển khai một số nhiệm vụ trọng tâm.
Trong đó, nhấn mạnh việc cần chuyển mạnh từ tư duy quản lý hành chính về sở hữu trí tuệ sang kiến tạo hệ sinh thái sở hữu trí tuệ.
Kế đó là xây dựng văn hóa tôn trọng sáng tạo và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ trong toàn xã hội.
Kiên quyết phê phán, xử lý nghiêm hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, như: sử dụng phần mềm vi phạm bản quyền, sao chép, đạo văn trong học thuật, các vi phạm về quyền tác giả, sáng chế, kiểu dáng công nghiệp...
Đồng thời, hoàn thiện về thể chế sở hữu trí tuệ; khẩn trương rà soát, sửa đổi, bổ sung hệ thống pháp luật về sở hữu trí tuệ theo hướng phù hợp với các chuẩn mực quốc tế.
Kết luận cũng yêu cầu, phát triển thị trường quyền sở hữu trí tuệ, thúc đẩy thương mại hóa kết quả nghiên cứu.
Hoàn thiện cơ chế định giá quyền sở hữu trí tuệ; xây dựng thị trường công nghệ hiện đại, đẩy mạnh khai thác quyền sở hữu trí tuệ.
Khuyến khích, hỗ trợ các doanh nghiệp có chiến lược kinh doanh lâu dài, tăng cường đầu tư mạnh mẽ cho nghiên cứu và phát triển công nghệ.
Theo kết luận, một trong những nhiệm vụ trọng tâm được Bộ Chính trị nêu rõ là triển khai ban hành chương trình quốc gia về phát triển sở hữu trí tuệ.
Cùng đó, nâng cao hiệu lực thực thi và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ; bố trí đủ nguồn lực cho các cơ quan bảo hộ và thực thi quyền sở hữu trí tuệ; tăng cường năng lực cho các hóa chuyên trách về sở hữu trí tuệ.
Đồng thời, bảo đảm hài hòa giữa bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ với yêu cầu phổ cập tri thức, phát triển KH-CN và lợi ích chung của xã hội.
Kết luận cũng nêu rõ, bảo đảm an ninh quốc gia về công nghệ, dữ liệu và bí mật kinh doanh, phù hợp với thông lệ quốc tế và yêu cầu bảo vệ lợi ích quốc gia trong quá trình hội nhập quốc tế; đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ.
Đẩy mạnh hội nhập quốc tế sâu, rộng, có chọn lọc về sở hữu trí tuệ nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế tự chủ, tự cường; tích cực, chủ động và bảo đảm nguồn lực thực hiện cam kết theo các điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia, nghĩa vụ về sở hữu trí tuệ mà Việt Nam đã cam kết.
Về tổ chức thực hiện, Bộ Chính trị yêu cầu Đảng ủy Quốc hội chỉ đạo rà soát, hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ; tăng cường hoạt động giám sát theo quy định.
Đảng ủy Chính phủ lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện kết luận; phối hợp Đảng ủy Quốc hội thể chế tòa đầy đủ các chủ trương, chính sách nêu trong kết luận và bố trí đủ nguồn lực để tổ chức thực hiện
Kết luận cũng đề ra các nhiệm vụ đối với Đảng ủy MTTQ Việt Nam, các đoàn thể T.Ư, Ban Tuyên giáo và Dân vận T.Ư, Ban Chính sách, chiến lược T.Ư.
Chiều 27.4, tại Thanh Hóa, Chủ tịch Ủy ban T.Ư MTTQ Việt Nam Bùi Thị Minh Hoài và lãnh đạo tỉnh Thanh Hóa đã thăm, tặng 120 suất quà (mỗi suất trị giá 2,5 triệu đồng) cho công nhân, các gia đình chính sách, gia đình có hoàn cảnh khó khăn, nhân dịp kỷ niệm 51 năm Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30.4.1975 - 30.4.2026); và 140 năm Ngày Quốc tế lao động (1.5.1886 - 1.5.2026).
Việc thăm hỏi, động viên và trao quà của lãnh đạo MTTQ Việt Nam, lãnh đạo tỉnh Thanh Hóa thể hiện sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, MTTQ Việt Nam và chính quyền địa phương với người có công, hộ nghèo, người lao động có hoàn cảnh khó khăn. Qua đó lan tỏa tinh thần đoàn kết, sẻ chia trong dịp kỷ niệm các ngày lễ lớn của đất nước.
Trước đó, sáng cùng ngày, Chủ tịch Ủy ban T.Ư MTTQ Việt Nam Bùi Thị Minh Hoài cùng lãnh đạo tỉnh Ninh Bình đã thăm hỏi, tặng 200 suất quà (mỗi suất trị giá 2,5 triệu đồng) cho các Mẹ Việt Nam anh hùng, Anh hùng lực lượng vũ trang, và các gia đình chính sách, hộ nghèo, công nhân có hoàn cảnh khó khăn trên địa bàn tỉnh Ninh Bình.
Chủ tịch Ủy ban T.Ư MTTQ Việt Nam Bùi Thị Minh Hoài đề nghị cấp ủy, chính quyền địa phương, cơ quan, đơn vị tỉnh Ninh Bình tiếp tục thể hiện sự quan tâm, chăm lo đến đời sống vật chất, tinh thần của các Mẹ Việt Nam anh hùng, Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân nói riêng và các gia đình chính sách, người có công trên địa bàn tỉnh Ninh Bình nói chung, tiếp nối và phát huy truyền thống đạo lý "uống nước nhớ nguồn" của dân tộc.
Ngày 22.5, theo thông cáo của Bộ Ngoại giao, nhận lời mời của Thủ tướng Thái Lan Anutin Charnvirakul và phu nhân, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và phu nhân cùng đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam sẽ thăm chính thức Thái Lan từ ngày 27 - 29.5.
Theo Bộ Ngoại giao, quan hệ Đối tác Chiến lược toàn diện giữa hai nước phát triển tích cực. Thái Lan coi trọng củng cố và phát triển quan hệ hợp tác hữu nghị tốt đẹp với Việt Nam. Hai bên triển khai đều đặn các hoạt động tiếp xúc cấp cao.
Về thương mại, Thái Lan hiện là đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam trong ASEAN. Năm 2025, tổng kim ngạch thương mại hai chiều đạt 22,1 tỉ USD, tăng 9% so với năm 2024; trong đó ta xuất khẩu đạt 8,8 tỉ USD, tăng 12,7%; nhập khẩu đạt 13,3 tỉ USD, tăng 6,7%.
Trong 4 tháng đầu năm 2026, tổng kim ngạch thương mại hai chiều đạt gần 8,6 tỉ USD, tăng 24% so với cùng kỳ năm 2025; trong đó Việt Nam xuất khẩu 3,76 tỉ USD (tăng 39%); nhập khẩu gần 4,84 tỉ USD (tăng 15%).
Về đầu tư, Thái Lan hiện có 797 dự án đầu tư còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký 15,4 tỉ USD, đứng thứ 8/153 quốc gia có đầu tư tại Việt Nam và đứng thứ 2 trong số các nước ASEAN có đầu tư vào Việt Nam.
Việt Nam có khoảng hơn 20 dự án đầu tư còn hiệu lực, tổng vốn đăng ký khoảng 40 triệu USD.
Hợp tác quốc phòng - an ninh: hai bên duy trì hiệu quả các cơ chế song phương; phối hợp chống tội phạm xuyên quốc gia, đào tạo, hợp tác không quân, hải quân; duy trì tuần tra chung trên biển…
Về lao động, hai bên đang thúc đẩy ký mới thỏa thuận tuyển dụng lao động (ký năm 2015) nhằm tạo cơ chế cho lao động phổ thông của Việt Nam được tiếp nhận sang làm việc tại Thái Lan.
Hợp tác du lịch, văn hóa, giao lưu nhân dân phát triển tốt. Năm 2024, có hơn 984.000 khách du lịch Việt Nam thăm Thái Lan và hơn 418.000 khách Thái Lan đến Việt Nam. Năm 2025, có hơn 660.300 khách du lịch Việt Nam thăm Thái Lan (đứng thứ 17) và gần 458.000 khách Thái Lan đến Việt Nam (đứng thứ 11). Thái Lan đang thúc đẩy sáng kiến hợp tác du lịch “Sáu quốc gia, một điểm đến”. Hiện có 20 tỉnh, thành phố của Việt Nam ký thỏa thuận hợp tác, kết nghĩa với các địa phương Thái Lan.
Việt kiều tại Thái Lan có khoảng hơn 100.000 người, sống rải rác trên khắp Thái Lan, song tập trung chủ yếu ở các tỉnh vùng Đông Bắc. Số lượng lưu học sinh và sinh viên Việt Nam đang học tập, nghiên cứu tại Thái Lan khoảng 2.000 - 3.000 người.
Chính phủ Thái Lan đã công nhận địa vị pháp lý của cộng đồng Việt kiều trong cư trú và làm việc. Tại một số địa phương, Việt kiều có vai trò, vị trí và uy tín nhất định trong xã hội. Cộng đồng Việt kiều tại Thái Lan có truyền thống cách mạng, yêu nước, tôn kính Chủ tịch Hồ Chí Minh, hướng về quê hương, đất nước và có nhiều đóng góp trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất và xây dựng đất nước.