Bộ Chính trị vừa ban hành Kết luận số 51-KL/TW về đẩy mạnh công tác sở hữu trí tuệ phục vụ phát triển kinh tế – xã hội trong tình hình mới, trong đó có yêu cầu nâng cao hiệu lực thực thi và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ. Bác sĩ Phạm Thị Kim Loan, nhà sáng lập công ty khoa học và công nghệ Gia Thái DoctorLoan, chia sẻ góc nhìn với VnExpress khi sở hữu hơn 250 bằng sáng chế quốc tế trong lĩnh vực chăm sóc cột sống trên khắp toàn cầu. Theo bà Loan việc bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ có ý nghĩa quan trọng hơn lúc nào hết khi Việt Nam muốn phát triển kinh tế dựa trên khoa học công nghệ.
– Bà có thể chia sẻ các nước trên thế giới đang bảo vệ sự sáng tạo và nhà sáng chế thế nào?
– Đến nay, chính sách mà nhiều quốc gia phát triển xem là cốt lõi: bảo vệ động lực sáng tạo của cả xã hội thay vì chỉ những thành phần cụ thể.
Tại các quốc gia nơi tôi đặt chân, mức phạt khá cao cho việc vi phạm sáng chế. Chẳng hạn, tại Nhật Bản, người xâm phạm quyền sáng chế hoặc quyền sử dụng độc quyền có thể bị phạt tù đến 10 năm, phạt tiền đến 10 triệu Yen hoặc cả hai. Tại Đức – một trong những quốc gia thực thi bằng sáng chế mạnh nhất thế giới, phạt tiền hoặc phạt tù đến ba năm khi vi phạm bản quyền. Còn Mỹ nổi tiếng với chế độ bồi thường cực mạnh, mỗi lần vi phạm có thể bồi thường 10-30 triệu USD và gấp ba lần thiệt hại thực tế.
Ở nhiều quốc gia, khi quyền sở hữu trí tuệ bị xâm phạm, chủ thể quyền có thể yêu cầu áp dụng đồng thời nhiều biện pháp như hành chính, dân sự, thậm chí hình sự đối với những hành vi nghiêm trọng. Cơ quan hải quan cũng có thể phối hợp kiểm soát hàng hóa xâm phạm ngay từ cửa khẩu. Điều này giúp giảm đáng kể tình trạng sao chép công nghệ và tạo niềm tin để doanh nghiệp tiếp tục đầu tư cho nghiên cứu và đổi mới sáng tạo.
Quan trọng hơn, các quốc gia này luôn gửi một thông điệp rất rõ ràng: chi phí để nghiên cứu một công nghệ mới phải thấp hơn chi phí để đánh cắp công nghệ đó. Khi người sáng tạo được bảo vệ, họ sẽ tiếp tục đầu tư cho nghiên cứu; doanh nghiệp mạnh dạn đầu tư dài hạn; còn người tiêu dùng được tiếp cận những sản phẩm an toàn, chất lượng và có nguồn gốc rõ ràng.
– Luật và các chế tài đã có, vì sao trên thực tế nhiều đơn vị vẫn ngang nhiên vi phạm sáng chế nhưng khó xử lý?
– Theo tôi, có nhiều nguyên nhân khiến hành vi xâm phạm sáng chế trên thực tế vẫn còn xảy ra và việc xử lý trong nhiều trường hợp gặp không ít khó khăn.
Thứ nhất, sáng chế là tài sản vô hình. Nếu như hàng giả về nhãn hiệu có thể nhận biết bằng tên gọi hoặc dấu hiệu bên ngoài, sáng chế lại nằm ở giải pháp kỹ thuật, cấu tạo, quy trình hoặc nguyên lý hoạt động. Muốn xác định có xâm phạm hay không thường phải có quá trình phân tích chuyên môn, đối chiếu từng đặc điểm kỹ thuật và trong nhiều trường hợp cần đến ý kiến chuyên gia hoặc giám định.
Thứ hai, người vi phạm thường không sao chép nguyên trạng, mà chỉ thay đổi một số chi tiết về hình thức hoặc kết cấu để tạo cảm giác khác biệt. Tuy nhiên, việc có xâm phạm hay không phải được đánh giá trên cơ sở phạm vi bảo hộ của sáng chế và các dấu hiệu kỹ thuật được bảo hộ, chứ không chỉ dựa vào hình thức bên ngoài. Chính vì vậy, việc đánh giá thường phức tạp và đòi hỏi chuyên môn sâu.
Thứ ba, quá trình thu thập chứng cứ và chứng minh hành vi xâm phạm thường tốn nhiều thời gian, chi phí và nguồn lực. Chủ sở hữu quyền phải chủ động theo dõi thị trường, lưu giữ tài liệu, thu thập mẫu sản phẩm, chuẩn bị hồ sơ kỹ thuật và thực hiện các thủ tục theo quy định của pháp luật để bảo vệ quyền của mình.
Khi công nghệ ngày càng phát triển và được lan truyền nhanh, việc sao chép hoặc biến đổi công nghệ cũng diễn ra nhanh hơn, đặt ra yêu cầu hệ thống thực thi quyền sở hữu trí tuệ phải không ngừng nâng cao năng lực chuyên môn, tăng cường phối hợp giữa các cơ quan và cập nhật kiến thức về công nghệ mới.
Vai trò của cơ quan thực thi lúc này hết sức quan trọng. Nếu không phải chuyên gia, họ phải dựa rất nhiều vào kết luận chuyên môn. Nếu kết luận rõ ràng, khoa học, có tính thuyết phục cao, cơ quan thực thi sẽ mạnh dạn xử lý. Ngược lại, nếu kết luận còn nhiều cách hiểu, nhiều cách diễn giải, chồng chéo, thiếu phân tích bản chất kỹ thuật, việc xử lý thường bị kéo dài, khiến các doanh nghiệp thiệt hại nặng nề.
Khó nhất trong bảo vệ sáng chế không phải là chứng minh ai giống ai, mà là chứng minh ai đã sử dụng đúng bản chất của giải pháp kỹ thuật được pháp luật bảo hộ.
– Tình trạng vi phạm bản quyền không được xử lý nghiêm có thể dẫn đến nguy cơ gì?
– Hậu quả theo tôi rất nghiêm trọng. Một nhà sáng chế phải đầu tư rất nhiều năm nghiên cứu, thử nghiệm, đăng ký bảo hộ sở hữu trí tuệ, xây dựng nhà máy, đào tạo nhân sự, phát triển hệ thống phân phối và giáo dục thị trường với chi phí rất lớn và kéo dài. Khi một sản phẩm sáng tạo chưa được thị trường biết đến, nhà sáng chế phải đối mặt với khó khăn về vốn, nghiên cứu và xây dựng niềm tin. Nhưng khi sản phẩm bắt đầu được thị trường chấp nhận thì lại phải đối mặt thách thức bị sao chép.
Đây là nghịch lý rất lớn của đổi mới sáng tạo. Nhà sáng chế phải mất nhiều năm, thậm chí hàng chục năm để nghiên cứu, thử nghiệm, hoàn thiện công nghệ, đăng ký bảo hộ sở hữu trí tuệ, xây dựng thương hiệu và giáo dục thị trường. Ngược lại, một đơn vị sao chép chỉ cần thời gian rất ngắn để bắt chước hình thức bên ngoài của sản phẩm và đưa ra thị trường với chi phí thấp hơn rất nhiều. Tất nhiên, với sản phẩm sao chép tôi tin chất lượng kém so với hàng thật, ảnh hưởng người tiêu dùng.
Việc các đơn vị làm giả hoặc sao chép thường không phải đầu tư cho nghiên cứu, thử nghiệm, trả chi phí sở hữu trí tuệ và cũng không phải gánh rủi ro thất bại trong quá trình phát triển sản phẩm, tạo ra môi trường cạnh tranh bất bình đẳng. Nếu tình trạng này kéo dài, doanh nghiệp sáng tạo sẽ dần mất thị phần, giảm nguồn lực cho R&D, thậm chí có thể buộc phải thu hẹp hoạt động hoặc rời bỏ thị trường. Nói cách khác, sản phẩm giả không chỉ lấy đi doanh thu của doanh nghiệp sáng tạo mà còn làm suy giảm niềm tin của xã hội vào khoa học và đổi mới sáng tạo.
Về lâu dài, thiệt hại không chỉ thuộc về một nhà sáng chế. Nó còn là sự mất mát của cả nền khoa học và động lực đổi mới sáng tạo của quốc gia. Vấn đề càng quan trọng khi bảo hộ và thực thi quyền sở hữu trí tuệ trở thành yếu tố chiến lược trong thương mại quốc tế, không còn chỉ là tranh chấp giữa các doanh nghiệp.
– Bà có nhắc đến yếu tố quốc gia. Ở góc độ này, thiệt hại lớn thế nào?
– Ở góc độ quốc gia, nếu hàng giả và hành vi sao chép không được kiểm soát hiệu quả, động lực đầu tư cho nghiên cứu và đổi mới sáng tạo sẽ suy giảm. Các nhà sáng chế sẽ ngần ngại công bố công nghệ mới, doanh nghiệp sẽ giảm đầu tư cho nghiên cứu dài hạn và nền kinh tế sẽ khó hình thành các thương hiệu công nghệ có năng lực cạnh tranh quốc tế.
Khi đó, nền kinh tế sẽ rơi vào vòng luẩn quẩn: người tạo ra giá trị bị tổn thương, người sao chép được hưởng lợi, động lực đổi mới sáng tạo suy giảm và số lượng công nghệ có giá trị được tạo ra ngày càng ít đi.
Một quốc gia không bảo vệ được người sáng tạo sẽ rất khó trở thành quốc gia sáng tạo. Khi nhà sáng chế không còn niềm tin rằng thành quả nghiên cứu của mình được bảo vệ, họ sẽ ngừng đầu tư cho những ý tưởng mới, đó mới là tổn thất lớn nhất. Hàng giả làm mất doanh thu của doanh nghiệp, nhưng ở cấp độ quốc gia, nó làm mất niềm tin của quốc tế vào môi trường đổi mới sáng tạo của Việt Nam.
Mỗi sáng chế thành công là kết quả của hàng chục năm nghiên cứu, hàng nghìn ngày thử nghiệm và nguồn lực rất lớn của doanh nghiệp. Nếu người làm thật không thể sống được bằng sáng tạo của mình, còn người sao chép lại thu lợi từ thành quả đó, cuối cùng thị trường sẽ mất đi chính những người tạo ra công nghệ mới.
– Trong bối cảnh hiện nay, theo bà giải pháp là gì?
– Trên bình diện quốc tế, hầu hết các quốc gia phát triển đều xây dựng hệ thống thực thi quyền sở hữu trí tuệ dựa trên các nguyên tắc của Hiệp định TRIPS (Trade Related Intellectual Property Rights) của WTO và các điều ước do Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO) quản lý. Chủ sở hữu sáng chế được quyền yêu cầu áp dụng đồng thời nhiều cơ chế bảo vệ như yêu cầu chấm dứt hành vi xâm phạm, bồi thường thiệt hại, thu giữ hoặc tiêu hủy hàng hóa vi phạm, áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời để ngăn chặn thiệt hại tiếp tục xảy ra, kiểm soát hàng hóa tại biên giới. Đối với các hành vi nghiêm trọng theo pháp luật từng quốc gia, có thể bị xử lý hình sự.
Tại Việt Nam, Luật Sở hữu trí tuệ đã được sửa đổi, bổ sung nhiều lần, cùng với các văn bản hướng dẫn thi hành, đã quy định tương đối đầy đủ các biện pháp bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ. Chủ sở hữu quyền có thể yêu cầu áp dụng các biện pháp dân sự, hành chính, kiểm soát tại biên giới. Trong trường hợp hành vi đủ yếu tố cấu thành tội phạm, có thể bị xem xét trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.
Tuy nhiên, theo tôi, điều quan trọng không chỉ là có quy định pháp luật, mà còn cần nâng cao hiệu quả thực thi trên thực tế. Muốn khoa học và công nghệ phát triển mạnh, cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống theo một số định hướng:
Rút ngắn thời gian xử lý các vụ việc xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, bởi đối với doanh nghiệp công nghệ, thời gian cũng là tài sản.
Tăng cường năng lực chuyên môn của đội ngũ giám định, thực thi và xét xử đối với các tranh chấp có yếu tố kỹ thuật phức tạp, đặc biệt là sáng chế và công nghệ cao.
Đẩy mạnh các biện pháp khẩn cấp tạm thời khi có căn cứ rõ ràng về nguy cơ xâm phạm, nhằm hạn chế việc hàng hóa tiếp tục lưu thông trong thời gian chờ giải quyết.
Tăng cường phối hợp giữa các cơ quan quản lý, cơ quan thực thi, hải quan, lực lượng quản lý thị trường và tòa án để bảo vệ quyền một cách thống nhất và hiệu quả.
Khuyến khích doanh nghiệp xây dựng chiến lược sở hữu trí tuệ ngay từ đầu, bao gồm đăng ký quyền, quản trị bí mật kinh doanh, lưu giữ chứng cứ nghiên cứu và chủ động giám sát thị trường.
Nâng cao nhận thức của xã hội rằng tôn trọng tài sản trí tuệ chính là tôn trọng lao động sáng tạo và góp phần xây dựng môi trường cạnh tranh lành mạnh.
Theo tôi, trong kỷ nguyên kinh tế tri thức, tài nguyên có thể cạn kiệt nhưng tri thức có thể sinh sôi không giới hạn. Vì vậy, muốn đất nước phát triển bằng khoa học và công nghệ thì trước hết phải xây dựng một môi trường mà ở đó người sáng tạo được bảo vệ, doanh nghiệp đổi mới sáng tạo được bảo vệ và thành quả nghiên cứu được pháp luật bảo vệ một cách hiệu quả.
Đầu tư cho nghiên cứu là gieo hạt. Bảo vệ sở hữu trí tuệ là giữ mảnh đất để hạt giống ấy nảy mầm, lớn lên và trở thành những doanh nghiệp công nghệ, những thương hiệu quốc gia, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh, thu hút đầu tư chất lượng cao và củng cố vị thế của Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu.
– Kết luận số 51-KL/TW của Bộ Chính trị được ban hành nhằm đẩy mạnh công tác sở hữu trí tuệ phục vụ phát triển kinh tế – xã hội trong tình hình mới, bà kỳ vọng thế nào?
– Kết luận 51-KL/TW xác định quyền SHTT là “nguồn lực quan trọng của quốc gia” và yêu cầu xây dựng văn hóa tôn trọng sáng tạo, xử lý nghiêm hành vi xâm phạm SHTT. Là một doanh nghiệp khoa học và công nghệ, tôi kỳ vọng Kết luận 51-KL/TW sẽ tiếp thêm niềm tin cho những người dám đầu tư vào nghiên cứu. Phát triển một sáng chế có thể mất nhiều năm, nhưng nếu quyền sở hữu trí tuệ không được bảo vệ thì động lực sáng tạo sẽ bị suy giảm. Tôi mong Kết luận sẽ góp phần xây dựng một môi trường mà tri thức được tôn trọng, sáng tạo được bảo vệ và đổi mới sáng tạo được lan tỏa thành sức mạnh cạnh tranh của đất nước.
Muốn Việt Nam trở thành quốc gia đổi mới sáng tạo, theo tôi cần phải bảo vệ được người sáng tạo. Chỉ khi trí tuệ được bảo vệ, khoa học mới phát triển, doanh nghiệp mới dám đầu tư và đất nước mới có thể cạnh tranh bằng công nghệ thay vì chỉ bằng chi phí.
Reid Wiseman (NASA) đang trong chuyến bay ngày thứ hai hướng tới Mặt Trăng cùng với phi công Victor Glover (NASA), chuyên gia nhiệm vụ Christina Koch (NASA) và chuyên gia nhiệm vụ Jeremy Hansen (Cơ quan Vũ trụ Canada CSA). Họ bay trên tàu vũ trụ Orion, rời bệ phóng tại Trung tâm Vũ trụ Kennedy, Florida, hướng tới Mặt Trăng lúc 5h35 sáng 2/4 (giờ Hà Nội).
Trong cuộc trao đổi với trung tâm điều khiển sứ mệnh Artemis II ở Houston đang được livestream trên kênh YouTube của NASA, Wiseman cho biết đã gặp vấn đề liên quan đến một phần mềm có tên Optimus. Tuy nhiên, ông sau đó nêu mối lo ngại đơn giản hơn, là có hai tiến trình Outlook đang chạy trên PCD của ông, cụ thể là trên chiếc Microsoft Surface Pro.
PCD là viết tắt của Personal Computing Device (Thiết bị điện toán cá nhân), là laptop hoặc tablet chuyên dụng được các phi hành gia Artemis II sử dụng để quản lý một số tác vụ nhất định như truy cập email trong suốt sứ mệnh 10 ngày lên Mặt Trăng. Theo Wired, PCD được đánh giá rất quan trọng đối với phi hành đoàn vì đây là thiết bị chính để tương tác với dữ liệu nhiệm vụ và liên lạc trong chuyến bay lịch sử.
"Tôi đang có hai tài khoản Microsoft Outlook, và cả hai đều không hoạt động. Nếu anh/chị nào có thể truy cập từ xa để kiểm tra Optimus cũng như hai tài khoản Outlook, đó là điều tuyệt vời", Wiseman với trung tâm điều khiển.
Ngay sau khi Wiseman báo cáo sự cố, trung tâm đã phản hồi: "Chúng tôi đã hoàn tất việc truy cập từ xa vào PCD của anh. Chúng tôi đã giải quyết được sự cố cho Optimus. Nhưng đối với Outlook, tài khoản đã hiển thị trạng thái ngoại tuyến, điều này là bình thường".
Việc liên lạc sau đó dừng lại. NASA chưa đưa ra bình luận, trong khi Microsoft cho biết "sẽ phản hồi sớm" về vấn đề này.
Theo TechCrunch, sự cố này khá nhỏ nhưng được đánh giá hài hước, bởi không hiếm các trường hợp tương tự xảy ra trên Trái Đất. Trang này đặt nghi vấn liệu Wiseman có cài đặt các tiện ích bổ sung của bên thứ ba gây xung đột với Outlook hay không, thậm chí cho rằng "ai đó đã gửi bản livestream của NASA về vụ phóng tàu dài hàng giờ, khiến dung lượng OneDrive của tài khoản bị vượt quá giới hạn.
Việc Outlook ngoại tuyến không phải là thử thách duy nhất mà các phi hành gia phải đối mặt. Ngay sau khi cất cánh, nhà vệ sinh của họ bị hỏng. Nói với Space, phát ngôn viên NASA Gary Jordan, cho biết quạt thông gió của nhà vệ sinh trên tàu Orion bị kẹt, hiện đội giải quyết sự cố mặt đất đang hướng dẫn cách tiếp cận quạt và làm sạch khu vực này.
Microsoft Outlook ra đời năm 1997, là một trong những ứng dụng quản lý email và công việc phổ biến nhất thế giới. Outlook không chỉ dừng lại ở việc gửi và nhận email, Outlook dần nâng cấp, giúp quản lý thông tin cá nhân như lịch làm việc, danh bạ, quản lý tác vụ hay ghi chú. Ứng dụng cũng hỗ trợ đồng bộ đa nền tảng, khả năng lọc thư rác, tìm kiếm thông minh và tích hợp sâu với các dịch vụ khác trong hệ sinh thái Microsoft như Microsoft Exchange hay Microsoft Teams.
Các sự cố kể trên gợi nhớ đến "dấu gạch ngang đắt nhất lịch sử". Năm 1962, tàu vũ trụ Mariner 1 của NASA đã bị phá hủy có chủ đích sau khi phóng do lỗi hệ thống dẫn đường. Nguyên nhân bắt nguồn từ một ký tự gạch ngang (-) bị thiếu trong mã viết tay khiến tên lửa Atlas Agena chệch hướng và nhận lệnh tự hủy chỉ sau 293 giây bay. Thất bại của nhiệm vụ này gây thiệt hại 18,5 triệu USD, tương đương hơn 200 triệu USD ngày nay.
Bảo Lâm tổng hợp
Chương trình Mặt Trăng mới của Mỹ khác gì 54 năm trước?
Tàu Orion rời quỹ đạo Trái Đất tiến đến Mặt Trăng
Những 'ông lớn' tham gia chế tạo tên lửa và tàu vũ trụ trong Artemis II
Phi hành gia Artemis II mang iPhone vào vũ trụ
Mỹ triển khai 'máy bay 737 bí mật nhất thế giới' cho vụ phóng Artemis II
Nhiều thiết bị công nghệ và đồ dùng gia đình như tủ lạnh, máy giặt, máy sấy và Smart TV thường xuyên tiêu thụ điện năng ngay cả khi không sử dụng. Đây là lý do khiến nhiều người có thói quen rút phích cắm TV khi không sử dụng trong thời gian dài, chẳng hạn như khi đi nghỉ.
Mặc dù vậy, các chuyên gia cho rằng hành động này là không cần thiết. Nguyên nhân vì các mẫu Smart TV đời mới được thiết kế để tiết kiệm năng lượng và thường có chế độ chờ, cho phép chúng tiêu thụ một lượng điện năng rất nhỏ. Một số dòng Smart TV, như Samsung The Frame, thậm chí còn có thể hiển thị hình ảnh nghệ thuật khi ở chế độ chờ, tạo cảm giác như một bức tranh treo tường.
Nếu muốn tiết kiệm năng lượng hơn nữa, người dùng có thể tắt hoàn toàn chế độ chờ trong phần cài đặt TV. Tuy nhiên, việc rút phích cắm hoàn toàn không phải là điều cần thiết. Hành động này có thể gây ra một số bất tiện, như làm mất đồng hồ bên trong hoặc ngắt kết nối mạng, từ đó ảnh hưởng đến khả năng cập nhật phần mềm.
Trong thực tế, mặc dù việc rút phích cắm Smart TV có thể giúp tiết kiệm một chút điện năng, nhưng con số này không đáng kể. Ví dụ, một chiếc TV LG G5 OLED chỉ tiêu thụ dưới 0,5W khi ở chế độ chờ, tương đương khoảng chưa đến 5kW mỗi năm, hoặc dưới 20.000 đồng. Thay vào đó, người dùng nên xem xét việc rút phích cắm các thiết bị tiêu thụ điện năng khác như máy tính, bộ sạc điện thoại hay máy pha cà phê để tiết kiệm nhiều hơn.
Tóm lại, nếu không sử dụng TV trong thời gian dài và lo ngại về việc tiêu thụ điện năng, hãy rút phích cắm. Nhưng nếu không, việc để TV ở chế độ chờ hoặc tắt hoàn toàn chế độ này là đủ để tiết kiệm năng lượng mà không cần phải rút phích cắm thường xuyên.
Tại triển lãm công nghệ lớn nhất châu Á này, ABB Robotics - tập đoàn hàng đầu thế giới về robot và tự động hóa - đã giới thiệu RobotStudio® HyperReality - nền tảng mô phỏng công nghiệp thế hệ mới được phát triển nhằm đưa AI vào quá trình huấn luyện và vận hành robot.
Bên lề Computex 2026, phóng viên Thanh Niên có cuộc trao đổi với ông Craig McDonnell, Giám đốc Điều hành Khối Ngành công nghiệp của ABB Robotics, về tương lai của AI Robotics trong ngành điện tử cũng như vị thế của Việt Nam trong làn sóng sản xuất thông minh đang hình thành trên toàn cầu.
Theo ông McDonnell, ngành điện tử toàn cầu đang phải đối mặt với nhiều áp lực cùng lúc, từ nhu cầu thị trường tăng nhanh, sự dịch chuyển chuỗi cung ứng cho đến tốc độ đổi mới sản phẩm ngày càng cao.
"Điều chúng tôi đang chứng kiến là sự hội tụ của nhiều xu hướng cùng lúc. Thị trường điện tử đang mở rộng rất nhanh. Không còn chỉ là câu chuyện của điện tử tiêu dùng nữa mà còn là câu chuyện của hạ tầng tính toán phục vụ AI", ông McDonnell nói.
Theo ABB Robotics, sự bùng nổ của AI đang kéo theo nhu cầu rất lớn đối với máy chủ AI, trung tâm dữ liệu, thiết bị mạng và các linh kiện điện tử liên quan. Điều đó khiến vòng đời sản phẩm ngày càng ngắn lại.
"5 năm trước, các nhà sản xuất có thể thay đổi một nền tảng sản phẩm điện tử sau mỗi 3 - 5 năm. Ngày nay, chu kỳ đó chỉ còn khoảng 1 năm đến 1 năm rưỡi. Điều này có nghĩa các nhà sản xuất phải tái cấu hình dây chuyền nhanh hơn, thường xuyên hơn và phải xử lý nhiều biến thể sản phẩm hơn trước đây", ông nói.
Song song đó là quá trình tái cấu trúc chuỗi cung ứng toàn cầu. "Chúng tôi chứng kiến rất nhiều hoạt động sản xuất dịch chuyển từ Trung Quốc sang Việt Nam. Điều đó tạo ra cơ hội lớn, nhưng đồng thời cũng đặt ra thách thức trong việc xây dựng chuỗi cung ứng và hệ sinh thái sản xuất tại địa phương", ông McDonnell nhận định.
Theo ABB Robotics, những áp lực này đang thúc đẩy nhu cầu ứng dụng AI và tự động hóa trong ngành điện tử.
Một trong những công nghệ được ABB Robotics giới thiệu tại Computex năm nay là RobotStudio® HyperReality - nền tảng mô phỏng được phát triển nhằm thu hẹp khoảng cách giữa thế giới số và môi trường sản xuất thực tế.
Theo ông McDonnell, muốn xây dựng được các hệ thống robot ứng dụng AI thì trước tiên phải có môi trường mô phỏng đủ chính xác để robot có thể học tập.
"Ở cốt lõi của các hệ thống robot ứng dụng AI là khả năng tạo ra môi trường mô phỏng để đào tạo robot. Tuy nhiên, trong nhiều năm qua, công nghệ mô phỏng gặp hạn chế vì chưa tạo ra được dữ liệu tổng hợp đủ chính xác để AI có thể học hỏi hiệu quả", ông giải thích.
Đó chính là bài toán mà ABB Robotics muốn giải quyết bằng RobotStudio® HyperReality.
"Với RobotStudio® HyperReality, chúng tôi đã thu hẹp đáng kể khoảng cách giữa mô phỏng và thực tế. Trong môi trường sản xuất điện tử, chúng tôi hiện có thể tạo ra các hệ thống mà dữ liệu mô phỏng đạt mức tương quan tới 99% so với điều kiện vận hành ngoài thực tế", ông McDonnell cho biết.
Theo lãnh đạo ABB Robotics, giá trị lớn nhất của công nghệ này không nằm ở bản thân mô phỏng mà ở cách nó thay đổi toàn bộ quy trình phát triển sản xuất.
"Điều đó có nghĩa là các doanh nghiệp không cần phải chờ chiếc điện thoại hay linh kiện đó thực sự xuất hiện mới bắt đầu xây dựng dây chuyền sản xuất. Họ có thể phát triển chuỗi cung ứng và môi trường sản xuất song song hoàn toàn trên dữ liệu mô phỏng", ông nói.
Thay vì lắp đặt dây chuyền rồi tiếp tục điều chỉnh trong nhiều tháng, doanh nghiệp có thể huấn luyện robot, kiểm tra các tình huống phát sinh và tối ưu hóa toàn bộ quy trình ngay trong môi trường số.
"Bạn có thể đào tạo hoàn chỉnh hệ thống và xử lý các tình huống phát sinh trong sản xuất trước. Khi bắt đầu sản xuất thực tế từ ngày đầu tiên, dây chuyền đã được tối ưu thay vì phải mất thêm 5 - 6 tháng để tiếp tục điều chỉnh", ông McDonnell cho biết.
Theo ABB Robotics, năng lực này có thể giúp một số nhà sản xuất điện tử rút ngắn tới một nửa thời gian đưa sản phẩm ra thị trường và giảm chi phí tới 40%, trong bối cảnh vòng đời sản phẩm ngày càng bị rút ngắn.
Trong cuộc trao đổi với PV Thanh Niên, ông McDonnell dành nhiều đánh giá tích cực cho thị trường Việt Nam. "Đối với ABB Robotics, Việt Nam là một thị trường tăng trưởng rất nhanh. Nếu nhìn ở góc độ tổng thể, tôi cho rằng Việt Nam đang ở vị thế rất thuận lợi để đón nhận làn sóng thay đổi mới được thúc đẩy bởi AI, robot và sự kết hợp giữa hai yếu tố này", ông nói.
Theo ông McDonell, trong nhiều năm qua Việt Nam đã thu hút được nhiều tập đoàn đa quốc gia lớn trong lĩnh vực điện tử. Quan trọng hơn, quá trình này đã kéo theo sự phát triển của chuỗi cung ứng nội địa.
"Tôi nghĩ đã có những khoản đầu tư rất tốt trong việc xây dựng hệ sinh thái và chuỗi cung ứng trong nước. Nền tảng đã được hình thành và điều đó cho phép Việt Nam phản ứng khá nhanh trước những thay đổi mới của thị trường", ông nhận xét.
Khi được hỏi liệu Việt Nam có thể vượt khỏi vai trò trung tâm lắp ráp để trở thành trung tâm sản xuất điện tử thông minh của khu vực hay không, ông McDonnell đưa ra câu trả lời khá dứt khoát. "Tôi nghĩ Việt Nam thực tế đã bắt đầu quá trình đó rồi", ông nói.
Theo ông, dấu hiệu rõ nhất là xu hướng nội địa hóa ngày càng mạnh mẽ. "Trong khoảng 2 - 3 năm qua, nội địa hóa có lẽ là chủ đề lớn nhất mà chúng tôi quan sát được. Trước đây, tỷ lệ tham gia của chuỗi cung ứng địa phương có thể chỉ ở mức 20 - 30% giá trị sản xuất. Hiện nay, trong một số trường hợp, con số đó đã tăng lên 70 - 80%", ông McDonnell cho biết.
Dù đánh giá cao tiềm năng của Việt Nam, lãnh đạo ABB Robotics cho rằng việc ứng dụng AI trong sản xuất sẽ không diễn ra tự động. Theo ông, thách thức lớn nhất hiện nay không hẳn là công nghệ mà là tốc độ thay đổi.
"Việt Nam đang trải qua rất nhiều thay đổi cùng lúc. Nhiều doanh nghiệp vẫn đang trong giai đoạn đầu tư mạnh cho tự động hóa. Giờ đây họ lại phải tiếp tục đầu tư cho AI và tự động hóa thế hệ mới. Thách thức lớn nhất là làm sao quản lý được tốc độ thay đổi và sự phức tạp đó", ông nhận định.
Bên cạnh đó là câu chuyện về nguồn nhân lực. "Tôi cho rằng các kỹ năng số sẽ đóng vai trò cốt lõi. Doanh nghiệp cần những người hiểu sâu về robot, đồng thời hiểu cách khai thác dữ liệu mô phỏng và các hệ thống AI để nâng cao hiệu quả sản xuất. Những năng lực này đang phát triển nhưng cần thời gian để xây dựng", ông nói.
Tuy nhiên, ông McDonnell cho rằng AI Robotics không phải sân chơi chỉ dành cho các tập đoàn lớn. "Đó không phải câu chuyện của doanh nghiệp lớn hay nhỏ. Chúng tôi đang nhìn thấy lợi ích ở cả hai nhóm", ông nói. Theo ông, các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong chuỗi cung ứng điện tử thậm chí có thể hưởng lợi đáng kể từ các hệ thống robot linh hoạt ứng dụng AI, đặc biệt trong các mô hình sản xuất nhiều chủng loại sản phẩm nhưng sản lượng không quá lớn.
Kết thúc cuộc trao đổi, ông McDonnell cho rằng Việt Nam đang sở hữu một lợi thế mà không phải quốc gia nào cũng có. "Điều tuyệt vời trong vị thế hiện tại của Việt Nam là quốc gia đã xây dựng được một hệ sinh thái sản xuất đủ lớn. Điều đó đồng nghĩa Việt Nam có thể tạo ra lượng dữ liệu và kinh nghiệm sản xuất cần thiết để đứng ở tuyến đầu của cuộc cách mạng AI vật lý. Đây là một vị thế rất tốt để bắt đầu, nhưng sẽ cần những bước đi táo bạo để nắm bắt cơ hội này”, ông nói.