Chuẩn bị công tác khám sức khỏe miễn phí cho 15 triệu dân TP.HCM trong năm 2026, ngày 8-4 Thành ủy TP.HCM tổ chức hội thảo góp ý Đề án tổ chức khám sức khỏe và khám sàng lọc cho người dân TP.HCM giai đoạn 2026-2030.
Tại hội thảo, Sở Y tế TP.HCM đề xuất ưu tiên khám, tầm soát nhóm bệnh lý có thể triển khai khám diện rộng, gánh nặng bệnh tật cao, không chi ngân sách làm xét nghiệm đại trà mà có chọn lọc phù hợp.
Ông Nguyễn Anh Dũng, Phó giám đốc Sở Y tế TP.HCM, cho hay TP là đô thị đặc biệt với quy mô dân số hơn 15 triệu người, mật độ dân cư cao, cơ cấu dân số đa dạng và mức độ di biến động lớn, dẫn đến nhu cầu chăm sóc sức khỏe ngày càng gia tăng.
Trong khi đó, mô hình bệnh tật đang chuyển dịch với gánh nặng kép giữa bệnh truyền nhiễm và bệnh không lây nhiễm, đặc biệt ở nhóm người cao tuổi. Trước bối cảnh này, hệ thống y tế không chỉ tập trung vào điều trị khi người dân đã mắc bệnh mà cần chuyển sang mô hình quản lý sức khỏe toàn diện theo vòng đời, trong đó phát hiện sớm nguy cơ, sàng lọc sớm và quản lý sớm đóng vai trò then chốt.
Đề án được dựa trên quan điểm chỉ đưa vào gói tầm soát công cộng những bệnh hoặc tình trạng có chứng cứ khoa học, có khả năng triển khai ở quy mô dân số và có năng lực chẩn đoán xác định, điều trị tiếp nối. Ưu tiên nhóm can thiệp có hiệu quả chi phí tốt, gánh nặng bệnh tật cao, thủ thuật hợp lý với tuyến y tế cơ sở, khả năng mở rộng trong năm 2026.
Trong giai đoạn trước mắt, đặc biệt năm 2026, TP.HCM tập trung hoàn thiện các quy định chuyên môn, cơ chế tài chính, triển khai gói khám sức khỏe cơ bản và xây dựng hồ sơ sức khỏe điện tử. Đến năm 2027 hình thành mạng lưới cơ sở tham gia chương trình theo mô hình phi địa giới, bao phủ đầy đủ các tuyến và các cụm dân cư đông dân, khu công nghiệp, khu chế xuất, trường học, cơ sở bảo trợ…
Đến năm 2028, triển khai ổn định các chương trình tầm soát có chứng cứ mạnh và khả năng mở rộng tốt gồm: tăng huyết áp, đái tháo đường/nguy cơ tim mạch, ung thư cổ tử cung, ung thư vú, ung thư đại trực tràng, viêm gan vi rút và lao theo nhóm đích.
Đến năm 2030, hướng đến hệ thống điều phối điện tử, tự động hóa, hướng đến chủ động mời người dân tham gia khám và tầm soát dựa trên nền tảng số.
Phó giám đốc Sở Y tế TP.HCM cho hay nhóm bệnh có thể triển khai khám diện rộng ngay gồm: tăng huyết áp và đái tháo đường (nhóm nguy cơ cao, người trên 40 tuổi), ung thư cổ tử cung (phụ nữ từ 30-65 tuổi, chu kỳ năm năm).
Nhóm bệnh lý ưu tiên theo nhóm đích và chiến dịch gồm: ung thư vú và đại trực tràng (người 50-70 tuổi, FIT test, nhũ ảnh), lao và viêm gan B, C (khu vực nguy cơ, nhóm dễ bị bỏ sót); sức khỏe tâm thần, mắt, răng hàm mặt…
Tuyệt đối không chi ngân sách làm đại trà xét nghiệm PSA (tuyến tiền liệt), đo thính lực, nhãn áp vô tội vạ cho toàn dân khi không có triệu chứng hoặc yếu tố nguy cơ, chỉ làm khi có chỉ định.
Sở Y tế kiến nghị UBND TP.HCM chấp thuận chủ trương xây dựng và trình HĐND TP một đề án hoặc nghị quyết chuyên đề về cơ chế tài chính cho khám sức khỏe định kỳ, sàng lọc nguy cơ và tầm soát bệnh ưu tiên; phấn đấu hoàn thành hồ sơ trình trong tháng 5-2026.
Đồng thời kiến nghị cho phép thí điểm ngay trong năm 2026 cơ chế chi trả dịch vụ công – tư theo kết quả hoàn thành gói dịch vụ tại một số cụm dân cư, khu công nghiệp, bệnh viện và phòng khám ngoài công lập đủ điều kiện. Bộ Y tế hỗ trợ TP về hướng dẫn chuyên môn thống nhất, chuẩn dữ liệu và cơ chế liên thông đối với hồ sơ sức khỏe điện tử và các chương trình sàng lọc trọng điểm.
Ông Diệp Bảo Tuấn, Giám đốc Bệnh viện Ung bướu TP.HCM, cũng cho hay hiện nay ở nam phổ biến là các loại ung thư như: gan, phổi, dạ dày, trực tràng, tiền liệt tuyến, ở nữ là ung thư vú, phổi, đại trực tràng, dạ dày và gan.
Sàng lọc ung thư là phát hiện sớm tế bào bất thường, tế bào ung thư khi chưa có triệu chứng, mục tiêu phát hiện sớm, điều trị hiệu quả hơn và giảm tỉ lệ tử vong. Về nhóm đối tượng tầm soát nguy cơ cao gồm: tiền sử cá nhân, tiền sử gia đình, đột biến gene, tiếp xúc với tác nhân như khói thuốc, hóa chất, cục máu đông, lớn tuổi.
Trong đó, ông Tuấn nhấn mạnh mọi phụ nữ hiện nay đều có nguy cơ mắc ung thư vú, bệnh tăng theo tuổi và xuất hiện thêm các yếu tố nguy cơ như: di truyền, tiền sử và lối sống.
Trong khi đó, vai trò của siêu âm trong sàng lọc ung thư vú rất quan trọng, có thể làm ngay tại tuyến y tế cơ sở với chi phí thấp, dễ triển khai, không gây đau, không tia X, tăng tỉ lệ tham gia tầm soát…
Sàng lọc ung thư vú ở nữ dưới 40 tuổi gồm khám với chi phí 50.600 đồng và siêu âm tuyến vú 58.600 đồng, tổng chi phí là 109.200 đồng. Đối với nữ từ 40 tuổi trở lên, ngoài khám 50.600 đồng và siêu âm tuyến vú 58.600 đồng còn thực hiện nhũ ảnh hai bên với chi phí 102.300 đồng mỗi bên (tổng 204.600 đồng), do đó tổng chi phí là 313.800 đồng.
Kết quả nghiên cứu cho thấy bệnh nhân dùng daraxonrasib sống trung bình 13,2 tháng, gần gấp đôi so với 6,7 tháng ở nhóm hóa trị. Nghiên cứu được công bố trên Tạp chí Y học New England và trình bày tại hội nghị của Hiệp hội Ung thư Lâm sàng Hoa Kỳ ở Chicago.
“Đây không phải thuốc chữa khỏi ung thư nhưng là một bước tiến rất lớn”, TS Zev Wainberg, chuyên gia tại Đại học California, Los Angeles (Mỹ), đồng tác giả nghiên cứu, nhận định.
Theo ông, mức cải thiện vài tháng có thể không quá nổi bật ở một số loại ung thư khác. Tuy nhiên, với ung thư tuyến tụy giai đoạn muộn - căn bệnh vốn có tiên lượng xấu - kết quả này đặc biệt đáng khích lệ.
Daraxonrasib là thuốc uống hằng ngày do Revolution Medicines phát triển. Thuốc nhắm vào các đột biến thuộc họ gen RAS, đặc biệt là KRAS, vốn xuất hiện trong hơn 90% trường hợp ung thư tuyến tụy. Đây là nhóm đột biến từ lâu được xem là rất khó tác động bằng thuốc.
Nghiên cứu được thực hiện trên 500 bệnh nhân ung thư tuyến tụy di căn đã điều trị trước đó nhưng bệnh vẫn tiến triển. Người tham gia được chia ngẫu nhiên thành hai nhóm: một nhóm sử dụng daraxonrasib, nhóm còn lại tiếp tục hóa trị.
TS Rachna Shroff, Trung tâm Ung thư Đại học Arizona, người không tham gia nghiên cứu, cho biết bà rất xúc động khi nhìn thấy kết quả. Theo bà, điều đáng mừng là nhiều bệnh nhân có thể tiếp tục điều trị lâu hơn nhờ thuốc mang lại lợi ích có ý nghĩa.
Dù vậy, các nhà nghiên cứu lưu ý tác dụng của daraxonrasib không kéo dài vĩnh viễn. Hiệu quả điều trị có thể giảm dần theo thời gian. Tuy nhiên, so với hóa trị, bệnh nhân dùng thuốc vẫn có thời gian điều trị dài hơn, ít đau hơn và chất lượng cuộc sống được cải thiện khi khối u thu nhỏ.
Một số bệnh nhân vẫn tiếp tục dùng daraxonrasib sau thời điểm nhóm nghiên cứu phân tích dữ liệu. Vì vậy, các nhà khoa học cho rằng khoảng cách về thời gian sống giữa hai nhóm có thể còn thay đổi khi có thêm thời gian theo dõi.
TS Brian Wolpin, Viện Ung thư Dana-Farber, nhận định daraxonrasib có thể trở thành tiêu chuẩn điều trị mới cho bệnh nhân ung thư tuyến tụy di căn đã từng điều trị trước đó. Các nhà khoa học cũng sẽ tiếp tục đánh giá khả năng sử dụng thuốc ở giai đoạn sớm hơn.
Hy vọng mới cho căn bệnh thường phát hiện muộn
Một trong những vấn đề đang được nghiên cứu là khả năng thu nhỏ khối u của thuốc có thể mở rộng cơ hội phẫu thuật cho bệnh nhân ung thư tuyến tụy. Với ung thư tuyến tụy, phẫu thuật thường chỉ được cân nhắc khi bệnh chưa lan rộng hoặc khối u còn trong khả năng kiểm soát.
Tuy nhiên, daraxonrasib vẫn có thể gây tác dụng phụ. Các tác dụng phụ được ghi nhận gồm phát ban, trong một số trường hợp có thể nghiêm trọng, và loét miệng. Vì vậy, thuốc cần được sử dụng dưới sự theo dõi chặt chẽ của bác sĩ.
Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Mỹ (FDA) đang cho phép một số bệnh nhân đáp ứng tiêu chí nhất định được tiếp cận mở rộng với thuốc thử nghiệm này.
Ung thư tuyến tụy nguy hiểm chủ yếu vì bệnh thường được phát hiện muộn. Ở giai đoạn đầu, triệu chứng thường mơ hồ, dễ bị nhầm với các vấn đề tiêu hóa thông thường. Khi được chẩn đoán, bệnh nhiều khi đã lan sang cơ quan khác.
Theo Hiệp hội Ung thư Hoa Kỳ, mỗi năm Mỹ ghi nhận khoảng 67.000 ca ung thư tuyến tụy mới và hơn 52.000 ca tử vong. Tỷ lệ sống sau 5 năm chỉ khoảng 13%.
So với nhiều loại ung thư khác, ung thư tuyến tụy hiện có ít lựa chọn điều trị hiệu quả hơn. Vì vậy, kết quả với daraxonrasib được kỳ vọng có thể mở ra hướng đi mới cho nhóm bệnh nhân giai đoạn muộn.
Bên cạnh daraxonrasib, nhiều thuốc khác nhắm vào các phân nhóm KRAS cụ thể cũng đang được phát triển. Một số hướng nghiên cứu khác bao gồm vaccine giúp hệ miễn dịch nhận biết protein đột biến, nhằm giảm nguy cơ tái phát sau phẫu thuật ung thư tuyến tụy.
Đầy bụng là tình trạng khá phổ biến khi ăn rau sống hoặc các loại rau giàu chất xơ như bông cải xanh, bắp cải, măng tây. Tuy nhiên, nguyên nhân thường không phải do “không hợp rau” mà liên quan nhiều hơn đến cách chế biến, tốc độ tăng chất xơ và khả năng thích nghi của hệ tiêu hóa, theo chuyên trang Eating Well (Mỹ).
Dưới đây là những cách giúp tăng hấp thu dinh dưỡng trong rau nhưng lại không gây đầy hơi:
Không phải mọi cách nấu đều giống nhau. Luộc quá lâu có thể làm thất thoát các loại vitamin tan trong nước như vitamin C và folate. Trong khi đó, hấp hoặc xào nhanh ở nhiệt độ vừa phải thường giúp giữ lại dưỡng chất tốt hơn.
Hấp còn giúp làm mềm chất xơ trong rau mà không khiến rau mềm nhũn. Điều này giúp hệ tiêu hóa xử lý thức ăn dễ hơn và giảm cảm giác đầy bụng sau ăn. Nếu thường bị đầy bụng sau khi ăn rau, có thể ưu tiên rau hấp, luộc vừa chín hoặc xào nhanh với ít dầu, hạn chế ăn nhiều rau sống cùng lúc.
Chất xơ rất tốt cho sức khỏe đường ruột nhưng cơ thể cần thời gian để thích nghi. Khi đột ngột ăn nhiều rau hoặc tăng mạnh lượng chất xơ, vi khuẩn đường ruột sẽ lên men nhiều hơn và tạo ra nhiều khí hơn. Đây là lý do nhiều người cảm thấy chướng bụng khi mới chuyển sang chế độ ăn nhiều rau củ.
Nếu trước đây ăn ít rau, nên tăng từ từ trong vài tuần thay vì thay đổi đột ngột. Bắt đầu bằng rau nấu chín và chia đều lượng rau trong ngày thường giúp cơ thể thích nghi dễ hơn.
Một số vitamin trong rau là vitamin tan trong chất béo, chẳng hạn vitamin A, E và K. Nếu chỉ ăn rau mà không có chất béo, cơ thể có thể hấp thu các vitamin này kém hơn.
Do đó, thêm một lượng nhỏ chất béo lành mạnh như dầu ô liu, trái bơ, các loại hạt hoặc cá hồi có thể giúp tăng hấp thu vitamin và các hợp chất chống ô xy hóa trong rau. Lưu ý là không cần dùng quá nhiều dầu mỡ, một lượng vừa phải là đủ.
Một nguyên nhân ít được chú ý của đầy bụng là nuốt quá nhiều không khí khi ăn. Ăn quá nhanh, vừa ăn vừa nói chuyện liên tục hoặc ăn trong trạng thái căng thẳng có thể làm nuốt nhiều không khí vào bụng.
Rau xanh thường chứa nhiều chất xơ nên cần được nhai kỹ hơn các thực phẩm mềm. Nếu nhai quá nhanh, dạ dày và ruột sẽ phải làm việc nhiều hơn để xử lý thức ăn, từ đó dễ gây cảm giác nặng bụng hoặc khó tiêu. Ăn chậm, nhai kỹ và không ăn quá no sẽ giúp hệ tiêu hóa hoạt động dễ dàng hơn, theo Eating Well.
Bác sĩ chuyên khoa 1 Lê Cao Trí, Trung tâm Da - U máu, Bệnh viện Đại học Y Dược TP.HCM, cho biết bức xạ tia cực tím (UV) là một trong những tác nhân gây hại phổ biến nhất cho da, đặc biệt vào mùa hè. Tiếp xúc kéo dài mà không bảo vệ đúng cách có thể gây cháy nắng, lão hóa sớm, tăng sắc tố như nám, tàn nhang, thậm chí làm tăng nguy cơ ung thư da. Trong điều kiện khí hậu nhiệt đới như Việt Nam, cường độ tia UV thường ở mức cao, vì vậy việc hiểu đúng cách chọn và sử dụng kem chống nắng là cần thiết với mọi lứa tuổi.
Theo khuyến cáo của Viện Hàn lâm Da liễu Mỹ (AAD), một sản phẩm chống nắng hiệu quả cần đáp ứng 3 tiêu chí: phổ rộng, SPF từ 30 trở lên và có khả năng chống nước. Trong đó, phổ rộng là yếu tố quan trọng nhất vì chỉ khi bảo vệ được cả tia UVA và UVB, sản phẩm mới giúp ngăn ngừa toàn diện cháy nắng, lão hóa và sạm da.
Kem chống nắng SPF 30 có thể chặn khoảng 97% tia UVB, nhưng không có sản phẩm nào bảo vệ tuyệt đối 100%. Khả năng chống nước đặc biệt cần thiết trong mùa nóng khi cơ thể dễ đổ mồ hôi hoặc tiếp xúc nước, với hiệu quả duy trì khoảng 40 - 80 phút tùy loại.
Việc lựa chọn sản phẩm cần phù hợp với từng loại da. Người da dầu hoặc da mụn nên ưu tiên sản phẩm “oil-free”, “non-comedogenic” để tránh bít tắc lỗ chân lông. Da khô nên chọn loại có thêm thành phần dưỡng ẩm. Với da nhạy cảm, kem chống nắng vật lý chứa zinc oxide hoặc titanium dioxide thường ít gây kích ứng hơn và nên tránh sản phẩm có hương liệu.
Hiện nay, kem chống nắng được chia thành 3 dạng: vật lý, hóa học và kết hợp (hybrid). Loại vật lý hoạt động bằng cách phản xạ tia UV, ít gây kích ứng; loại hóa học hấp thụ tia UV, kết cấu nhẹ, dễ tán; còn loại kết hợp mang đặc điểm của cả hai. Cả ba loại đều có thể bảo vệ hiệu quả nếu đáp ứng đủ các tiêu chí cơ bản. Tuy nhiên, không có sản phẩm nào thực sự không thấm nước hoàn toàn hoặc không thấm mồ hôi.
Để đạt hiệu quả tối ưu, kem chống nắng cần được bôi trước khi ra nắng ít nhất 15 phút. Về liều lượng, một người trưởng thành cần khoảng 30 ml để phủ toàn bộ vùng da không được che chắn. Riêng vùng mặt cần khoảng 1/4 muỗng cà phê, hoặc 1/2 muỗng nếu tính thêm cổ và tai.
Trong thực tế, nhiều người thường bỏ sót các vùng dễ tổn thương như tai, sau cổ, mu bàn chân, da đầu (đối với người tóc thưa) và môi. Những vị trí này cần được bôi đầy đủ để đảm bảo hiệu quả bảo vệ.
Ngoài ra, kem chống nắng cần được bôi lại sau mỗi 2 giờ khi ở ngoài trời, hoặc ngay sau khi bơi, đổ mồ hôi nhiều hay lau bằng khăn. Việc sử dụng hằng ngày cũng rất quan trọng, kể cả khi trời râm mát hoặc ở trong nhà gần cửa sổ, vì tia UVA vẫn có thể xuyên qua mây và kính.
Bác sĩ Lê Cao Trí nhấn mạnh, kem chống nắng là biện pháp quan trọng nhưng không nên sử dụng đơn lẻ. Để bảo vệ da hiệu quả trong mùa hè, cần kết hợp thêm các biện pháp che chắn như hạn chế ra nắng trong khung giờ cao điểm từ 10 - 14 giờ, đội mũ rộng vành, mặc quần áo chống nắng, đeo kính râm và sử dụng giày dép phù hợp.
Tuân thủ đúng nguyên tắc lựa chọn và sử dụng kem chống nắng không chỉ giúp phòng tránh cháy nắng trước mắt mà còn góp phần làm chậm lão hóa, giảm nguy cơ ung thư da và duy trì làn da khỏe mạnh lâu dài, đặc biệt trong bối cảnh tia UV ngày càng gia tăng.