Sau 17 năm, Việt Nam vừa chính thức đạt mức thu nhập trung bình cao. Đây là một cột mốc quan trọng trong hành trình phát triển của đất nước, phản ánh sự chuyển mình mạnh mẽ qua nhiều thập kỷ cải cách bền bỉ, tăng trưởng kinh tế vững chắc, với mức sống ngày càng được nâng cao.
Trao đổi với Tuổi Trẻ, bà Mariam J. Sherman cho rằng thành công của mục tiêu này sẽ phụ thuộc vào khả năng duy trì chất lượng tăng trưởng và thúc đẩy cải cách trong giai đoạn tới. Bởi khi một quốc gia phát triển lên tầm cao hơn, bản chất của các thách thức tăng trưởng cũng thay đổi theo.
Và chương tiếp theo của hành trình phát triển sẽ không chỉ được định hình bởi tốc độ mà còn bởi chất lượng của tăng trưởng – yếu tố then chốt trên con đường Việt Nam tiến tới trở thành nền kinh tế thu nhập cao vào năm 2045.
Việc trở thành quốc gia có thu nhập trung bình cao có thể góp phần củng cố thêm niềm tin của cộng đồng quốc tế vào triển vọng kinh tế dài hạn của Việt Nam, đồng thời khẳng định vị thế của đất nước như một điểm đến hấp dẫn cho các nhà đầu tư.
Trong những năm qua, Việt Nam luôn nằm trong nhóm các nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhất khu vực, được thúc đẩy bởi dòng vốn đầu tư nước ngoài ổn định, xuất khẩu tăng mạnh và khu vực dịch vụ trong nước ngày càng phát triển.
Những động lực đưa Việt Nam đến ngưỡng thu nhập trung bình cao vẫn còn nguyên giá trị, song để duy trì tăng trưởng trong tương lai, tăng trưởng sẽ ngày càng phụ thuộc vào năng suất, đổi mới sáng tạo, sự lớn mạnh của doanh nghiệp nội địa và khả năng tạo ra giá trị gia tăng cao hơn trong toàn nền kinh tế.
Chặng đường phía trước để Việt Nam tiến tới trở thành nền kinh tế thu nhập cao vẫn còn nhiều thử thách. Theo ngưỡng phân loại năm nay, thu nhập bình quân đầu người theo GNI của Việt Nam cần tăng gần gấp 3 lần mới đạt mức thu nhập cao.
Điều này giúp lý giải tại sao kể từ năm 1990, chỉ có 27 nền kinh tế chuyển thành công từ nhóm thu nhập trung bình lên nhóm thu nhập cao này. Lưu ý, hơn 1/3 các quốc gia này được hưởng lợi từ những điều kiện đặc thù như gia nhập Liên minh châu Âu hoặc sở hữu nguồn tài nguyên thiên nhiên dồi dào.
Dù vậy Việt Nam có một động lực đáng kể khi đã hội tụ nhiều yếu tố nền tảng quan trọng, bao gồm nhân sự trẻ, kinh tế vĩ mô ổn định, vị trí chiến lược và quan trọng hơn hết là ý chí mạnh mẽ cùng năng lực cải cách, thích ứng đã được chứng minh qua thực tiễn. Đây là những lợi thế mà không phải quốc gia nào cũng có được.
Để hiện thực hóa khát vọng đến năm 2045, Việt Nam cần giải quyết một số thách thức lớn, trong đó có khoảng cách ngày càng rộng giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước.
FDI vẫn là động lực tăng trưởng quan trọng, nhưng giai đoạn phát triển mới đòi hỏi phải củng cố khu vực doanh nghiệp nội địa, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa, để thúc đẩy đổi mới sáng tạo, tạo việc làm chất lượng và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.
Đầu tư công tại Việt Nam đang trở thành đòn bẩy tăng trưởng quan trọng, với kế hoạch vốn giai đoạn 2026-2030 tăng gần gấp ba lần so với 5 năm trước. Tuy nhiên, trọng tâm cần chuyển từ giải ngân nhanh sang tạo ra tác động thực chất thông qua lựa chọn dự án hiệu quả, nâng cao năng lực chuẩn bị đầu tư, cải thiện đấu thầu và xây dựng cơ chế chia sẻ rủi ro để thu hút vốn tư nhân.
Tiếp đến hạ tầng sẽ giữ vai trò trung tâm trong giai đoạn phát triển tiếp theo, trong khi nguồn lực Nhà nước sẽ không đủ đáp ứng nhu cầu dài hạn. Vì vậy cần đổi mới cách tiếp cận tài chính hạ tầng, thu hút vốn tư nhân vào các dự án được chuẩn bị tốt và có tính khả thi, qua đó phát triển hệ thống giao thông, năng lượng và hạ tầng số.
Tăng trưởng dài hạn cũng đòi hỏi đa dạng hóa nguồn vốn, giảm phụ thuộc vào tín dụng ngân hàng. Tiếp tục cải cách thị trường vốn sẽ giúp phân bổ hiệu quả nguồn lực cho các doanh nghiệp năng động, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Bên cạnh đó doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh cần được hỗ trợ bởi nguồn nhân lực chất lượng cao. Đầu tư vào đổi mới sáng tạo, phát triển kỹ năng và ứng dụng công nghệ sẽ giúp doanh nghiệp nâng cao vị trí trong chuỗi giá trị, gia tăng sức cạnh tranh và tạo nhiều việc làm chất lượng.
Cải thiện môi trường pháp lý là cần thiết nhưng chưa đủ. Việt Nam đã đạt được những tiến bộ đáng kể trong cải cách thể chế, nhưng tăng trưởng bền vững xét đến cùng đòi hỏi sự cam kết có hệ thống: từng cấp chính quyền, từng cơ quan, từng chủ thể đều hướng về cùng một mục tiêu phát triển chung.
Với diện tích hơn 6.200 ha, Global Gate Hạ Long có tổng vốn đầu tư 456.639 tỷ đồng, tương ứng gần 18 tỷ USD.
Siêu dự án Vinhomes Global Gate Hạ Long nằm sát trục đường cao tốc kết nối Quảng Ninh, Hải Phòng và Hà Nội. Vị trí này cũng đối diện với nhà ga depot của đường sắt tốc độ cao Hà Nội - Quảng Ninh được khởi công hôm 12/4.
Theo CEO Vinhomes Nguyễn Thu Hằng, giá vé cho những cư dân đầu tiên tại dự án Global Gate Hạ Long dự kiến khoảng 5 triệu đồng một tháng. Mức giá này tương đương hơn 165.000 đồng mỗi ngày. Đây cũng là lần đầu tiên giá vé của một dự án đường sắt cao tốc tại Việt Nam được công bố.
Đường sắt tốc độ cao Hà Nội - Quảng Ninh dài 120 km, tốc độ thiết kế 350 km một giờ. Dự án có 5 nhà gồm Cổ Loa, Gia Bình, Ninh Xá, Yên Tử và Hạ Long Xanh. Sau khi hoàn thành dự kiến vào 2028, tuyến đường sẽ giúp giảm thời gian di chuyển bằng đường bộ giữa Thủ đô và Quảng Ninh từ 2-2,5 giờ xuống còn khoảng 23 phút.
Global Gate Hạ Long là dự án lớn nhất trong số khu vực đang được Vinhomes triển khai, như gấp hơn hai lần Green Paradise Cần Giờ (TP HCM), 6 lần dự án ở đảo Vũ Yên (Hải Phòng).
Theo quy hoạch, dự án này sẽ cung ứng ra thị trường hơn 55.000 sản phẩm, gồm căn hộ, condotel, shophouse, biệt thự và khách sạn, đáp ứng quy mô dân số hơn 244.000 người.
Ngoài các phân khu nhà ở, siêu đô thị biển này còn có hệ sinh thái dịch vụ đa dạng như sân khấu ngoài trời nhìn ra biển, sức chứa hơn 60.000 chỗ ngồi, nhà hát 3.000 chỗ ngồi, trung tâm hội nghị...
Công ty của tỷ phú Phạm Nhật Vượng cũng lên kế hoạch xây dựng hệ thống khách sạn, resort, casino và quần thể 12 sân golf quy mô 950 ha tại siêu dự án này. Khu trung tâm tài chính (CBD) với các tòa cao ốc 30-45 tầng, cung cấp gần 2 triệu m2 sàn văn phòng, kỳ vọng thu hút các tập đoàn đa quốc gia và cộng đồng chuyên gia quốc tế.
Đây được xem là diễn đàn để nhận diện thực trạng, đồng thời đề xuất giải pháp tăng cường liên kết sản xuất, tiêu thụ lúa gạo, hướng đến nâng cao giá trị hạt gạo và xây dựng thương hiệu cho Cà Mau cũng như khu vực Đồng bằng sông Cửu Long.
Phát biểu khai mạc, ông Lê Văn Sử - Phó chủ tịch UBND tỉnh Cà Mau - cho biết Cà Mau có nhiều tiềm năng phát triển ngư, nông, lâm nghiệp. Diện tích lúa toàn tỉnh hơn 185.000ha, trong đó khoảng 50% là mô hình lúa - tôm, sản lượng đạt khoảng 1,8 triệu tấn mỗi năm.
Tuy nhiên tỉ lệ liên kết sản xuất và tiêu thụ còn thấp, mới đạt khoảng 16,7% sản lượng. Tình trạng phá vỡ hợp đồng vẫn xảy ra, mối liên kết giữa các bên còn lỏng lẻo, thiếu ràng buộc pháp lý. Hạ tầng, logistics và cơ giới hóa chưa đồng bộ cũng là rào cản lớn.
Việc triển khai các mô hình lúa chất lượng cao, lúa an toàn, lúa hữu cơ và đặc biệt là mô hình lúa giảm phát thải bước đầu mang lại hiệu quả. Dù vậy quy mô còn hạn chế. Tỉnh đăng ký thực hiện 54.680ha lúa giảm phát thải đến năm 2030 nhưng hiện mới triển khai khoảng 1.380ha, liên kết tiêu thụ trong các mô hình này vẫn chưa ổn định.
Tại hội thảo, nhiều ý kiến đề xuất cần hoàn thiện cơ chế, chính sách hỗ trợ liên kết theo chuỗi giá trị; nâng cao năng lực quản trị hợp tác xã; thu hút doanh nghiệp đầu tư vùng nguyên liệu; đẩy mạnh ứng dụng khoa học - công nghệ, chuyển đổi số; phát triển các mô hình lúa chất lượng cao, phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh.
Tiến sĩ Trần Minh Hải - Phó hiệu trưởng Trường Chính sách công và Phát triển nông thôn - nhìn nhận nông nghiệp Việt Nam nhiều năm qua vẫn đối mặt nghịch lý "được mùa, rớt giá", chi phí đầu vào tăng cao, rủi ro thiên tai, dịch bệnh. Trong khi đó, nông dân dư thừa sản phẩm nhưng doanh nghiệp lại thiếu nguyên liệu đạt chuẩn.
Theo ông Hải, nguyên nhân nằm ở sản xuất còn manh mún, thiếu liên kết và chưa gắn với tín hiệu thị trường. Do đó phát triển chuỗi giá trị với sự tham gia của nông dân, hợp tác xã và doanh nghiệp là hướng đi tất yếu để giải bài toán bền vững.
Ở góc độ doanh nghiệp, cha đẻ thương hiệu gạo ST25 Hồ Quang Cua nhấn mạnh tầm quan trọng của việc đăng ký và bảo hộ thương hiệu. Theo ông, đây không chỉ là thủ tục hành chính mà là "lá chắn pháp lý" để bảo vệ sản phẩm, nhất là trong bối cảnh hội nhập.
Ông cảnh báo nếu không đăng ký bảo hộ tại thị trường xuất khẩu, doanh nghiệp có thể mất quyền sử dụng chính thương hiệu của mình ở nước ngoài, điều từng xảy ra với nhiều nông sản Việt Nam.
Theo Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Cà Mau, liên kết sản xuất và tiêu thụ giúp giảm phụ thuộc thương lái, cắt giảm khâu trung gian, tăng lợi nhuận cho các bên và giúp người tiêu dùng tiếp cận sản phẩm an toàn, rõ nguồn gốc với giá hợp lý.
Hiện đã có nhiều doanh nghiệp tham gia chuỗi giá trị, cung cấp giống, kỹ thuật và hỗ trợ tiêu thụ sản phẩm. Tuy nhiên số doanh nghiệp đầu tư sâu còn ít. Tình trạng phá vỡ hợp đồng khi giá thị trường biến động vẫn phổ biến.
Một khó khăn khác là hạ tầng phục vụ sản xuất lúa chất lượng cao, phát thải thấp chưa đồng bộ. Nhiều công trình thủy lợi, giao thông nội đồng xuống cấp, ảnh hưởng đến việc chủ động nước, cơ giới hóa và vận chuyển nông sản.
Để khắc phục, ngành nông nghiệp tỉnh đề xuất khuyến khích doanh nghiệp liên kết với hợp tác xã trên cơ sở cùng có lợi; thúc đẩy tín dụng theo chuỗi giá trị; nhân rộng các mô hình hiệu quả.
Phát biểu bế mạc, ông Lê Văn Sử - Phó chủ tịch UBND tỉnh Cà Mau - cho biết hoạt động liên kết thời gian qua đã có chuyển biến tích cực, diện tích liên kết mở rộng, số doanh nghiệp và hợp tác xã tham gia tăng, góp phần nâng giá trị sản xuất và ổn định đầu ra.
Thời gian tới, Cà Mau xác định phát triển ngành lúa gạo theo hướng bền vững, chất lượng cao, phát thải thấp, thích ứng biến đổi khí hậu. Trong đó tập trung phát triển mô hình sinh thái như tôm - lúa, ứng dụng khoa học - công nghệ, chuyển đổi số, xây dựng vùng nguyên liệu tập trung có truy xuất nguồn gốc.
Tỉnh cũng xác định đẩy mạnh liên kết "4 nhà", trong đó hợp tác xã là cầu nối tổ chức sản xuất, doanh nghiệp dẫn dắt thị trường, nông dân là chủ thể sản xuất.
Tại hội thảo, các doanh nghiệp và hợp tác xã đã ký kết nhiều biên bản ghi nhớ hợp đồng bao tiêu và liên kết sản xuất, mở ra kỳ vọng cải thiện chuỗi giá trị ngành lúa gạo trong thời gian tới.
UBND tỉnh Khánh Hòa vừa quyết định thu hồi đất diện tích 663,1m2 của Công ty cổ phần Khoáng sản và Đầu tư Khánh Hòa (Minexco) tại số 248 đường Thống Nhất, phường Tây Nha Trang.
Đó là khu đất đã được UBND tỉnh Khánh Hòa cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho Minexco từ tháng 10-2016 và làm trụ sở của công ty cho đến nay.
Lý do thu hồi đất theo cả thông báo thu hồi đất của UBND tỉnh Khánh Hòa (tháng 8-2025) và quyết định vừa ban hành, do Minexco đã "vi phạm pháp luật về đất đai". Cụ thể là "người sử dụng đất không thực hiện nghĩa vụ tài chính với Nhà nước".
Theo quyết định, UBND tỉnh buộc Công ty cổ phần Khoáng sản và Đầu tư Khánh Hòa có trách nhiệm chấp hành quyết định thu hồi đất theo quy định của pháp luật và thực hiện bàn giao đất, tài sản gắn liền với đất, giấy tờ về quyền sử dụng đất cho Trung tâm Phát triển quỹ đất Khánh Hòa quản lý theo quy định.
Tỉnh cũng giao UBND phường Tây Nha Trang có trách nhiệm giao quyết định thu hồi đất trên cho Minexco; trường hợp công ty này không nhận quyết định hoặc vắng mặt thì phải lập biên bản; niêm yết quyết định tại trụ sở UBND phường, tại nơi sinh hoạt chung của cộng đồng dân cư phường.
Nếu Minexco không chấp hành thực hiện bàn giao đất, tài sản gắn liền với đất, giấy tờ về quyền sử dụng đất thì tổ chức cưỡng chế thực hiện quyết định thu hồi đất theo quy định tại Luật Đất đai năm 2024.
UBND tỉnh Khánh Hòa giao UBND phường Tây Nha Trang phối hợp với các cơ quan, đơn vị có liên quan xác định giá trị tài sản còn lại sau khi trừ đi các chi phí để thu hồi đất, bao gồm chi phí lập hồ sơ thu hồi đất, chi phí cưỡng chế thu hồi đất, chi phí định giá tài sản... để thu hồi đất theo quyết định trên.
Tỉnh giao Trung tâm Phát triển quỹ đất Khánh Hòa quản lý toàn bộ diện tích đất và tài sản gắn liền với đất đã thu hồi tại số 248 Thống Nhất, Nha Trang sau khi thu hồi từ Minexco.
Tiền thân của Minexco là Công ty Khai thác và chế biến khoáng sản Khánh Hòa, được thành lập từ năm 1990. Đó là doanh nghiệp nhà nước thuộc tỉnh Khánh Hòa và từ năm 2016 Minexco đã bán cổ phần, chuyển đổi thành Công ty cổ phần Khoáng sản và Đầu tư Khánh Hòa.
Minexco đã được giao nhiều khu vực thuộc các mỏ cát trắng nổi tiếng của Việt Nam ở Khánh Hòa, tại Thủy Triều (bắc bán đảo Cam Ranh), bán đảo Đầm Môn (thuộc vịnh Vân Phong)… để khai thác, chế biến xuất khẩu cát trắng đến nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ như: Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Đài Loan, Philippines, Thái Lan...
Thế nhưng Công ty cổ phần Khoáng sản và Đầu tư Khánh Hòa là doanh nghiệp thuộc "top" nợ thuế hàng đầu tại tỉnh này.
Tổng tiền thuế và các khoản thu ngân sách nhà nước mà Minexco còn nợ lên tới hơn 102,34 tỉ đồng (tính đến ngày 31-3-2026).