ĐHĐCĐ bất thường năm 2026 của CTCP Cơ Điện Lạnh (Hose: REE) diễn ra ngày 10/7 đã thông qua nhiều nội dung quan trọng liên quan đến công tác nhân sự cấp cao và phương án phát hành cổ phiếu ESOP.
Đại hội thống nhất miễn nhiệm tư cách Thành viên HĐQT nhiệm kỳ 2023-2027 đối với bà Nguyễn Thị Mai Thanh và ông Ashok Ramachandran theo đơn từ nhiệm đề ngày 15/5.
Đồng thời, HĐQT đề cử và đại hội thông qua việc bổ nhiệm ông Nguyễn Ngọc Thái Bình – con trai bà Nguyễn Thị Mai Thanh – giữ chức Tổng Giám đốc REE.
Để đáp ứng quy định đối với công ty đại chúng về việc Chủ tịch HĐQT và Tổng Giám đốc không được có quan hệ gia đình, bà Nguyễn Thị Mai Thanh cũng từ nhiệm chức Chủ tịch HĐQT và Thành viên HĐQT kể từ ngày 10/7.
Sau khi rời HĐQT, bà Mai Thanh được bổ nhiệm giữ chức Chủ tịch Ủy ban Chiến lược (UBCL) trực thuộc HĐQT. Theo quy chế hoạt động có hiệu lực từ ngày 10/7/2026, UBCL có chức năng tham mưu, tư vấn, giám sát, phản biện và góp ý đối với các vấn đề chiến lược, các nội dung trọng yếu do HĐQT hoặc ĐHĐCĐ xem xét, phê duyệt.
Đáng chú ý trên cương vị Chủ tịch UBCL, bà Mai Thanh được quyền tham dự tất cả các phiên họp định kỳ và bất thường của ĐHĐCĐ, HĐQT và Ban điều hành. Đồng thời có quyền trình bày báo cáo, tham luận và tư vấn trực tiếp về chiến lược kinh doanh, huy động và phân bổ nguồn lực của doanh nghiệp.
Trả lời cổ đông tại đại hội, Chủ tịch HĐQT Lee Liang Whye khẳng định sẽ không có sự chồng chéo hay xung đột thẩm quyền giữa HĐQT và UBCL, song nhấn mạnh HĐQT vẫn là cơ quan có thẩm quyền quyết định cao nhất của REE.
Bên cạnh các nội dung về nhân sự, đại hội cũng thông qua phương án phát hành 500.000 cổ phiếu theo chương trình lựa chọn cho người lao động (ESOP). Trong đó, nhóm Ủy ban Chiến lược được phân bổ 191.500 cổ phiếu, tương đương 38,3% tổng lượng phát hành, cao nhất trong các nhóm được nhận ESOP.
Trong khi đó, Ban điều hành cấp cao của công ty mẹ, gồm Tổng Giám đốc, các Phó Tổng Giám đốc và Kế toán trưởng được phân bổ 68.000 cổ phiếu.
Toàn bộ số cổ phiếu ESOP sẽ bị hạn chế chuyển nhượng trong 3 năm, với lộ trình giải tỏa 30% sau năm đầu tiên, thêm 30% sau năm thứ hai và 40% còn lại sau năm thứ ba.
Về kết quả kinh doanh, REE ước lợi nhuận sau thuế 6 tháng đầu năm 2026 đạt khoảng 1.300-1.500 tỷ đồng, giảm 3,2-16% so với cùng kỳ. Lợi nhuận cả năm dự kiến đạt 2.570-2.980 tỷ đồng.
So với kế hoạch 2.814 tỷ đồng, doanh nghiệp có thể hoàn thành khoảng 92% hoặc vượt kế hoạch khoảng 6%, tùy theo kết quả thực tế.
Trong cơ cấu lợi nhuận 6 tháng đầu năm, mảng điện tiếp tục đóng góp lớn nhất với 700-800 tỷ đồng, chiếm khoảng 56% tổng lợi nhuận sau thuế. Mảng văn phòng đóng góp khoảng 27%, trong khi các mảng nước và cơ điện công trình đều chiếm dưới 10%.
Tin Gốc: Người Đưa Tin
Kinh Tế
Cho vay và tự doanh tăng tốc, Chứng khoán BSC báo lãi quý II tăng hơn 20%

CTCP Chứng khoán BIDV (BSC, HoSE: BSI) vừa công bố báo cáo tài chính hợp nhất quý II/2026 với doanh thu hoạt động đạt 616,8 tỷ đồng, tăng 22% so với cùng kỳ năm trước. Động lực tăng trưởng chủ yếu đến từ hoạt động cho vay và đầu tư tự doanh, trong khi doanh thu môi giới tiếp tục suy giảm.
Cụ thể, lãi từ các khoản cho vay và phải thu đạt 242,5 tỷ đồng, tăng 53% so với quý II/2025 và tiếp tục là nguồn thu lớn nhất của công ty.
Hoạt động đầu tư thông qua tài sản tài chính ghi nhận qua lãi/lỗ (FVTPL) mang về 248,5 tỷ đồng doanh thu, tăng gần 29% so với cùng kỳ. Ngược lại, doanh thu môi giới giảm hơn 8%, còn khoảng 77,8 tỷ đồng.
Ở mảng tự doanh, lãi ròng từ FVTPL cải thiện đáng kể nhờ khoản cổ tức và tiền lãi từ danh mục đầu tư tăng mạnh, đồng thời khoản lỗ từ bán tài sản tài chính thu hẹp so với cùng kỳ.
Trong kỳ, tổng chi phí hoạt động giảm gần 12% xuống còn 215 tỷ đồng nhờ khoản lỗ từ tài sản FVTPL giảm. Tuy nhiên, chi phí tài chính tăng mạnh lên 216,5 tỷ đồng, gấp khoảng 2,5 lần cùng kỳ, chủ yếu do chi phí lãi vay tăng khi doanh nghiệp mở rộng quy mô vay vốn phục vụ hoạt động kinh doanh và cho vay ký quỹ.
Sau khi khấu trừ các khoản chi phí, BSC ghi nhận lợi nhuận trước thuế đạt 145,8 tỷ đồng, tăng 15% so với quý II/2025. Lợi nhuận sau thuế đạt 123,2 tỷ đồng, tăng gần 21%.
Lũy kế 6 tháng đầu năm, doanh thu hoạt động đạt 1.314 tỷ đồng, tăng 56% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, doanh thu từ hoạt động FVTPL đạt 576,4 tỷ đồng, tăng 83%, còn lãi từ các khoản cho vay và phải thu đạt 467,5 tỷ đồng, tăng 61%.
Chi phí tài chính trong nửa đầu năm tăng 177% lên gần 407 tỷ đồng, chủ yếu do chi phí lãi vay ngân hàng tăng mạnh. Dù vậy, lợi nhuận trước thuế vẫn đạt gần 263 tỷ đồng và lợi nhuận sau thuế đạt 212 tỷ đồng, cùng tăng khoảng 16% so với cùng kỳ.
Năm 2026, BSC đặt mục tiêu lợi nhuận trước thuế 700 tỷ đồng. Như vậy, sau 6 tháng đầu năm, doanh nghiệp đã hoàn thành khoảng 38% kế hoạch năm.
Tại ngày 30/6/2026, tổng tài sản của BSC đạt 19.479 tỷ đồng, tăng 17% so với đầu năm. Trong cơ cấu tài sản, danh mục FVTPL tăng mạnh 46% lên 6.535 tỷ đồng, trong khi các khoản cho vay đạt 9.471 tỷ đồng, tăng nhẹ 1,4%.
Dư nợ cho vay giao dịch ký quỹ (margin) ở mức khoảng 9.373 tỷ đồng. Theo thuyết minh báo cáo tài chính, các khoản vay margin có thời hạn tối đa 3 tháng với lãi suất từ 7,5-12,5%/năm. Giá trị tài sản bảo đảm của khách hàng đạt hơn 31.600 tỷ đồng, tương đương mức bao phủ trên 3,3 lần dư nợ.
Danh mục FVTPL của BSC tiếp tục tập trung chủ yếu vào trái phiếu và chứng chỉ tiền gửi. Cuối quý II/2026, giá trị hợp lý của trái phiếu niêm yết đạt khoảng 2.023 tỷ đồng, trái phiếu chưa niêm yết đạt 2.557 tỷ đồng và chứng chỉ tiền gửi đạt 961 tỷ đồng.
Đối với danh mục cổ phiếu, giá trị hợp lý đạt gần 879 tỷ đồng. Cổ phiếu HPG vẫn là khoản đầu tư lớn nhất với giá trị khoảng 138 tỷ đồng. Trong kỳ, BSC cũng ghi nhận thêm khoản đầu tư vào cổ phiếu TCB với giá trị hợp lý khoảng 85,5 tỷ đồng. Ngoài ra, khoản đầu tư vào CTCP Đầu tư Phan Vũ được định giá khoảng 82,3 tỷ đồng, cao hơn đáng kể so với giá gốc.
Về nguồn vốn, nợ phải trả của BSC tăng lên 13.784 tỷ đồng, chiếm gần 71% tổng nguồn vốn. Trong đó, vay ngắn hạn đạt 11.815 tỷ đồng, tăng 23% so với đầu năm và chiếm khoảng 86% tổng nợ phải trả. Việc gia tăng quy mô vay vốn giúp công ty mở rộng danh mục đầu tư và hoạt động cho vay, song cũng khiến chi phí lãi vay tăng mạnh trong kỳ.
Tin Gốc: Người Đưa Tin

Ngày 18.5, tại thành phố Huế, Cục Phát triển Doanh nghiệp tư nhân và Kinh tế tập thể (Bộ Tài chính) phối hợp với Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) tại Việt Nam đã tổ chức hội thảo tham vấn hoàn thiện chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, nhằm hoàn thiện dự thảo luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa (sửa đổi).
Hội thảo đã nhận được nhiều ý kiến đóng góp nhằm hoàn thiện dự án luật để sau khi ban hành có thể tạo hành lang pháp lý và cơ chế chính sách đồng bộ hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa phát triển, góp phần đóng góp và xây dựng đất nước.
Phát biểu đề dẫn tại hội thảo, bà Trịnh Thị Hương, Phó cục trưởng Cục Phát triển Doanh nghiệp tư nhân và Kinh tế tập thể cho biết, thực hiện Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 4.5.2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân và chương trình lập pháp năm 2026 của Quốc hội, Chính phủ đã giao nhiệm vụ cho Bộ Tài chính chủ trì xây dựng dự án luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa (sửa đổi) dự kiến trình Quốc hội tại kỳ họp thứ 2 vào tháng 10.2026.
Cục Phát triển Doanh nghiệp tư nhân và Kinh tế tập thể là đơn vị được giao nhiệm vụ soạn thảo dự án luật nên đã phối hợp với các tổ chức tư vấn tích cực triển khai. Dự thảo luật đã tổ chức hội thảo tham vấn ý kiến của cộng đồng doanh nghiệp nhỏ và vừa tại phía bắc ở Hà Nội và nay tiếp tục tổ chức tại thành phố Huế để lấy ý kiến tại khu vực miền Trung.
Cũng theo bà Trịnh Thị Hương, kinh nghiệm quốc tế các nước đã đi trước chúng ta rất lâu về xây dựng và ban hành luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, ví như Nhật Bản đã có luật từ năm 1963.
Còn Việt Nam, mặc dù chính sách đã có từ 25 năm và luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa lần đầu tiên đã được Quốc hội thông qua năm 2017.
Tuy nhiên, qua quá trình thực hiện luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2017 đã bộc lộ một số hạn chế, bất cập. Mục tiêu xây dựng dự thảo luật lần này nhằm thể chế hóa kịp thời chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, khắc phục những hạn chế, bất cập của các quy định hiện hành, bảo đảm cơ chế hỗ trợ thiết thực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội trong giai đoạn mới.
Bà Trịnh Thị Hương khẳng định, các chính sách hỗ trợ của luật phải lấy doanh nghiệp nhỏ và vừa làm trung tâm, xuất phát từ thực tiễn, giải quyết các khó khăn, vướng mắc trong gia nhập thị trường, tiếp cận nguồn lực, tổ chức sản xuất kinh doanh và nâng cao năng lực cạnh tranh. Vì thế, việc thiết kế chính sách hỗ trợ theo hướng có trọng tâm, trọng điểm, có chọn lọc, phù hợp với từng nhóm doanh nghiệp theo quy mô, lĩnh vực và giai đoạn phát triển.
Đổi mới phương thức hỗ trợ theo hướng lấy kết quả, đầu ra làm căn cứ phân bố nguồn lực hỗ trợ, gắn với mục tiêu, đầu ra cụ thể, có thể lượng hóa được, bảo đảm dễ áp dụng, dễ kiểm tra và dễ đánh giá hiệu quả.
Góp ý vào dự thảo luật, ông Lê Văn Cường, Phó giám đốc Sở Tài chính thành phố Huế, cho rằng hiện cơ chế chính sách vẫn thiếu tính đặc thù địa phương. Mỗi địa phương có cơ cấu doanh nghiệp, ngành nghề và dư địa phát triển khác nhau nên việc áp dụng một chính sách chung sẽ thiếu tính linh hoạt, khó phát huy hiệu quả toàn diện. Khi xây dựng chính sách cần nghiên cứu xây dựng cơ chế, chính sách theo hướng tăng tính phân cấp, phân quyền cho địa phương nhằm bảo đảm phù hợp với đặc thù phát triển kinh tế - xã hội từng vùng, từng địa bàn.
"Việc tiếp cận chính sách vẫn khó khăn, nhiều doanh nghiệp gặp khó trong việc đáp ứng các tiêu chí vay vốn, thiếu tài sản bảo đảm hoặc chưa tiếp cận đầy đủ thông tin chính sách. Vì thế cần tiếp tục rà soát, đơn giản hóa điều kiện, thủ tục tiếp cận các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, đặc biệt là các chính sách tín dụng và tiếp cận vốn từ Quỹ Phát triển Doanh nghiệp nhỏ và vừa", ông Lê Văn Cường chia sẻ.
Liên quan đến việc chuyển đổi số doanh nghiệp, luật mới cần bổ sung cơ chế hỗ trợ chi phí thuê nền tảng số, tư vấn chuyển đổi số, đào tạo nhân lực số, có chính sách khuyến khích doanh nghiệp tham gia các chương trình chuyển đổi số thông qua cơ chế hỗ trợ tài chính, ưu đãi thuế hoặc đồng hành kỹ thuật từ cơ quan quản lý Nhà nước....
Tin Gốc: Thanh Niên

Cục Du lịch quốc gia mới đây đã tham mưu Bộ VH-TT-DL trình Chính phủ Đề án xúc tiến, quảng bá du lịch và ẩm thực VN ra nước ngoài giai đoạn 2026 - 2030. Đây được xem là bước đi mang tính đột phá, đặt mục tiêu đưa VN vào Top 5 nền ẩm thực hấp dẫn nhất châu Á, lấy ẩm thực làm yếu tố cốt lõi để nâng cao sức cạnh tranh của điểm đến VN trên thế giới.
Theo Phó cục trưởng Cục Du lịch quốc gia Nguyễn Thị Hoa Mai, trong bối cảnh cạnh tranh điểm đến ngày càng gay gắt, đặc biệt tại khu vực Đông Nam Á, đổi mới hoạt động xúc tiến, quảng bá là yêu cầu cấp thiết. Nhiều quốc gia như Nhật Bản, Thái Lan, Hàn Quốc, Ý hay Trung Quốc đều xây dựng chiến lược quốc gia bài bản để phát triển du lịch ẩm thực. Theo đó, trọng tâm không chỉ là quảng bá món ăn mà còn là quảng bá văn hóa ẩm thực, kể câu chuyện về lịch sử, phong tục tập quán và bản sắc dân tộc thông qua mỗi món ăn, qua đó xây dựng hình ảnh quốc gia và nâng cao sức hấp dẫn của điểm đến.
Thực tế, ý tưởng đưa ẩm thực Việt ra thế giới đã được khơi gợi từ gần hai thập niên trước khi Philip Kotler - cha đẻ của marketing hiện đại - vào năm 2007 đã gợi mở: "Nếu Trung Quốc là công xưởng của thế giới, Ấn Độ là văn phòng của thế giới, thì VN hãy là bếp ăn của thế giới". Lời gợi ý ấy đã kích hoạt một quan điểm mới về sức mạnh của ẩm thực. Trước đó, ẩm thực chỉ được xem là dịch vụ bổ trợ, đã nhanh chóng được Bộ VH-TT-DL xác định là 1 trong 4 dòng sản phẩm chủ đạo cần tập trung nguồn lực đầu tư trong Chiến lược Phát triển du lịch đến năm 2030.
Hành trình đưa ẩm thực ra thế giới sau đó đã ghi dấu mạnh mẽ bằng những sự kiện đắt giá. Thế giới từng trầm trồ trước hình ảnh Tổng thống Mỹ Barack Obama ngồi ăn bún chả tại một quán nhỏ Hà Nội năm 2016, hay khoảnh khắc Thủ tướng Úc Anthony Albanese vui vẻ thưởng thức bánh mì và bia hơi trên vỉa hè phố cổ vào năm 2023. Những sự kiện mang tính biểu tượng này, kết hợp cùng các lễ hội ẩm thực VN được tổ chức thường niên tại Pháp, Nhật Bản, Hàn Quốc... đã từng bước đưa ẩm thực trở thành "đại sứ" chạm đến trái tim du khách quốc tế.
Bước ngoặt lớn nhất chính là sự đổ bộ của cẩm nang ẩm thực danh giá nhất thế giới - Michelin Guide. Việc hàng loạt nhà hàng tại Hà Nội, TP.HCM và Đà Nẵng liên tục được gắn "sao Michelin" hay có mặt trong danh sách Bib Gourmand đã tạo ra một cú hích cực mạnh. Một hệ quy chiếu mới đã được thiết lập, bảo chứng đẳng cấp quốc tế và chứng minh rằng ẩm thực Việt không chỉ có những món ngon vỉa hè giá rẻ, mà hoàn toàn đủ năng lực cung ứng những trải nghiệm cao cấp, sang trọng cho mọi đối tượng thực khách.
Song song, vị thế của VN cũng liên tục được khẳng định trên các bảng xếp hạng uy tín toàn cầu. Theo chuyên trang bản đồ ẩm thực thế giới TasteAtlas, ẩm thực VN liên tục thăng hạng vượt bậc trong những năm gần đây, vững vàng ở vị trí thứ 16 thế giới và đang áp sát nhóm dẫn đầu tại châu Á.
Từ những thành quả đã đạt được, Đề án giai đoạn 2026 - 2030 vạch ra một tư duy tiếp cận hoàn toàn mới. Để hiện thực hóa mục tiêu Top 5 châu Á, chúng ta không thể chỉ dừng lại ở việc quảng bá một món ăn ngon, một hệ thống ẩm thực đường phố "hữu xạ tự nhiên hương" mà cần cả một chiến dịch quảng bá cho nền văn hóa ẩm thực nước nhà. Du khách đến VN không chỉ để ăn một bát phở, mà để cảm nhận chiều sâu văn hóa ẩn sau nước dùng thanh trong, để nghe câu chuyện về hạt gạo của văn minh lúa nước, và hiểu về triết lý âm dương ngũ hành trong cách phối trộn gia vị của người Việt. Đó là sự kết tinh của lịch sử, địa lý và tri thức bản địa được lưu truyền qua nhiều thế hệ.
"Mỗi món ăn của VN đều chứa đựng những giá trị lịch sử, văn hóa và tri thức bản địa, cần được kể bằng những câu chuyện hấp dẫn để mang đến cho du khách những trải nghiệm sâu sắc hơn", lãnh đạo Cục Du lịch quốc gia nhìn nhận.
Nghiên cứu của các tổ chức quốc tế như Tổ chức Du lịch Liên Hiệp Quốc (UN Tourism), Hiệp hội Du lịch ẩm thực thế giới chỉ ra rằng ẩm thực là một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn điểm đến của du khách, đồng thời chiếm khoảng 25 - 35% tổng chi tiêu trong mỗi chuyến đi. Không chỉ tạo ra giá trị kinh tế trực tiếp, ẩm thực còn góp phần phát triển công nghiệp văn hóa, kinh tế sáng tạo, kinh tế đêm, tăng cường liên kết vùng và kéo dài thời gian lưu trú của du khách.
Việc nâng tầm món ăn thành một hệ sinh thái du lịch - văn hóa thật sự có thể mang giá trị hàng chục tỉ USD.
Thế nên từ đầu những năm 2000, Chính phủ Thái Lan đã khởi động chiến dịch Global Thai và Thailand: Kitchen of the World bằng một mô hình quản lý chặt chẽ như một ngành công nghiệp. Chính phủ hỗ trợ tài chính, cung cấp nguyên liệu xuất khẩu chuẩn vị, và lập ra một cơ quan chuyên trách để đào tạo, cấp chứng nhận độc quyền mang tên "Thai Select" cho các nhà hàng đạt chuẩn trên khắp thế giới. Thậm chí, họ quy định một nhà hàng Thái muốn mở ở nước ngoài phải có ít nhất hai đầu bếp người Thái thuần thục.
Kết quả, từ khoảng 5.500 nhà hàng Thái ở nước ngoài giai đoạn đầu, nay mạng lưới này đã lên tới hơn 15.000 cơ sở toàn cầu. Theo số liệu từ Tổng cục Du lịch Thái Lan (TAT), du lịch ẩm thực hiện đóng góp hơn 27 tỉ USD mỗi năm cho nền kinh tế nước này. Riêng mảng ẩm thực đường phố của Bangkok đã tạo ra hơn 3 tỉ USD hằng năm. Ẩm thực luôn chiếm từ 20 - 25% tổng chi tiêu của mỗi du khách đến đất nước Chùa Vàng.
Nếu người Thái chọn cách phủ sóng mạng lưới nhà hàng, thì Hàn Quốc lại chọn "ngoại giao văn hóa qua màn ảnh". Trong chiến lược toàn cầu hóa ẩm thực truyền thống (Hansik), Hàn Quốc khéo léo "cài cắm" hình ảnh kim chi, mì tương đen, tokbokki hay thịt nướng vào từng bộ phim truyền hình K-drama, từng MV của các ngôi sao K-pop. Ẩm thực Hàn xuất hiện trên màn ảnh nhiều đến nỗi khán giả khắp nơi trên thế giới có thể nhớ rõ những món ăn của đất nước này.
Không dừng lại ở đó, Viện Xúc tiến thực phẩm Hàn Quốc - một tổ chức thuộc Chính phủ - còn liên tục đẩy mạnh việc đưa các gia vị lên men truyền thống của họ được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại. Hansik đã nhanh chóng thành một cơn sốt toàn cầu, kéo theo dòng tiền khổng lồ từ du lịch ẩm thực đổ về xứ sở kim chi. Tổng cục Du lịch Hàn Quốc (KTO) công bố, ẩm thực luôn là hạng mục tiêu tốn tiền thứ 2 của du khách, chỉ sau mua sắm. Doanh thu từ dịch vụ ăn uống và lưu trú phục vụ du lịch của Hàn Quốc đạt tới hơn 100 tỉ USD mỗi năm.
Năm nay, Chính phủ Hàn Quốc vẫn đang tăng tốc hiện thực hóa chiến lược nâng tổng quy mô ngành công nghiệp thực phẩm và ẩm thực toàn cầu của mình lên mức 300.000 tỉ won (tương đương khoảng 220 tỉ USD), đồng thời đặt mục tiêu sở hữu tới 100 nhà hàng đạt sao Michelin trên toàn cầu vào năm 2027 để khẳng định vị thế ẩm thực cao cấp.
Tại VN, dữ liệu từ các hệ thống thanh toán quốc tế cũng chỉ ra rằng doanh thu từ dịch vụ ăn uống (F&B) đang chiếm tới gần 40% tổng giá trị giao dịch qua thẻ của du khách nước ngoài. Theo khảo sát của các đơn vị lữ hành lớn trong nước, ngay sau khi các nhà hàng tại Hà Nội và TP.HCM được gắn sao Michelin, lượng khách quốc tế đặt bàn tại các cơ sở này tăng đột biến từ 30 - 50%, thậm chí có những nhà hàng cao cấp phải đặt trước cả tháng. Du khách thuộc phân khúc chi tiêu cao (như khách châu Âu, Mỹ, Nhật, Hàn Quốc) sẵn sàng chi từ 2 - 5 triệu đồng (hoặc hơn) cho một bữa tối trải nghiệm ẩm thực Việt được nâng tầm văn hóa, thay vì chỉ chi vài chục nghìn đồng cho một tô phở vỉa hè.
Tương tự, định vị thương hiệu "Huế - Kinh đô ẩm thực", các kỳ Festival Huế tập trung vào ẩm thực cung đình và ẩm thực dân gian đã giúp kéo dài thời gian lưu trú của du khách từ trung bình 1,5 ngày lên hơn 2 ngày.
Có thể thấy, ẩm thực đang là mỏ neo giữ chân và "mở ví" du khách hiệu quả nhất.
Lợi thế sẵn có, lợi ích cũng quá rõ ràng, song làm thế nào để văn hóa ẩm thực Việt thật sự chiếm được vị thế trên trường quốc tế?
Từ năm 2017, khi thành lập Hiệp hội Văn hóa ẩm thực VN (VCCA), ông Nguyễn Quốc Kỳ (Chủ tịch HĐQT Vietravel, Chủ tịch VCCA) đã đau đáu khát vọng chuyển hóa kho tàng ẩm thực phong phú của nước nhà thành một nguồn sức mạnh nội tại mạnh mẽ. Trao đổi với Thanh Niên, ông Nguyễn Quốc Kỳ nhấn mạnh: Mỗi quốc gia muốn phát triển bền vững và khẳng định vị thế trên trường quốc tế thì không thể chỉ dựa vào tài nguyên thô hay gia công, mà phải dựa vào giá trị văn hóa độc bản của chính mình. Ẩm thực chính là đại sứ kết nối nhanh nhất, sâu sắc nhất giữa VN và thế giới.
Khi đã trở thành thương hiệu, tài sản quốc gia, ẩm thực sẽ tác động rất lớn đến nhiều ngành kinh tế mà trước nhất là du lịch. Khách du lịch đi đến bất cứ nơi nào cũng mong muốn được thưởng thức đồ ăn ngon. Ăn uống, dịch vụ chiếm đến 70% doanh thu của ngành du lịch. Nếu làm tốt, toàn bộ kinh tế, hệ thống dịch vụ tại chỗ sẽ được kích thích, phát triển, phần lợi nhuận nhà nước thu được từ tỷ lệ 70% này sẽ ngày càng lớn. Phát triển ẩm thực một cách chuyên nghiệp sẽ giải quyết tất cả nguồn ra cho nguyên liệu, thực phẩm, giúp nâng cao đời sống người dân, đem lại lợi ích kinh tế lớn cho đất nước.
Ông Nguyễn Quốc Kỳ nhìn nhận món ăn Việt là một tài sản cần được đầu tư bài bản, thay vì chỉ dừng lại ở quy mô hàng quán nhỏ lẻ. "Chúng ta có một kho tàng món ăn vô giá, nhưng nếu chỉ dừng lại ở việc nấu ngon tại các gian bếp gia đình hay hàng quán nhỏ lẻ thì chưa đủ. Phải chuyển hóa di sản này thành tài sản, thành một ngành công nghiệp văn hóa có chuỗi giá trị từ nông nghiệp, du lịch cho đến dịch vụ", ông nói.
Để hiện thực hóa khát vọng đó, trong suốt gần một thập niên qua, VCCA đã không ngừng nghiên cứu để hoàn thiện Đề án "Xây dựng và phát triển văn hóa ẩm thực VN thành thương hiệu quốc gia" với các đợt khảo sát quy mô lớn; qua đó tìm kiếm, bình chọn và chuẩn hóa dữ liệu hàng trăm món ăn tiêu biểu ba miền, hướng tới việc hình thành Bản đồ ẩm thực điện tử và Bảo tàng ẩm thực VN. Gần đây nhất, VCCA đã chủ lực phối hợp cùng Cục Di sản văn hóa và các chuyên gia, nghệ nhân hoàn thiện hồ sơ quốc gia, đề xuất đưa "Tri thức dân gian và nghệ thuật nấu phở" trình UNESCO công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Đây là hành động then chốt nhằm xác lập bản quyền văn hóa và bảo hộ thương hiệu toàn cầu cho món ăn quốc hồn quốc túy của dân tộc. Bên cạnh đó, các lễ hội ẩm thực quy mô lớn do Hiệp hội tổ chức cũng đã thành công trong việc kết nối trực tiếp chuỗi cung ứng nông sản sạch của người nông dân tới các DN lữ hành, mở ra mô hình du lịch ẩm thực đầy tiềm năng.
Tuy nhiên, để ẩm thực thực sự cất cánh và trở thành một ngành công nghiệp văn hóa đúng nghĩa, ông Nguyễn Quốc Kỳ nhấn mạnh cần một lộ trình giải pháp đồng bộ và mang tầm quốc gia.
Trước hết, VN phải thực hiện số hóa toàn diện hệ thống dữ liệu ẩm thực vùng miền để bảo tồn nguyên bản và làm công cụ quảng bá ra thế giới. Bên cạnh đó, ngành cần xây dựng chuỗi giá trị khép kín "từ trang trại đến bàn ăn", gắn chặt sự phổ biến của món ăn Việt với việc tiêu thụ nông sản, gia vị đặc hữu nội địa, từ đó nâng cao thu nhập cho chuỗi sản xuất nông nghiệp. Song song, chiến lược "Ngoại giao ẩm thực" phải được đẩy mạnh bằng cách biến các đại sứ quán VN ở nước ngoài thành không gian trải nghiệm văn hóa và thiết lập bộ tiêu chuẩn xếp hạng nhà hàng Việt trên toàn cầu để tăng tính cạnh tranh quốc tế.
Tin Gốc: Thanh Niên

