Họ có thể là doanh nghiệp của nhà nước, cũng có thể là các doanh nghiệp tư nhân nhưng điểm chung đều giữ vai trò trụ cột thúc đẩy năng lực cạnh tranh và đưa một quốc gia vươn lên phát triển vượt bậc. Có thể gọi chung là thế hệ “Doanh nghiệp Quốc gia”.
Trong lịch sử kinh tế thế giới, rất ít quốc gia có thể vươn lên nhóm thu nhập cao mà không hình thành những doanh nghiệp quy mô lớn, có khả năng cạnh tranh toàn cầu.
Điều này xuất phát từ đặc điểm của quá trình phát triển. Khi nền kinh tế còn ở giai đoạn đầu, tăng trưởng chủ yếu dựa vào vốn đầu tư, lao động giá rẻ và khai thác tài nguyên. Tuy nhiên, khi bước sang giai đoạn phát triển cao hơn, động lực tăng trưởng chuyển dần sang năng suất, khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo. Đây cũng là lúc vai trò của các doanh nghiệp đầu tàu trở nên đặc biệt quan trọng.
Không giống các doanh nghiệp thông thường, doanh nghiệp dẫn dắt sở hữu nguồn lực đủ lớn để đầu tư dài hạn cho nghiên cứu và phát triển (R&D), phát triển công nghệ lõi, xây dựng thương hiệu toàn cầu và mở rộng hệ sinh thái đối tác. Những khoản đầu tư này thường vượt quá khả năng của phần lớn doanh nghiệp nhỏ và vừa, nhưng lại tạo ra hiệu ứng lan tỏa cho toàn bộ nền kinh tế.
Nhiều nghiên cứu của các tổ chức quốc tế như OECD hay Ngân hàng Thế giới cho thấy khoảng cách về năng suất giữa các quốc gia không chỉ đến từ chất lượng nguồn nhân lực, mà còn phụ thuộc vào khả năng hình thành những doanh nghiệp có quy mô đủ lớn để phổ biến công nghệ, phương thức quản trị hiện đại và các chuẩn mực sản xuất mới tới hàng nghìn doanh nghiệp trong chuỗi giá trị.
Đó cũng là lý do những nền kinh tế thành công thường không chỉ sở hữu nhiều doanh nghiệp lớn, mà còn xây dựng được những hệ sinh thái kinh doanh rộng lớn xung quanh các doanh nghiệp này.
Hàn Quốc là một trong những ví dụ điển hình nhất. Sau chiến tranh, quốc gia này gần như không có lợi thế về tài nguyên. Tuy nhiên, chỉ trong vài thập kỷ, Hàn Quốc đã vươn lên trở thành một trong những nền kinh tế lớn nhất châu Á, với động lực quan trọng đến từ các tập đoàn công nghiệp như Samsung hay Hyundai.
Điều đáng chú ý là Samsung không đơn thuần là một doanh nghiệp điện tử. Tập đoàn này đầu tư hàng chục tỉ USD mỗi năm cho nghiên cứu và phát triển, tạo việc làm trực tiếp cho hàng trăm nghìn lao động và hình thành mạng lưới hàng nghìn doanh nghiệp vệ tinh trong các lĩnh vực bán dẫn, vật liệu, linh kiện, logistics và dịch vụ.
Nhờ đó, sự phát triển của Samsung không chỉ mang lại doanh thu hay kim ngạch xuất khẩu mà còn kéo theo sự nâng cấp năng lực công nghệ của toàn bộ ngành công nghiệp Hàn Quốc. Những doanh nghiệp nhỏ tham gia chuỗi cung ứng cũng có cơ hội tiếp cận công nghệ, tiêu chuẩn sản xuất và thị trường quốc tế, từ đó nâng cao năng lực cạnh tranh.
Tại Nhật Bản, Toyota cũng tạo ra tác động tương tự. Điều làm nên thành công của Toyota không chỉ là sản lượng ô tô mà còn là Hệ thống sản xuất Toyota (Toyota Production System) – mô hình quản trị tinh gọn đã trở thành chuẩn mực của ngành sản xuất toàn cầu.
Thông qua mạng lưới hàng chục nghìn nhà cung cấp, Toyota góp phần hình thành một hệ sinh thái công nghiệp với năng suất cao, nơi các doanh nghiệp vừa và nhỏ không chỉ là nhà cung cấp linh kiện mà còn liên tục đổi mới công nghệ để đáp ứng những tiêu chuẩn ngày càng khắt khe. Nói cách khác, Toyota không chỉ xuất khẩu ô tô mà còn xuất khẩu tri thức quản trị và năng lực sản xuất.
Tại Mỹ, Apple cho thấy giá trị của doanh nghiệp dẫn dắt không nằm ở quy mô doanh thu đơn thuần. Bên cạnh các sản phẩm công nghệ nổi tiếng, Apple đã xây dựng một hệ sinh thái bao gồm nhà phát triển ứng dụng, nhà sản xuất chip, doanh nghiệp phần mềm, các công ty logistics và hàng nghìn đối tác trên toàn cầu. Sự phát triển của Apple tạo ra giá trị kinh tế vượt xa phạm vi của một doanh nghiệp, đồng thời thúc đẩy đổi mới sáng tạo trong nhiều lĩnh vực liên quan.
Ngay cả Singapore – nền kinh tế có quy mô khiêm tốn so với các quốc gia dẫn đầu – cũng xây dựng được những doanh nghiệp mang tính biểu tượng như DBS hay Singapore Airlines.
Trong đó, DBS được xem là một ví dụ tiêu biểu về quá trình chuyển đổi từ ngân hàng truyền thống sang doanh nghiệp công nghệ. Việc đầu tư mạnh vào điện toán đám mây, dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo và nền tảng số không chỉ giúp ngân hàng nâng cao hiệu quả hoạt động mà còn tạo điều kiện để doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, tiếp cận các dịch vụ tài chính nhanh hơn, chi phí thấp hơn. Qua đó, ngân hàng trở thành một phần của hạ tầng số quốc gia thay vì chỉ đóng vai trò cung cấp tín dụng.
Trong khi đó, tại Trung Quốc, Alibaba, Huawei hay Tencent đang đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cấp năng lực công nghệ của nền kinh tế. Từ viễn thông, bán dẫn đến xe điện và pin năng lượng, các doanh nghiệp này đều đầu tư rất lớn cho nghiên cứu, qua đó góp phần đưa Trung Quốc tiến gần hơn tới mục tiêu tự chủ công nghệ.
Dù hoạt động trong những lĩnh vực khác nhau, các doanh nghiệp này đều có điểm chung: đầu tư mạnh cho đổi mới sáng tạo, xây dựng hệ sinh thái đối tác rộng lớn và tạo ra sức lan tỏa vượt ra ngoài phạm vi hoạt động của chính mình.
Nhà kinh tế học nổi tiếng Michael Porter từng nhấn mạnh rằng lợi thế cạnh tranh quốc gia được hình thành thông qua năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp. Những doanh nghiệp hàng đầu không chỉ tạo ra tăng trưởng cho riêng mình mà còn kéo theo sự phát triển của cả hệ sinh thái ngành nghề, chuỗi cung ứng và nguồn nhân lực chất lượng cao.
Nhìn từ bài học của các quốc gia phát triển, rõ ràng trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu ngày càng gay gắt, nhiều quốc gia coi việc hình thành và phát triển các Doanh nghiệp Quốc gia (National Champions) là một chiến lược quan trọng để tạo ra những “đầu tàu” đủ sức dẫn dắt các ngành kinh tế trọng điểm, thu hút nguồn lực, thúc đẩy chuỗi giá trị trong nước và mở rộng ảnh hưởng ra thị trường quốc tế. Những doanh nghiệp này đóng vai trò cầu nối giữa lợi ích doanh nghiệp và lợi ích quốc gia, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu phát triển dài hạn của đất nước.
Thực tế cho thấy, các quốc gia sở hữu những doanh nghiệp mạnh thường có khả năng tận dụng tốt hơn các cơ hội của toàn cầu hóa, nâng cao năng suất lao động, thu hút đầu tư và gia tăng vị thế kinh tế. Do đó, xây dựng các doanh nghiệp đủ tầm vóc để cạnh tranh khu vực và thế giới không chỉ là mục tiêu của riêng doanh nghiệp, mà còn là một xu hướng phát triển đã được kiểm chứng tại nhiều nền kinh tế thành công.
Trong hành trình vươn mình của mỗi quốc gia, Doanh nghiệp Quốc gia không đơn thuần là kết quả của tăng trưởng, mà còn là động lực tạo ra tăng trưởng, thịnh vượng và sức cạnh tranh bền vững cho nền kinh tế trong dài hạn.
Cục Thuế (Bộ Tài chính) vừa có công văn đề nghị các tổ chức phối hợp ngăn chặn hành vi doanh nghiệp, cơ sở kinh doanh gian lận thuế thông qua sử dụng song song 2 hệ thống sổ sách kế toán tài chính.
Trao đổi với Thanh Niên, ông Lê Văn Tuấn, Giám đốc Công ty TNHH Kế toán thuế Keytas, phân tích, 2 sổ sách là gồm sổ nội bộ và sổ thuế. Sổ nội bộ để lưu trữ nội bộ tại doanh nghiệp, sổ thuế là sổ được dùng để báo cáo cho cơ quan thuế.
Thông thường, sổ nội bộ sẽ ghi nhận đầy đủ nghiệp vụ doanh thu và chi phí thực tế xảy ra của hoạt động kinh doanh. Điều này đồng nghĩa, sổ nội bộ thường có doanh thu và lợi nhuận cao hơn sổ nộp cho cơ quan thuế.
Khi doanh nghiệp, hộ kinh doanh ghi nhận 2 sổ, với sổ nội bộ có doanh thu lớn hơn sổ thuế, tức sẽ tạo ra một khoản chênh lệch doanh thu.
Khoản chênh lệch doanh thu này sẽ được nhận bằng tài khoản cá nhân hoặc nhận bằng tiền mặt. Bởi ở sổ thuế, khách hàng đã thanh toán chuyển khoản qua tài khoản của doanh nghiệp hoặc chủ hộ kinh doanh.
Như vậy, một khoản tiền chưa được xuất hóa đơn, chưa được ghi nhận doanh thu đã được chuyển vào tài khoản cá nhân, hoặc nhận bằng tiền mặt. Điều này sẽ đặt doanh nghiệp, hộ kinh doanh trước các rủi ro như: bị phạt hành vi không xuất hóa đơn khi bán hàng, cung cấp dịch vụ. Theo Nghị định 310/2025/NĐ-CP, mức phạt có thể lên đến 80 triệu đồng.
"Ngoài ra, tiền vào tài khoản cá nhân hoặc nhận tiền mặt (nhưng chưa xuất hóa đơn), tức một khoản doanh thu chưa được ghi nhận. Doanh nghiệp và hộ kinh doanh sẽ bị truy thu khoản thuế thiếu; đồng thời có thể bị phạt 1 - 3 lần số tiền thuế trốn. Đáng chú ý, hành vi trốn thuế có thể dẫn đến việc bị khởi tố hình sự để răn đe", ông Tuấn nhấn mạnh.
Vị chuyên gia phân tích, cơ quan thuế có nhiều biện pháp để giám sát dòng tiền cũng như tình trạng một doanh nghiệp, hộ kinh doanh duy trì song song 2 sổ sách.
Thứ nhất là quản lý dựa trên dữ liệu của bên thứ ba: kiểm soát đầu vào của hộ kinh doanh và doanh nghiệp, khi buộc bên bán phải xuất hóa đơn đầy đủ thông tin tên, địa chỉ, mã số thuế của hộ kinh doanh và doanh nghiệp; kiểm soát dòng tiền ở các đơn vị vận chuyển, dòng tiền ở các sàn thương mại điện tử.
"Trong trường hợp có dấu hiệu nghi ngờ trốn thuế, cơ quan thuế có quyền yêu cầu sao kê tài khoản ngân hàng cá nhân của chủ doanh nghiệp, hoặc chủ hộ kinh doanh, hoặc người thân của chủ doanh nghiệp, chủ hộ kinh doanh để xác minh nghĩa vụ thuế", ông Tuấn nói.
Thứ hai là kiểm soát từ hệ thống nhận diện rủi ro của cơ quan thuế: thông qua hệ thống dữ liệu tập trung của ngành thuế, cơ quan thuế có thể nhận diện các trường hợp đáng ngờ thông qua các hệ số rủi ro được thiết lập. Trong đó, hệ số rủi ro giá vốn/doanh thu được sử dụng phổ biến, vì dễ phát hiện các dấu hiệu rủi ro tại doanh nghiệp.
Một cách cơ bản, cơ quan thuế sẽ so sánh hệ số rủi ro giá vốn/doanh thu của từng doanh nghiệp, so với bình quân ngành của tất cả doanh nghiệp trong cùng một ngành nghề. Khi tỷ lệ này cao một cách bất thường, cơ quan thuế sẽ yêu cầu doanh nghiệp giải trình bằng hồ sơ, số liệu thực tế.
Ông Tuấn cho biết, khi tỷ lệ giá vốn/doanh thu cao bất thường, có 2 khả năng xảy ra:
Giá vốn cao bất thường xảy ra khi doanh nghiệp kê khống chi phí, bằng cách kê khai khống chi phí lương hoặc mua hóa đơn để ghi nhận thêm chi phí không có thực. Khi đó, chi phí của doanh nghiệp tăng lên, dẫn đến lợi nhuận đóng thuế giảm, hoặc lỗ để không phải đóng thuế.
Doanh thu thấp bất thường xảy ra khi một lượng lớn doanh thu không được ghi nhận. Trường hợp phổ biến là doanh nghiệp bán hàng cho người dân, hoặc đối tượng không có nhu cầu lấy hóa đơn.
Khi đó, doanh nghiệp sẽ nhận tiền vào tài khoản cá nhân của chủ doanh nghiệp, thay vì tài khoản mang tên của doanh nghiệp; hoặc khách hàng trả tiền mặt, nhưng chủ doanh nghiệp không hoàn trả về doanh nghiệp để ghi nhận dòng tiền, doanh thu tại doanh nghiệp, mà đưa về thẳng cho cá nhân chủ doanh nghiệp. Điều này dẫn đến hành vi không xuất hóa đơn đầu ra để thực hiện nghĩa vụ thuế tại doanh nghiệp.
"Trong giai đoạn hiện nay, cơ sở dữ liệu tập trung của ngành thuế đang dần hình thành khi người nộp thuế đã định danh trên VNeID, ứng dụng eTax Mobile đang dần hoàn thiện, dữ liệu hóa đơn điện tử được cập nhật hàng ngày…
Cơ quan thuế có đủ thông tin, công cụ để nhận diện các doanh nghiệp, hộ kinh doanh có dấu hiệu trốn thuế, nghĩa là hành vi lập 2 sổ sách khó giấu doanh thu hơn ngày xưa rất nhiều. Doanh nghiệp, chủ hộ kinh doanh cần chú ý tuân thủ đúng chính sách pháp luật, đảm bảo môi trường kinh doanh minh bạch, công bằng", ông Tuấn khuyến cáo.
Cụ thể, khoản 7, điều 13 của Nghị định 133 quy định, phạt tiền từ 20 - 30 triệu đồng đối với người cho thuê nhà thu tiền điện của người thuê nhà cao hơn quy định trong trường hợp mua điện theo giá bán lẻ điện để phục vụ mục đích sinh hoạt.
Hình thức phạt bổ sung là buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện vi phạm hành chính (bao gồm cả mọi chi phí phát sinh do hành vi vi phạm gây ra) để hoàn trả cho cá nhân, tổ chức bị chiếm đoạt đối với hành vi vi phạm quy định tại khoản 7 điều 13 nói trên. "Người cho thuê nhà phải hoàn trả cho người thuê nhà số tiền đã thu thừa cộng với lãi suất do hai bên thỏa thuận trong hợp đồng. Trường hợp không xác định được cá nhân, tổ chức để hoàn trả thì nộp toàn bộ số tiền chênh lệch vào ngân sách nhà nước", Nghị định 133 nêu.
Như vậy, mức phạt mới đối với người cho thuê nhà thu tiền điện người thuê cao 3 lần so với mức phạt hiện tại đang áp dụng theo Nghị định 134/2013. Tại khoản 6 điều 12 của Nghị định 134 (17.10.2013) quy định, phạt tiền từ 7 - 10 triệu đồng đối với người cho thuê nhà thu tiền điện của người thuê nhà cao hơn giá quy định trong trường hợp mua điện theo giá bán lẻ điện để phục vụ mục đích sinh hoạt; phạt tiền từ 10 - 15 triệu đồng đối với người cho thuê nhà thu tiền điện của người thuê nhà cao hơn giá quy định trong trường hợp mua điện theo giá bán lẻ điện để phục vụ mục đích sản xuất, kinh doanh, dịch vụ.
Ngoài hành vi thu tiền điện sai giá, Nghị định cũng quy định nhiều mức xử phạt khác trong lĩnh vực điện lực. Chẳng hạn, kê khai sai số người để hưởng định mức bị phạt 3 - 5 triệu đồng; tự ý lắp đặt hoặc can thiệp hệ thống điện bị phạt 5 - 8 triệu đồng; các vi phạm nghiêm trọng khác có thể lên tới 60 - 80 triệu đồng.
Ngoài ra, điều 12 Nghị định 133 cũng quy định về vi phạm các quy định về bán lẻ điện. Cụ thể, phạt tiền tổ chức là đơn vị bán lẻ điện từ 10 - 30 triệu đồng đối với hành vị: Không ký hợp đồng mua bán điện sau 7 ngày làm việc mà không có lý do chính đáng kể từ khi bên mua điện phục vụ mục đích sinh hoạt đã bảo đảm các điều kiện theo quy định và thỏa thuận về các nội dung trong dự thảo hợp đồng; sử dụng thiết bị đo đếm điện không được kiểm định, hiệu chuẩn, thử nghiệm theo quy định của pháp luật về đo lường.
Phạt tiền từ 30 - 40 triệu đồng đối với hành vi lợi dụng nghề nghiệp để sách nhiễu các tổ chức, cá nhân sử dụng điện nhằm mục đích vụ lợi.
Phạt đơn vị bán lẻ điện từ 40 - 50 triệu đồng đối với một trong các hành vi bán điện mà không có hợp đồng mua bán điện với khách hàng sử dụng điện hoặc bán điện cho khách hàng sử dụng điện khi hợp đồng mua bán điện phục vụ mục đích sinh hoạt đã hết hiệu lực mà chưa được gia hạn.
Phạt đơn vị bán lẻ điện từ 50 - 60 triệu đồng đối với các hành vi: Bán sai giá điện do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định; giao kết hợp đồng mua bán điện khi bên mua điện không bảo đảm một trong các điều kiện theo quy định.
Phạt đơn vị bán lẻ điện từ 150 - 180 triệu đồng đối với hành vi xuất, nhập khẩu điện mà không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép.
Lãi suất cho vay tăng cao và lĩnh vực bất động sản cũng gặp khó khăn khi tiếp cận vốn ngân hàng khiến nhiều doanh nghiệp gia tăng huy động vốn thông qua phát hành trái phiếu. Theo Hiệp hội Thị trường Trái phiếu Việt Nam, trong quý 1/2026, thị trường ghi nhận 13 đợt phát hành trái phiếu doanh nghiệp với tổng giá trị hơn 40.000 tỉ đồng. Trong đó, phát hành ra công chúng đạt 14.334 tỉ đồng, chiếm gần 36% tổng giá trị phát hành, tăng gấp đôi so với quý 4/2025 và phát hành riêng lẻ đạt hơn 25.800 tỉ đồng, tương đương khoảng 64% thị phần.
Đáng chú ý, nhóm doanh nghiệp bất động sản dẫn đầu với lượng phát hành có giá trị hơn 24.000 tỉ đồng, chiếm khoảng 60% tổng lượng trái phiếu phát hành trong quý đầu năm nay. Không chỉ trong quý 1/2026, số doanh nghiệp bất động sản trong quý 2/2026 cũng tiếp tục phát hành nhiều đợt trái phiếu ra công chúng.
Số liệu thống kê mới công bố của Công ty Chứng khoán VNDIRECT cho thấy, thị trường trái phiếu doanh nghiệp riêng lẻ trong tháng 4 ghi nhận sự cải thiện đáng kể về hoạt động phát hành. Cụ thể, có 20 đợt phát hành thành công với tổng giá trị hơn 41.300 tỉ đồng, tăng 52,9% so với tháng 3. Lũy kế 4 tháng đầu năm nay, tổng giá trị phát hành trái phiếu doanh nghiệp riêng lẻ đạt hơn 68.800 tỉ đồng, tăng gần 50% so với cùng kỳ năm trước. Xét theo nhóm ngành, bất động sản tiếp tục dẫn đầu thị trường về giá trị phát hành trong tháng 4 với 7 đợt phát hành, tổng giá trị hơn 20.600 tỉ đồng, chiếm khoảng một nửa tổng lượng phát hành toàn thị trường.
Một số đợt phát hành thành công có thể kể đến như Công ty CP Đầu tư Xây dựng Thái Sơn công bố hoàn tất phát hành lô trái phiếu trị giá 2.000 tỉ đồng, kỳ hạn 36 tháng với lãi suất 12,5%/năm. Hay Công ty CP Đầu tư và Phát triển Bất động sản Minh An đã phát hành 2 lô trái phiếu tổng giá trị 7.500 tỉ đồng với lãi suất 10 - 10,5%/năm. Trong khi đó, Công ty TNHH Phát triển Bất động sản An Gia Hưng cũng huy động gần 1.065 tỉ đồng trái phiếu với lãi suất 11%/năm. Hàng loạt doanh nghiệp khác như Văn Phú Invest, Bcons, Khải Hoàn Land hay Công ty CP Thời Đại Mới T&T cũng liên tiếp tham gia thị trường với các lô trái phiếu có lãi suất dao động từ khoảng 10 - 13,5%/năm...