Sau các bất thường 147 điểm 10 môn toán tại Tuyên Quang, tại phiên họp ngày 14-7 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa và Xã hội Nguyễn Đắc Vinh đã đề xuất nghiên cứu tách kỳ thi tốt nghiệp THPT và tuyển sinh đại học.
Trao đổi với Báo điện tử Tuổi Trẻ, đại biểu Quốc hội Nguyễn Thị Việt Nga, thành viên Ủy ban Văn hóa và Xã hội, cho hay hiện nay về mặt pháp lý, Việt Nam chỉ tổ chức kỳ thi tốt nghiệp THPT và đây không còn là “một kỳ thi đại học” theo nghĩa trước 2015.
Tuy nhiên kết quả kỳ thi tốt nghiệp THPT vẫn được thiết kế để vừa xét công nhận tốt nghiệp, đánh giá chất lượng giáo dục phổ thông, vừa cung cấp dữ liệu cho các cơ sở giáo dục đại học sử dụng trong tuyển sinh. Vì vậy trên thực tế, kỳ thi vẫn đang gánh nhiều mục tiêu.
Bà nêu quan điểm về dài hạn nên đi theo hướng tách rõ chức năng tốt nghiệp THPT và tuyển sinh đại học, nhưng không nhất thiết tổ chức hai kỳ thi quốc gia độc lập, nặng nề và bắt buộc đối với mọi học sinh.
Bà nhấn mạnh nếu khôi phục một kỳ thi tốt nghiệp rồi tiếp tục tổ chức thêm một kỳ thi đại học bắt buộc với tất cả học sinh thì sẽ làm tăng áp lực, tăng chi phí xã hội, tạo thêm bất lợi cho học sinh ở vùng sâu, vùng xa…
Do vậy mô hình phù hợp hơn là kỳ thi tốt nghiệp THPT được tinh gọn, tập trung đánh giá chuẩn đầu ra phổ thông, giữ vai trò kiểm soát chất lượng ở cấp quốc gia trong giai đoạn hiện nay.
Với tuyển sinh đại học thuộc trách nhiệm tự chủ của các cơ sở đào tạo. Các trường có thể sử dụng kết quả thi tốt nghiệp, học bạ đã được chuẩn hóa, kỳ thi đánh giá năng lực, đánh giá tư duy, thi năng khiếu hoặc kết hợp nhiều tiêu chí.
Trường nào tổ chức phương thức riêng phải chứng minh được tính khoa học, công bằng, khả năng tiếp cận, chịu trách nhiệm về chất lượng đầu vào.
Thêm vào đó nên hạn chế tình trạng mỗi trường tổ chức một kỳ thi. Có thể phát triển một số kỳ thi chuẩn hóa dùng chung theo vùng hoặc theo nhóm ngành, do các đại học, nhóm trường phối hợp tổ chức, có nhiều đợt thi và nhiều địa điểm thi trên cả nước.
Kết quả được nhiều cơ sở đào tạo công nhận, tương tự một dịch vụ khảo thí độc lập, thay vì biến mỗi trường thành một “ốc đảo tuyển sinh”.
Về việc thay đổi, theo bà Nguyễn Thị Việt Nga, cần có lộ trình, không nên thực hiện đột ngột. Ít nhất phải đáp ứng các điều kiện gồm ổn định chương trình, phương thức đánh giá và quy chế trong nhiều năm, công bố sớm để học sinh không trở thành đối tượng thử nghiệm.
Cùng với đó chuẩn hóa dữ liệu học bạ, kiểm soát chênh lệch trong đánh giá giữa các trường, các địa phương. Xây dựng các trung tâm khảo thí chuyên nghiệp, độc lập, có ngân hàng câu hỏi đủ lớn và quy trình bảo mật, chấm thi, phúc khảo minh bạch.
Bảo đảm cơ hội tiếp cận bình đẳng, tổ chức nhiều điểm thi, miễn hoặc giảm lệ phí cho học sinh có hoàn cảnh khó khăn, không để thí sinh vùng xa phải đi lại quá nhiều.
Quản lý số lượng phương thức tuyển sinh, tránh tình trạng một trường đưa ra quá nhiều phương thức, nhiều công thức quy đổi khiến học sinh, xã hội khó theo dõi.
Đánh giá tác động toàn diện trước khi quyết định, đặc biệt tác động với học sinh nông thôn, miền núi, gia đình thu nhập thấp, các trường đại học quy mô nhỏ.
“Tôi nghiêng về phương án tách chức năng, chứ không quay trở lại nguyên trạng hai kỳ thi quốc gia.
Kỳ thi tốt nghiệp phải đúng bản chất là đánh giá việc hoàn thành giáo dục phổ thông. Còn tuyển sinh đại học phải trở thành hoạt động chuyên nghiệp, đa dạng nhưng được chuẩn hóa, minh bạch và đặt dưới trách nhiệm giải trình của các cơ sở đào tạo.
Mục tiêu cuối cùng không phải là tổ chức một kỳ thi hay hai kỳ thi, mà là xây dựng được một cơ chế đánh giá đúng năng lực, ít tốn kém, giảm áp lực, bảo đảm công bằng và tuyển chọn được người học phù hợp”, bà Nga nhấn mạnh thêm.
Đại biểu Việt Nga chỉ rõ mô hình “2 trong 1” không tự sinh ra gian lận. Gian lận xảy ra trước hết do con người cố tình vi phạm quy chế, do trách nhiệm thực thi không nghiêm, cơ chế kiểm soát chưa hiệu quả hoặc có sự cấu kết giữa những người được giao nhiệm vụ.
Nếu mọi cá nhân thực hiện đúng trách nhiệm, tôn trọng pháp luật và giữ gìn đạo đức nghề nghiệp thì rất khó xảy ra vi phạm có tổ chức.
Song cần thẳng thắn nhìn nhận khi một kỳ thi đồng thời quyết định việc tốt nghiệp và cơ hội vào đại học thì giá trị của từng điểm số trở nên rất lớn. Một chênh lệch rất nhỏ về điểm cũng có thể làm thay đổi cơ hội trúng tuyển của thí sinh.
Chính điều đó làm gia tăng áp lực thành tích và động cơ can thiệp vào kết quả nếu công tác tổ chức còn sơ hở.
“Mô hình “2 trong 1″ không phải nguyên nhân trực tiếp, nhưng là một yếu tố làm tăng sức nặng của kỳ thi, tập trung quá nhiều quyền lợi vào một kết quả. Do đó làm gia tăng áp lực, nguy cơ phát sinh tiêu cực”, bà nói thêm.
Khoảng 19h45, một số thí sinh đã tra cứu được điểm thi lớp 10 công lập qua ứng dụng ihanoi.
Ngoài ra, phụ huynh và các em có thể tra cứu qua Cổng tuyển sinh đầu cấp của thành phố bằng cách nhập mã học sinh hoặc số báo danh. Hệ thống sẽ hiển thị điểm thi và kết quả đỗ/trượt các nguyện vọng. Điểm thi còn được công bố trên website Sở Giáo dục và Đào tạo, báo Hà Nội Mới.
Điểm xét tuyển vào lớp 10 không chuyên là tổng điểm môn Văn, Toán và Ngoại ngữ, không nhân hệ số, tối đa là 30. Với trường chuyên, đây là tổng ba môn cộng điểm môn chuyên nhân hệ số 2.
Nguyên tắc xét nguyện vọng thi lớp 10 của Hà Nội như sau:
- Học sinh đủ điểm đỗ nguyện vọng 1 sẽ không được xét nguyện vọng 2 và 3.
- Khi trượt nguyện vọng 1, thí sinh lần lượt được xét tới hai nguyện vọng sau, nếu có điểm cao hơn điểm chuẩn nguyện vọng 1 của trường đó ít nhất 0,5 và 1 điểm. Hai mức chênh lệch này giảm 0,5 so với các năm trước.
Các nguyện vọng được xét song song cho đến hết thí sinh đủ điều kiện, chứ không phải xét ưu tiên nguyện vọng 1, thiếu chỉ tiêu mới tới nguyện vọng 2 và 3.
Sở cho biết nhận đơn phúc khảo của thí sinh đến ngày 25/6. Chậm nhất ngày 9/7, các em biết kết quả.
Những em trúng tuyển làm thủ tục nhập học trực tuyến hoặc trực tiếp từ ngày 25 đến 27/6. Các trường chưa đủ chỉ tiêu sẽ họp xét duyệt điểm chuẩn bổ sung vào ngày 3/7.
Năm 2026, Hà Nội có khoảng 147.000 học sinh tốt nghiệp THCS, hơn 124.000 em đăng ký thi lớp 10 công lập, đông kỷ lục. Với chỉ tiêu khoảng 82.660, tỷ lệ đỗ trên số dự thi là 66%.
Để có hành lang pháp lý cho việc này, Bộ Giáo dục và Đào tạo đang dự thảo thông tư quy định về khai thác, sử dụng tài nguyên giáo dục mở trong hoạt động giáo dục đại học.
Thông tư dự thảo căn cứ vào Luật Giáo dục đại học 2025, các văn bản hướng dẫn liên quan. Dự thảo thông tư cũng cụ thể hóa định hướng tại Quyết định 1117/QĐ-TTg về phát triển mô hình tài nguyên giáo dục mở trong giáo dục đại học.
Dự thảo quy định rõ các khái niệm về tài nguyên giáo dục mở, học liệu mở, giấy phép mở (hoặc giấy phép mở nội bộ), quyền truy cập mở, nền tảng giáo dục mở, cổng truy cập tài nguyên giáo dục mở quốc gia.
Tài nguyên giáo dục và học liệu mở gồm có giáo trình, bài giảng của giảng viên, học liệu tham khảo, khóa học trực tuyến (MOOCs), học liệu đa phương tiện, phần mềm mã nguồn mở hoặc dữ liệu học tập phục vụ hoạt động giảng dạy, học tập, nghiên cứu ở bất kỳ định dạng và phương tiện.
Nguồn học liệu mở này tồn tại trong phạm vi công cộng hoặc thuộc quyền sở hữu bản quyền nhưng đã được phát hành theo giấy phép mở, cho phép người sử dụng truy cập để giữ lại, sử dụng lại, sửa đổi, kết hợp lại và phân phối lại theo quy định trong giấy phép mở.
Để bảo đảm chất lượng tài nguyên giáo dục mở cho hoạt động giáo dục đại học, dự thảo quy định đối với tài nguyên giáo dục mở phải đáp ứng yêu cầu về tính khoa học, tính sư phạm, tính cập nhật, tuân thủ quy định pháp luật về sở hữu trí tuệ, an toàn thông tin và bảo vệ dữ liệu cá nhân. Các cơ sở đào tạo phải ban hành quy trình nội bộ, tổ chức thẩm định trước khi công bố và đưa vào sử dụng chính thức.
Dự thảo cũng yêu cầu các cơ sở đào tạo kết nối, tích hợp và cập nhật tài nguyên giáo dục mở đã công bố lên Cổng truy cập tài nguyên giáo dục mở quốc gia, nhằm hình thành dữ liệu dùng chung trên toàn quốc, tăng khả năng chia sẻ, tìm kiếm và khai thác học liệu giữa các cơ sở giáo dục đại học.
Dự thảo quy định rõ quyền và trách nhiệm của tổ chức, cá nhân khi khai thác, sử dụng tài nguyên giáo dục mở. Theo đó, người sử dụng được quyền truy cập, khai thác, chia sẻ, chỉnh sửa tài nguyên theo giấy phép mở. Nhưng người sử dụng cũng phải tuân thủ quy định về quyền tác giả, trích dẫn nguồn, không sử dụng tài nguyên vào mục đích vi phạm pháp luật hoặc xuyên tạc nội dung học thuật.
Dự thảo thông tư xác định tài nguyên giáo dục mở là một trong những nền tảng quan trọng của giáo dục đại học số, hỗ trợ tổ chức đào tạo trên môi trường số, tích hợp vào chương trình đào tạo, được sử dụng một phần trong công nhận, chuyển đổi tín chỉ, cấp chứng chỉ và văn bằng theo quy định.
Đối với các cơ sở giáo dục đại học, dự thảo yêu cầu xây dựng kế hoạch phát triển tài nguyên giáo dục mở. Các cơ sở phải ban hành chính sách khuyến khích giảng viên, sinh viên tham gia xây dựng, chia sẻ học liệu, đầu tư hạ tầng công nghệ thông tin, tổ chức đào tạo, bồi dưỡng năng lực khai thác và sử dụng tài nguyên giáo dục mở.
Dự thảo cũng khuyến khích sự tham gia của doanh nghiệp, tổ chức xã hội trong phát triển hệ sinh thái tài nguyên giáo dục mở. Đồng thời thúc đẩy hợp tác quốc tế nhằm mở rộng khả năng tiếp cận các nguồn tri thức toàn cầu, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục đại học Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số và hội nhập quốc tế.
Theo nhận định của Bộ Giáo dục và Đào tạo, hệ thống học liệu được số hóa tại các cơ sở giáo dục đại học hiện còn phân tán, thiếu liên thông, chưa được khai thác hiệu quả.
Nhiều cơ sở đào tạo thiếu hụt học liệu chất lượng để phục vụ giảng dạy, học tập và nghiên cứu. Trong khi đó, tài nguyên giáo dục mở được xem là giải pháp quan trọng để mở rộng cơ hội tiếp cận tri thức, giảm chi phí học liệu và thúc đẩy đổi mới sáng tạo trong giáo dục đại học.
Bộ Giáo dục và Đào tạo ngày 14/4 công bố Thông tư 32, quy định mã số, bổ nhiệm chức danh và xếp lương giáo viên công lập.
Theo đó, giáo viên mầm non được xếp theo ba hạng, từ thấp đến cao lần lượt là III, II và I, tương ứng với nhóm viên chức A0, A1 và A2.2. Hệ số lương của giáo viên bậc này từ 2,1 đến 6,38.
Giáo viên phổ thông (tiểu học, THCS, THPT) cũng có ba hạng tương tự, nhưng ứng với nhóm A1, A2.2 và A2.1, hệ số lương từ 2,23 đến 6,78.
Trước đó, trong dự thảo hồi tháng 9 năm ngoái, Bộ dự kiến xếp nhà giáo thành ba nhóm: giáo viên, giáo viên chính, giáo viên cao cấp, tương đương bậc III, II và I hiện nay. Riêng với giáo viên cao cấp (hạng I), hệ số lương sẽ từ 5,75 đến 7,55 (nhóm A3.2), tăng so với mức 4,4-6,78 hiện tại, còn lại giữ nguyên.
Theo thông tư mới, việc xếp hạng giáo viên vẫn như cũ, hệ số lương của nhóm giáo viên hạng I cũng không được tăng như đề xuất. Thống kê gần nhất của Bộ vào cuối năm 2024 cho thấy nhóm này chưa đến 3.000 người trong số hơn một triệu giáo viên của cả nước.
Hạng chức danh và hệ số lương giáo viên mới nhất theo Thông tư 32/2026 của Bộ Giáo dục và Đào tạo:
Dù hệ số không thay đổi song dự kiến lương của giáo viên sẽ tăng với lộ trình tăng lương cơ sở. Theo phương án Chính phủ dự kiến, lương cơ sở sẽ tăng từ 2,34 triệu đồng lên 2,527 triệu đồng (tăng 8%), áp dụng từ 1/7. Như vậy, thầy cô có thể nhận lương tháng trong khoảng 5,3 - 17,1 triệu đồng, chưa kể các loại phụ cấp. Mức tăng nhiều nhất là gần 1,3 triệu đồng, còn lại phổ biến 0,5-1 triệu so với hiện nay.
Ngoài ra, Bộ Giáo dục và Đào tạo đang đề xuất có thêm hệ số đặc thù (1,15-1,25 lần lương) để lương giáo viên cao nhất như quy định của Luật Nhà giáo. Sau gần nửa năm, việc này vẫn chưa được thông qua.