Vợ chồng chị Tỉnh, ở Hưng Yên, kết hôn năm 2016. Bốn năm không có tin vui, hai người tìm đến Bệnh viện Bưu điện, Hà Nội, làm thụ tinh trong ống nghiệm và đậu thai ngay lần đầu. Niềm vui kéo dài chẳng bao lâu khi bác sĩ thông báo chị mang tam thai. Bác sĩ Nguyễn Thị Nhã, người trực tiếp điều trị, cảnh báo tam thai tiềm ẩn nhiều biến chứng đe dọa tính mạng cả mẹ lẫn con, khuyên gia đình cân nhắc giảm thiểu thai.
“Chỉ những ai từng nếm trải nỗi đau hiếm muộn mới hiểu hết khát khao con cái cháy bỏng đến nhường nào. Bản năng làm mẹ không cho phép tôi từ bỏ bất kỳ đứa trẻ nào”, chị Tỉnh nói. Chồng chị, anh Đoàn, nắm chặt tay vợ, cùng bước vào chuỗi ngày đặt cược với số phận.
Theo Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh Mỹ (CDC) và Hiệp hội Y học Sinh sản Mỹ (ASRM), thai đơn có tỷ lệ sinh non 10%, song thai tăng lên 60%, còn tam thai chạm ngưỡng 90%. Tử cung người phụ nữ cấu tạo để mang một thai mỗi lần, nên mang đa thai kéo theo hàng loạt rủi ro cho cả mẹ và con. Ước tính chỉ hơn một phần ba trẻ đa thai chào đời khỏe mạnh và phát triển bình thường.
Phần lớn ca tam thai hiện nay đến từ hỗ trợ sinh sản như IVF, bởi xác suất mang tam thai tự nhiên chỉ khoảng 1/7.000 đến 1/10.000. Tâm lý “khát con” thôi thúc nhiều cặp vợ chồng hiếm muộn muốn đón hai, ba đứa trẻ trong một lần mang thai, bất chấp cảnh báo.
“Chúng tôi buộc phải đưa ra những cảnh báo nghiêm khắc nhất về nguy cơ tước đi mạng sống người mẹ bất cứ lúc nào. Nhưng bác sĩ chỉ tư vấn và đồng hành, quyền quyết định thuộc về bệnh nhân, trừ trường hợp cấp cứu khẩn cấp”, bác sĩ Nhã nói.
Chị Tỉnh giữ lại cả ba, xác định đối diện với một thai kỳ giông bão. Tuần thứ 11, bác sĩ nghi ngờ một trong ba thai nhi có nguy cơ cao mắc hội chứng Down. Chị từng nghĩ đến giảm thiểu thai vì “sợ quyết định của mình làm hại tương lai con”, nhưng các xét nghiệm chuyên sâu sau đó cho kết quả bình thường.
Tuần 19, cổ tử cung mở, máu ra ồ ạt, người phụ nữ nhập viện cấp cứu trong tình trạng nguy kịch. Suốt 5 tuần kế tiếp, chị nằm bất động giữ thai. “Mỗi ngày trôi qua, tôi đếm từng nhịp tim của các con, cầu mong bình an”, chị kể.
Càng về cuối, cơ thể chị càng quá tải. Tuần 33, chị nặng 105 kg, đôi chân phù nề, huyết áp tăng vọt, tiền sản giật rình rập. Ngày 11/3/2021, bác sĩ chỉ định mổ cấp cứu để bảo toàn tính mạng 4 mẹ con. Hai bé trai nặng 2,2 kg, bé gái nặng 2,3 kg, không cần nằm hồi sức, kết quả vượt ngoài kỳ vọng của cả gia đình.
Chị Hà, 34 tuổi, ở Quảng Ninh, trải qua cuộc cân não tương tự sau 8 năm hiếm muộn và 5 lần chuyển phôi thất bại. Bác sĩ Đồng Thu Trang, Bệnh viện Phụ sản Hà Nội, cho biết trường hợp này khó khăn gấp bội. Chị Hà mang tiền sử lao phổi, hai lá phổi xơ hóa một phần, nguy cơ suy hô hấp tăng cao khi thai lớn dần. “Tôi sẽ giữ con bằng mọi giá. Có bao nhiêu, tôi đón bấy nhiêu”, chị Hà nói với bác sĩ, dù đã nghe hết mọi lời cảnh báo.
Êkíp tính toán từng ngày để kéo dài tuổi thai. Tuần 21, chị Hà dọa sinh non, phải nằm bất động. Tuần 28, ba thai nhi chèn ép khoang bụng khiến người mẹ liên tục khó thở, thể trạng suy kiệt. Đến tuần 31, tiền sản giật và suy hô hấp cùng ập đến. Nhận thấy dưỡng thai tiếp sẽ đe dọa tính mạng người mẹ, bác sĩ quyết định mổ chủ động. Hai bé trai nặng 1,5 kg và bé gái nặng 1,3 kg chào đời, chuyển ngay về khoa Sơ sinh chăm sóc đặc biệt.
Danh sách biến chứng mà bác sĩ Trang liệt kê dài đến ám ảnh. Người mẹ mang tam thai đối mặt sẩy thai, sinh non, ngôi thai bất thường, sa dây rốn, tiểu đường thai kỳ, tăng huyết áp, tiền sản giật. Hầu hết phải sinh mổ, dễ đờ tử cung và băng huyết.
Về phía thai nhi, nguy cơ dị tật, bất thường di truyền, tim bẩm sinh và thai chậm tăng trưởng đều tăng lên. Chuyên gia sinh sản châu Âu cũng cảnh báo mọi chỉ số rủi ro của thai kỳ đa thai đều vượt ngưỡng bình thường, bất kể thai tự nhiên hay IVF.
Cuộc chiến sinh tử khép lại, nhưng những vết sẹo hằn trên sức khỏe hai người mẹ vẫn còn nguyên. Chị Tỉnh và chị Hà đều thừa nhận thể lực sa sút thấy rõ, những cơn đau lưng và hụt hơi kéo đến mỗi khi trở trời. Dẫu vậy, khi nhìn lại, cả hai khẳng định chưa một lần hối hận.
5 năm trôi qua, ngôi nhà nhỏ của vợ chồng chị Tỉnh giờ ngập tiếng cười đùa của ba đứa trẻ. “Nhìn các con lớn lên khỏe mạnh mỗi ngày, tôi cảm ơn cuộc đời, và cảm ơn chính mình năm ấy đã kiên cường, không bỏ cuộc trước lằn ranh sinh tử”, chị Tỉnh nói.
Chiều 3/5, bác sĩ Thủy cùng người thân du lịch biển Quỳnh, xã Quỳnh Phú (trước thuộc huyện Quỳnh Lưu). Một lúc sau, phát hiện nhiều người dân vây quanh bé trai hơn 10 tuổi bị điện giật, bất tỉnh, nghi do rò rỉ điện từ cột đèn trên bãi biển do các hộ kinh doanh dựng lên, bác sĩ Thủy lập tức chạy đến hỗ trợ.
Bé trai lúc ấy có dấu hiệu nguy kịch, ngừng thở, không bắt được mạch, bác sĩ Thủy ép tim ngoài lồng ngực liên tục. Sau khoảng 3 phút, bé có dấu hiệu hồi tỉnh, tim đập trở lại, đáp ứng nghe gọi.
Bác sĩ Thủy sau đó khuyên gia đình đưa con về khách sạn nghỉ ngơi. Hiện sức khỏe bé trai đã ổn định.
"Đây là phản xạ nghề nghiệp bình thường. Trong hoàn cảnh đó, bất kỳ nhân viên y tế nào cũng sẽ ưu tiên cao nhất cho việc cứu người", bác sĩ Thủy nói.
Trong y khoa, tình trạng ngừng tuần hoàn hô hấp làm gián đoạn đột ngột hoạt động bơm máu của tim, khiến các cơ quan suy kiệt. Não bộ thiếu oxy chỉ trong vài phút sẽ tổn thương vĩnh viễn hoặc gây tử vong lập tức.
Hồi sinh tim phổi cơ bản là bước đầu tiên trong cấp cứu ngừng tuần hoàn cho bệnh nhân, cần được thực hiện ngay lập tức. Kỹ thuật này nhằm duy trì tuần hoàn và oxy cho não cũng như các cơ quan khác, cho đến khi đội cấp cứu ngoại viện đến dùng các biện pháp hồi sức tim phổi nâng cao hoặc can thiệp khác.
Thời gian qua, kỹ năng hồi sức ngoại viện nhạy bén của các y bác sĩ đã giúp nhiều bệnh nhân thoát cửa tử. Hôm 18/3, cũng tại Nghệ An, Bác sĩ Trần Văn Biên và Nguyễn Cao Việt ép tim cứu sống người đàn ông 64 tuổi ngừng tuần hoàn, ngã quỵ giữa sân khi đang đánh bóng chuyền hơi.
Trước đó hai ngày, bác sĩ Nguyễn Huy Tiến giành lại sự sống cho một nam thanh niên 22 tuổi ngừng thở sau tai nạn giao thông trên phố Nguyễn Chí Thanh (Hà Nội) nhờ ép tim suốt hai phút.
Khoảng hành lang vốn quen với những chiếc ghế chờ, băng ca và tiếng bước chân vội vã của người nhà bệnh nhân Khoa Điều trị giảm nhẹ, Trung tâm Ung bướu, trở nên khác lạ vào chiều thứ năm 21/5. Những tấm thảm yoga nhiều màu sắc được trải kín nền gạch. Hơn 20 học viên đặc biệt - gồm những bệnh nhân đang mang trọng bệnh và người thân chăm sóc - ngồi trên thảm, chậm rãi làm theo hướng dẫn.
"Các cô chú anh chị cứ làm nhẹ nhàng, thoải mái thôi, mình ngồi sao dễ chịu nhất là được", huấn luyện viên yoga Lý Thùy Yến Phương hướng dẫn.
Trước khi bước vào các động tác yoga, huấn luyện viên hướng dẫn cả lớp thực hiện 12 động tác xoa mặt trong diện chẩn như làm ấm đôi mắt, massage ổ mắt, vò nóng vành tai, gõ răng, đảo lưỡi, xoa môi miệng... Những động tác đơn giản này giúp cơ thể tỉnh táo, thư giãn hơn, giảm rụng tóc, hỗ trợ giảm đau đầu, cải thiện giấc ngủ.
Ngồi ở hàng đầu, ông Văn Chính, quê Tây Ninh, chậm rãi làm theo từng động tác. Mới nhập viện được 6 ngày, đây là lần đầu người đàn ông ngoài 60 tuổi tham gia lớp học. Ông xoay nhẹ cổ tay, vươn vai rồi khẽ cười khi được hướng dẫn hít sâu. "Nằm hoài mệt lắm, tập vậy thấy khỏe hơn, giống như tập thể dục nhẹ", ông nói.
Ở hàng sau đó, bà Kim Huyên, 51 tuổi, chăm chú thực hiện động tác vươn vai rồi tự đấm nhẹ hai bên lưng theo hướng dẫn. Bà đang điều trị u ác buồng trứng, những ngày qua liên tục truyền dịch, truyền máu sau biến chứng mất máu nên cơ thể yếu, ít vận động. Khi nghe điều dưỡng báo có lớp yoga, bà đã đăng ký tham gia ngay.
Khi tiếng nhạc thiền cất lên, cả lớp chuyển sang bài tập thở. Người có thể ngồi xếp bằng thì đặt tay nhẹ lên gối, người đau nhiều hoặc sức yếu chọn tư thế ngồi trên ghế hay tựa vào mép băng ca.
Ở cuối hành lang, cụ ông 74 tuổi được con trai đỡ ngồi dậy trên băng ca để theo lớp học. Tháng trước, ông còn tham gia ngồi tập yoga cùng mọi người. Đợt này, bệnh u ác niệu quản di căn não, phổi khiến sức khỏe suy yếu, ông chỉ còn đủ sức tựa lưng vào người con để nhìn.
Huấn luyện viên Yến Phương cho biết các bài tập ở đây được thiết kế riêng cho bệnh nhân điều trị giảm nhẹ, tập trung vào hơi thở và vận động nhẹ nhàng thay vì sự dẻo dai hay sức bền như yoga thông thường. Quan trọng nhất là giúp người bệnh dễ chịu, thư giãn, cải thiện tinh thần và có thêm động lực, bởi nhiều bệnh nhân ở khoa thường mệt mỏi, đau nhức, nằm lâu khiến cơ thể cứng khớp, tinh thần dễ sa sút.
Thạc sĩ Lê Minh Hiển, Trưởng Phòng Công tác xã hội Bệnh viện Chợ Rẫy, cho biết lớp yoga được tổ chức từ ngày 19/3, định kỳ hai tuần một lần vào chiều thứ 5 như một hoạt động chăm sóc tinh thần cho bệnh nhân ung thư. Do người bệnh liên tục nhập viện, xuất viện hoặc chuyển tuyến, học viên của lớp hiếm khi cố định, có người chỉ tham gia một buổi rồi trở về quê nhưng lớp vẫn kín chỗ với những gương mặt mới. Để duy trì hoạt động, trước mỗi buổi tập, nhân viên khoa cùng Phòng Công tác xã hội tranh thủ dọn hành lang, mang thảm, loa và sắp xếp không gian giữa lịch chăm sóc điều trị dày đặc.
Theo ông Hiển, sau các hoạt động như tiệc trà, xe bánh nước và "ghế ngồi hạng thương gia" ở khoa hóa trị hay lớp yoga tại nhà nghỉ thân nhân, bệnh viện muốn mở rộng thêm không gian giúp người bệnh "rời khỏi giường bệnh", có thêm kết nối và tinh thần tích cực.
"Điều chúng tôi thấy rõ nhất không phải là bệnh nhân tập được bao nhiêu động tác, mà là nụ cười của họ. Có cô chú tập chưa hết bài nhưng buổi học vừa kết thúc đã hỏi 'ngày mai có học nữa không', cho thấy lớp học thật sự mang lại niềm vui và động lực", ông nói.
Bác sĩ chuyên khoa thận Hong Ying-xiang đã chia sẻ trên trang Facebook của mình về trường hợp một nữ nhân viên văn phòng mới 26 tuổi ở Đài Loan, Trung Quốc bị suy thận nặng.
Theo đó, do công việc bán hàng đòi hỏi phải dậy sớm và làm việc muộn, cô có thói quen uống 2 cốc trà sữa trân châu mỗi ngày để giảm căng thẳng. Tuy nhiên, khoảng 6 tháng gần đây, cô bắt đầu xuất hiện tình trạng phù mặt.
Một đêm làm việc muộn ở văn phòng, cô đột nhiên khó thở, cảm thấy như "phổi bị ngập nước, không thể hít đủ không khí". Đồng nghiệp đã vội vàng đưa cô đến phòng cấp cứu.
Theo The Standard, BS Hong, người điều trị cho bệnh nhân, đã thông báo với gia đình rằng: "Chức năng thận của bệnh nhân đã suy hoàn toàn. Độc tố urê vượt quá mức cho phép, gây phù phổi. Bệnh nhân cần được đặt nội khí quản và chạy thận nhân tạo ngay lập tức, nếu không tính mạng sẽ gặp nguy hiểm".
Nghe tin dữ, hai mẹ con ôm nhau khóc nức nở ở hành lang phòng cấp cứu. Người mẹ vừa khóc vừa vỗ lưng con gái, nói: "Con mới 26 tuổi, con sẽ làm gì cho quãng đời còn lại?".
Theo BS Hong, nữ bệnh nhân đã có dấu hiệu protein niệu, tình trạng có đạm (protein) vượt mức bình thường trong nước tiểu do thận bị tổn thương, nhiều năm trước.
Điều này cho thấy có thể cô đã mắc bệnh viêm cầu thận mạn tính nhưng chưa từng đi khám và điều trị. Kết hợp với nhiều năm thức khuya và sở thích uống trà sữa, điều này đã dẫn đến hậu quả không thể đảo ngược, bệnh nhân có thể phải chạy thận nhân tạo suốt đời.
5 nguyên nhân hàng đầu khiến người trẻ phải chạy thận
Về các nguyên nhân gây chạy thận ở người trẻ, BS Hong đã tổng hợp dữ liệu từ hàng chục bài báo y khoa uy tín trên PubMed, nêu rõ 5 nguyên nhân chính dẫn đến việc phải chạy thận ở những người dưới 40 tuổi.
- Bệnh thận bẩm sinh hoặc di truyền
Đây là nguyên nhân hàng đầu trên toàn cầu đối với những người dưới 40 tuổi (30-50% ở châu Âu/Mỹ/Nhật Bản). Trong đó bao gồm bệnh thận đa nang, hội chứng Alport và loạn sản thận bẩm sinh. Chẩn đoán sớm và quản lý chính xác có thể trì hoãn việc chạy thận 10-20 năm hoặc thậm chí ngăn ngừa nó suốt đời.
- Viêm cầu thận
Bệnh thận IgA là bệnh lý viêm cầu thận mạn tính. Bệnh xảy ra khi kháng thể miễn dịch Immunoglobulin A (IgA) bị lỗi và tích tụ trong thận, gây viêm và dần làm tổn thương các đơn vị lọc máu (cầu thận), từ đó có thể dẫn đến suy thận. Một dấu hiệu điển hình là nước tiểu có màu đỏ hoặc nâu như màu cola sau đợt nhiễm khuẩn, đặc biệt sau viêm họng hoặc cảm cúm.
- Bệnh thận do đái tháo đường khởi phát sớm
Ở các khu vực như Bắc Mỹ, Nam Á và Mỹ Latinh, đây là nguyên nhân hàng đầu thứ 2 hoặc thứ 3. Lượng đường trong máu cao mãn tính khiến màng đáy cầu thận dày lên, dẫn đến protein niệu nặng và cuối cùng là suy chức năng lọc của thận.
- Xơ cứng thận do tăng huyết áp
Những trường hợp tăng huyết áp khởi phát sớm (trước 40 tuổi) không được kiểm soát tốt có nguy cơ mắc bệnh thận giai đoạn cuối cao gấp 3,5 lần. Tăng huyết áp thường không có triệu chứng ở người trẻ do độ đàn hồi mạch máu tốt, nhưng âm thầm làm tổn thương các vi mạch thận cho đến khi quá muộn. Thường liên quan đến béo phì và ngưng thở khi ngủ.
- Bệnh thận mạn tính không rõ nguyên nhân
Tình trạng này liên quan đến việc thường xuyên làm việc trong môi trường nóng bức, mất nước kéo dài và tiếp xúc với kim loại nặng.
Làm việc lâu dài trong môi trường nhiệt độ cao mà không bù đủ nước sẽ làm thận nhanh chóng bị lão hóa. Kết hợp với việc lạm dụng một số loại thuốc (thuốc thảo dược, thuốc chống viêm không steroid), nó có thể gây ra viêm thận kẽ (tình trạng viêm và tổn thương các mô kẽ xung quanh ống thận).
5 thói quen làm tăng nguy cơ chạy thận ở người trẻ
BS Hong lưu ý rằng trong khi những điều trên là nguyên nhân chính, chế độ ăn uống và lối sống hiện đại ngày càng đẩy thận đến tình trạng tổn thương.
Đây là 5 thói quen có hại chính:
- Uống đồ uống có đường thay vì nước
Đây là thủ phạm gây hại thận hàng đầu ở mọi lứa tuổi. Bên cạnh béo phì và tiểu đường, quá trình chuyển hóa fructose tạo ra axit uric, có thể gây viêm kẽ mãn tính trong các ống thận.
- Thói quen ăn uống nhiều thực phẩm mặn, chế biến sẵn
Lượng natri dư thừa dẫn đến tăng huyết áp và các cơn gút, làm tăng tốc độ suy thận. Thực phẩm chế biến sẵn có hàm lượng phốt pho và natri cao, trực tiếp gây viêm thận và xơ cứng mạch máu.
- Lạm dụng thuốc giảm đau và thuốc không kê đơn
Sử dụng thuốc chống viêm không steroid lâu dài ức chế sự tiết prostaglandin, gây ra sự sụt giảm mạnh lưu lượng máu đến thận.
- Chế độ ăn giàu protein
Việc tiêu thụ quá nhiều protein (trên 2g/kg/ngày) tạo ra áp lực lọc quá mức lên cầu thận. Nếu ai đó mắc bệnh viêm thận IgA tiềm ẩn, chế độ ăn này có thể đẩy nhanh quá trình suy thận.
- Thiếu ngủ mãn tính và thức khuya
Ngủ ít hơn 5 giờ mỗi đêm làm tăng tốc độ suy giảm chức năng thận. Giấc ngủ ban đêm rất quan trọng cho việc điều hòa huyết áp và loại bỏ chất thải. Thiếu ngủ gây hại cho quá trình trao đổi chất và hệ miễn dịch, làm tăng khả năng dễ bị nhiễm trùng và viêm.