Các công ty chứng khoán nhận định VN-Index vẫn đang trong xu hướng điều chỉnh ngắn hạn khi áp lực bán chưa có dấu hiệu hạ nhiệt. Vùng 1.780-1.800 điểm tiếp tục được đánh giá là ngưỡng hỗ trợ quan trọng, quyết định khả năng hình thành nhịp hồi kỹ thuật của thị trường.
Theo CTCK SHS, tâm lý nhà đầu tư ngắn hạn đang trở nên thận trọng hơn khi áp lực bán cắt lỗ, giảm tỷ trọng đầu cơ và thu hẹp sử dụng đòn bẩy có xu hướng gia tăng. Bối cảnh dư nợ ký quỹ của các công ty chứng khoán cuối quý II/2026 tiếp tục tăng so với quý trước cũng làm gia tăng rủi ro nếu thị trường diễn biến kém tích cực.
SHS cho rằng trong trường hợp VN-Index không giữ được vùng hỗ trợ tương ứng đường trung bình 200 phiên như chỉ số VN30, áp lực bán có thể gia tăng mạnh hơn. Khi đó, chỉ số có khả năng lùi về khu vực 1.750 điểm trước khi xuất hiện cơ hội phục hồi kỹ thuật sau trạng thái quá bán.
Công ty cũng đánh giá chất lượng thị trường ngắn hạn chưa cải thiện khi phần lớn nhóm ngành vẫn trong quá trình tích lũy hoặc điều chỉnh, cơ hội đầu tư tăng trưởng còn hạn chế.
Ở góc nhìn kỹ thuật, CTCK Tiên Phong (TPS) nhận định vùng 1.780-1.800 điểm, đồng thời hội tụ với đường trung bình động MA200, tiếp tục đóng vai trò là ngưỡng hỗ trợ quan trọng, qua đó duy trì cấu trúc tăng trung và dài hạn của thị trường. Tuy nhiên, đây cũng là vùng quyết định xu hướng ngắn hạn trong các phiên sắp tới.
Theo TPS, nếu VN-Index giữ vững vùng hỗ trợ này, khả năng xuất hiện nhịp hồi kỹ thuật sẽ được cải thiện. Ngược lại, việc đánh mất mốc 1.780-1.800 điểm có thể khiến đà điều chỉnh kéo dài trước khi thị trường tìm được điểm cân bằng mới.
TPS cũng lưu ý định giá thị trường hiện vẫn ở mức tương đối hấp dẫn khi P/E của VN-Index khoảng 13,7 lần, thấp hơn mức trung bình 10 năm là 15,3 lần, qua đó tiếp tục hỗ trợ triển vọng trung và dài hạn.
Trong khi đó, CTCK Vietcombank (VCBS) cho biết trên đồ thị ngày, các chỉ báo kỹ thuật như RSI và MACD vẫn duy trì xu hướng đi xuống, phản ánh đà giảm đang chiếm ưu thế. Theo VCBS, VN-Index cần thêm thời gian hấp thụ nguồn cung quanh vùng 1.780-1.800 điểm nếu muốn hình thành vùng đáy ngắn hạn.
Trên khung thời gian ngắn hơn, các chỉ báo kỹ thuật vẫn đang suy yếu nhưng chưa rơi vào vùng quá bán. Vì vậy, VCBS cho rằng thị trường nhiều khả năng vẫn chịu quán tính điều chỉnh trong các phiên tới và các nhịp hồi kỹ thuật chỉ có thể xuất hiện khi trạng thái quá bán được xác lập.
Trong bối cảnh rủi ro ngắn hạn gia tăng, VCBS khuyến nghị nhà đầu tư ưu tiên quản trị rủi ro, chủ động cơ cấu danh mục, giảm tỷ trọng các cổ phiếu đã vi phạm ngưỡng cắt lỗ, duy trì tỉ lệ cổ phiếu ở mức an toàn và hạn chế sử dụng đòn bẩy để phòng ngừa những biến động bất lợi.
NLG: Ông Nguyễn Hiệp, con ông Nguyễn Xuân Quang – Chủ tịch Nam Long, đăng ký mua 1 triệu cổ phiếu NLG từ ngày 17/7 đến 15/8. Nếu hoàn tất giao dịch, tỉ lệ sở hữu của ông Hiệp sẽ tăng lên 1,61% vốn điều lệ.
VNS: Công ty TNHH Tư vấn Kim Ngưu đăng ký bán toàn bộ hơn 2,51 triệu cổ phiếu VNS, tương đương 3,7% vốn, trong thời gian từ 21/7 đến 18/8.
TNI: Ông Bùi Văn Diến đã bán hơn 1,7 triệu cổ phiếu TNI trong ngày 13/7, giảm tỉ lệ sở hữu xuống 2,5% và không còn là cổ đông lớn.
TMS: HĐQT Transimex thông qua kế hoạch mua thêm 500.000 cổ phần tại CTCP Dịch vụ Logistics Thăng Long với giá trị dự kiến 5 tỷ đồng.
Tin Gốc: Người Đưa Tin

UBND TP.HCM vừa ban hành quyết định phê duyệt Đồ án quy hoạch chi tiết tỷ lệ 1/500 khu trung tâm chính trị - hành chính - văn hóa và công viên hồ trung tâm tại Khu đô thị mới Thủ Thiêm, phường An Khánh, TP.HCM.
Theo ghi nhận của phóng viên Thanh Niên vào chiều 9.4, khu đất rộng 33 ha nằm giữa các trục đường Nguyễn Cơ Thạch, Tố Hữu và Mai Chí Thọ hiện vẫn là đất trống. Nhiều khu vực cỏ dại mọc um tùm, xen lẫn các khoảng đầm lầy, ao nước.
Kinh Tế
Bảo vệ người tiêu dùng trước “ma trận” hàng giả trên sàn thương mại điện tử

Sự bùng nổ của thương mại điện tử những năm gần đây đang mở ra một "xa lộ" mua sắm mới cho người tiêu dùng và tạo thêm cơ hội kinh doanh cho hàng triệu cá nhân, doanh nghiệp. Chỉ bằng vài thao tác trên điện thoại, người mua có thể tiếp cận vô số sản phẩm, từ mỹ phẩm, thời trang đến thực phẩm, thiết bị điện tử.
Nhưng cùng với tốc độ tăng trưởng của kinh tế số, một mặt tối khác cũng đang phình to: hàng giả, hàng nhái, hàng không rõ nguồn gốc và các hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trên môi trường trực tuyến.
Điều đáng nói, nếu trước đây hàng giả chủ yếu len lỏi ở chợ truyền thống hay những cửa hàng nhỏ lẻ, thì nay chúng xuất hiện công khai trên các sàn thương mại điện tử, mạng xã hội, livestream bán hàng, thậm chí núp bóng những gian hàng có lượt tương tác cao, hình ảnh chuyên nghiệp và quảng cáo bắt mắt.
Là người thường xuyên mua sắm online, chị Thu Cúc từng tin rằng chỉ cần chọn gian hàng có hình ảnh đẹp, nhiều lượt mua là có thể yên tâm xuống tiền. Nhưng trải nghiệm gần đây khiến chị thay đổi hoàn toàn suy nghĩ.
Chị kể đã đặt mua một chiếc váy thiết kế từ một shop trên sàn thương mại điện tử S., nơi đăng tải hình ảnh sản phẩm rất bắt mắt với người mẫu chuyên nghiệp, mẫu mã giống các thương hiệu cao cấp. Tuy nhiên, khi nhận hàng, chiếc váy thực tế lại khác hoàn toàn.
"Chất liệu vải rất xấu, kiểu dáng không giống mẫu, đường may cẩu thả, màu sắc cũng khác. Sau đó tôi mới phát hiện shop đã lấy toàn bộ hình ảnh từ một thương hiệu khác để quảng cáo", chị nói.
Điều khiến chị tiếc nuối không chỉ là số tiền bỏ ra, mà còn là cảm giác bị đánh lừa ngay trên một nền tảng mua sắm lớn. Dù thất vọng, chị cũng không thực hiện thủ tục khiếu nại hay hoàn hàng vì ngại mất thời gian.
Câu chuyện của chị Thu Cúc không còn là trường hợp cá biệt. Trên các hội nhóm tiêu dùng, không khó để bắt gặp những phản ánh kiểu "ảnh mạng một kiểu, hàng thật một kiểu"; mỹ phẩm gắn mác hàng ngoại nhưng không có tem phụ; thực phẩm chức năng giá rẻ bất thường; hay những món đồ không ai chứng minh được nguồn gốc.
Ranh giới giữa hàng thật và hàng giả trên không gian mạng đang trở nên mờ nhòe hơn bao giờ hết, khi người tiêu dùng chỉ có thể đánh giá sản phẩm qua vài bức ảnh, vài dòng mô tả và những lời quảng cáo đầy hấp dẫn.
Chia sẻ với Người Đưa Tin, ông Nguyễn Đăng Sinh – Chủ tịch Hiệp hội Chống hàng giả và Bảo vệ thương hiệu Việt Nam cho rằng buôn lậu, hàng giả và hàng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ đang có xu hướng dịch chuyển rất mạnh lên môi trường số.
Theo ông Sinh, nếu trước đây hàng giả chủ yếu tiêu thụ qua chợ truyền thống hoặc các đại lý nhỏ lẻ thì nay các đối tượng tận dụng livestream, tài khoản ảo, quảng cáo trên nền tảng số, dịch vụ chuyển phát nhanh và trung gian thanh toán để giao dịch.
"Có thể thấy hàng giả hiện nay không còn xuất hiện theo kiểu nhỏ lẻ như trước mà đã hình thành những chuỗi hoạt động có tổ chức, tận dụng rất mạnh môi trường thương mại điện tử và mạng xã hội để tiêu thụ hàng hóa vi phạm", ông Sinh nhận định.
Điều đáng lo ngại là hàng giả đang len lỏi vào nhiều nhóm hàng thiết yếu như mỹ phẩm, thực phẩm, gia vị, hàng tiêu dùng hằng ngày. Không chỉ làm giả bao bì, nhãn hiệu, nhiều đối tượng còn sử dụng nguyên liệu không rõ nguồn gốc, tiềm ẩn nguy cơ trực tiếp với sức khỏe người tiêu dùng.
Theo báo cáo của Ban Chỉ đạo quốc gia chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả, chỉ trong 4 tháng đầu năm 2026, lực lượng chức năng đã bắt giữ, xử lý gần 44.000 vụ việc liên quan buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả; khởi tố hình sự 1.464 vụ án với hơn 2.200 đối tượng.
Những con số này, theo ông Sinh, cho thấy áp lực kiểm soát trên môi trường thương mại điện tử đang ngày càng lớn.
Thực tế thời gian qua cũng ghi nhận nhiều vụ việc quy mô lớn bị phát hiện. Có những "công xưởng" sản xuất mỹ phẩm giả với hàng chục nghìn sản phẩm mang nhãn hiệu nổi tiếng. Nhiều đường dây bán hàng giả trên không gian mạng bị bóc gỡ với giá trị hàng hóa lên tới hàng chục tỷ đồng.
Đáng chú ý, các đối tượng hiện nay có thể nhanh chóng tạo tài khoản mới, xóa dấu vết giao dịch hoặc hoạt động xuyên biên giới, khiến việc truy vết trở nên khó khăn hơn rất nhiều.
Theo ông Sinh, một trong những điểm nghẽn lớn hiện nay là cơ chế quản lý vẫn chủ yếu theo hướng "hậu kiểm", tức xử lý sau khi vi phạm đã xảy ra. Trong khi đó, môi trường số có tốc độ phát sinh giao dịch cực lớn, phương thức hoạt động thay đổi liên tục khiến cách quản lý truyền thống khó theo kịp.
"Cần chuyển từ tư duy xử lý sang phòng ngừa chủ động", ông Sinh nhấn mạnh.
Ông cho rằng pháp luật cần đi trước một bước, công nghệ phải giữ vai trò trung tâm và dữ liệu cần trở thành nền tảng quản trị trong cuộc chiến chống hàng giả trên không gian mạng.
Dưới góc độ pháp lý, Thạc sỹ, Luật sư Nguyễn Đức Thịnh - Công ty Luật TNHH Fanci nhận định, tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trên các sàn thương mại điện tử đang ngày càng phổ biến và phức tạp hơn trước.
Nếu như trước đây hàng giả, hàng nhái chủ yếu xuất hiện ở chợ truyền thống hay các cửa hàng nhỏ lẻ, thì nay chỉ cần một gian hàng online, tài khoản mạng xã hội hoặc một phiên livestream, hàng hóa vi phạm đã có thể tiếp cận lượng lớn người tiêu dùng trong thời gian rất ngắn.
Theo ông Thịnh, các hành vi phổ biến hiện nay gồm sử dụng trái phép nhãn hiệu, bán hàng giả mạo thương hiệu, sao chép bao bì, kiểu dáng hoặc dùng hình ảnh hàng chính hãng để quảng cáo nhưng giao hàng kém chất lượng, không rõ nguồn gốc. Đáng lo ngại hơn, môi trường số tạo điều kiện để người vi phạm hoạt động với chi phí thấp, tốc độ lan truyền nhanh và khả năng ẩn danh cao.
"Một gian hàng bị gỡ hôm nay có thể xuất hiện lại ngày mai dưới tên khác, tài khoản khác", ông nói.
Cũng theo Luật sư Thịnh, các đối tượng hiện liên tục thay đổi thủ đoạn để "qua mặt" sàn thương mại điện tử và cơ quan chức năng. Phổ biến nhất là sử dụng hình ảnh, logo, bao bì của thương hiệu thật để tạo niềm tin, nhưng khi giao hàng lại là hàng giả hoặc hàng nhái. Nhiều gian hàng còn cố tình "né" kiểm duyệt bằng cách viết biến dạng tên thương hiệu, dùng các cụm từ như "like auth", "hàng loại 1", "hàng xuất dư", "hàng nội địa"… đánh vào tâm lý thích hàng giá rẻ nhưng vẫn muốn giống hàng thật của người tiêu dùng.
Ngoài ra, nhiều đối tượng chia nhỏ hoạt động qua nhiều tài khoản bán hàng, nhiều số điện thoại, nhiều tài khoản nhận tiền và kho trung gian khác nhau. Khi bị phản ánh hoặc khóa gian hàng, họ nhanh chóng lập tài khoản mới, đổi tên sản phẩm hoặc chuyển sang nền tảng khác để tiếp tục hoạt động.
Đặc biệt, hình thức livestream, bán hàng qua hội nhóm kín, tin nhắn riêng hay thông qua KOL/KOC đang khiến việc truy vết và thu thập chứng cứ khó khăn hơn rất nhiều.
Từ thực tế đó, ông Thịnh cho rằng giải pháp không thể chỉ dừng ở việc kiểm soát khâu đăng tải sản phẩm. Theo ông, cần siết quản lý toàn bộ hệ sinh thái giao dịch số, từ xác thực danh tính người bán, kiểm soát dữ liệu giao dịch, dòng tiền, kho hàng cho tới lịch sử vi phạm. Các sàn thương mại điện tử cũng phải nâng cao trách nhiệm quản trị rủi ro, thay vì chỉ đóng vai trò trung gian hưởng lợi từ giao dịch.
"Không thể bắt sàn chịu trách nhiệm thay cho mọi hành vi của người bán, nhưng cũng không thể để sàn chỉ hưởng lợi mà thiếu cơ chế kiểm soát tối thiểu", ông nhấn mạnh.
Theo luật sư Thịnh, điểm mấu chốt hiện nay không nằm ở việc thiếu chế tài xử phạt. Hệ thống pháp luật đã có đầy đủ quy định xử phạt hành chính, buộc tiêu hủy hàng hóa, bồi thường thiệt hại, thậm chí xử lý hình sự đối với hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ. Tuy nhiên, hiệu quả răn đe trên môi trường số vẫn còn hạn chế bởi người vi phạm có thể nhanh chóng xóa dấu vết, đổi tài khoản và tái lập gian hàng mới chỉ sau thời gian ngắn.
"Vấn đề không chỉ là tăng mức phạt, mà phải làm cho việc vi phạm trở nên không còn có lợi", ông Thịnh nhấn mạnh. Theo đó, cơ quan chức năng cần truy được nguồn hàng, dòng tiền, kho hàng và tài khoản bán hàng; khóa được các gian hàng tái phạm; đồng thời công khai hành vi vi phạm và xử lý nghiêm các đường dây có tổ chức, quy mô lớn, thu lợi bất chính đáng kể.
Bên cạnh trách nhiệm của sàn và cơ quan quản lý, ông Thịnh cũng cho rằng người tiêu dùng phải trở thành "lá chắn" đầu tiên để tự bảo vệ mình trên môi trường số. Người mua cần cảnh giác với các sản phẩm giá rẻ bất thường, ưu tiên gian hàng chính hãng hoặc đã được xác thực, không nên tin hoàn toàn vào quảng cáo trên livestream hay mạng xã hội.
Đồng thời, cần lưu lại đầy đủ chứng cứ giao dịch như hình ảnh sản phẩm, tin nhắn, mã đơn hàng và video mở hàng để làm căn cứ khi phát sinh tranh chấp.
Theo Luật sư Nguyễn Đức Thịnh, trong bối cảnh thương mại điện tử phát triển quá nhanh, chống hàng giả không còn là nhiệm vụ riêng của cơ quan chức năng mà đòi hỏi sự phối hợp đồng thời từ sàn thương mại điện tử, doanh nghiệp, nền tảng số và chính người tiêu dùng.
Tin Gốc: Người Đưa Tin

Chính phủ vừa ban hành Nghị quyết số 80 sửa đổi, bổ sung, cập nhật Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 06-NQ/TW (Nghị quyết 06) ngày 24.1.2022 của Bộ Chính trị về quy hoạch, xây dựng, quản lý và phát triển bền vững đô thị VN đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045; và Kết luận số 224-KL/TW ngày 8.12.2025 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết 06. Theo đó, Chính phủ cụ thể hóa các mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp đã nêu gắn với kế hoạch tổ chức thực hiện theo lộ trình cụ thể.
Tại Nghị quyết 06, Bộ Chính trị đã nhận định thời gian qua, tỷ lệ đô thị hóa xác định theo địa bàn có chức năng đô thị đã tăng từ 30,5% năm 2010 lên gần 40% năm 2020. Đô thị hóa và phát triển đô thị trở thành động lực quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội.
Kinh tế khu vực đô thị tăng trưởng ở mức cao, đóng góp khoảng 70% GDP cả nước. Bước đầu đã hình thành cực tăng trưởng kinh tế và trung tâm đổi mới sáng tạo; khoa học, công nghệ; giáo dục, đào tạo tại các đô thị lớn, nhất là tại thủ đô Hà Nội và TP.HCM. Tuy nhiên, quá trình đô thị hóa, công tác quy hoạch, xây dựng, quản lý và phát triển đô thị vẫn còn nhiều hạn chế. Tỷ lệ đô thị hóa đạt được thấp hơn mục tiêu đề ra trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020 và còn khoảng cách khá xa so với tỷ lệ bình quân của khu vực và thế giới. Chất lượng đô thị hóa chưa cao, phát triển đô thị theo chiều rộng là chủ yếu, gây lãng phí về đất đai, mức độ tập trung kinh tế còn thấp. Kết cấu chất lượng, hạ tầng đô thị chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển dân số và kinh tế khu vực đô thị; chưa thích ứng với biến đổi khí hậu, ứng phó với dịch bệnh quy mô lớn. Khả năng tiếp cận dịch vụ công và phúc lợi xã hội của người nghèo và lao động di cư tại đô thị còn thấp và nhiều bất cập…
Bộ Chính trị nhấn mạnh: đô thị hóa là yếu tố khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững trong thời gian tới. Do đó cần phải đẩy nhanh tốc độ và nâng cao chất lượng đô thị hóa, phát triển đô thị bền vững theo mạng lưới, hình thành một số đô thị, chuỗi đô thị động lực thông minh kết nối khu vực và thế giới… Những mục tiêu cụ thể đã được nêu rõ như phấn đấu tỷ lệ đô thị hóa toàn quốc đến năm 2030 đạt trên 50%. Tỷ trọng kinh tế số trong GRDP của các đô thị trực thuộc T.Ư đạt bình quân 35 - 40% vào năm 2030. Xây dựng được mạng lưới đô thị thông minh trung tâm cấp quốc gia và cấp vùng kết nối quốc tế và 3 - 5 đô thị có thương hiệu được công nhận tầm khu vực và quốc tế vào năm 2030. Mục tiêu xa hơn với tầm nhìn đến năm 2045, tỷ lệ đô thị hóa thuộc nhóm trung bình cao của khu vực ASEAN và châu Á; xây dựng được ít nhất 5 đô thị đạt tầm cỡ quốc tế, giữ vai trò là đầu mối kết nối và phát triển với mạng lưới khu vực và quốc tế. Cơ cấu kinh tế khu vực đô thị phát triển theo hướng hiện đại với các ngành kinh tế xanh, kinh tế số chiếm tỷ trọng lớn.
Ủng hộ mục tiêu phát triển đô thị tại VN theo Nghị quyết 06 của Bộ Chính trị và chương trình hành động của Chính phủ, KTS Ngô Viết Nam Sơn khẳng định: theo kinh nghiệm quốc tế lẫn lịch sử của VN, phát triển đô thị, tăng trưởng đô thị song hành với tăng trưởng kinh tế - xã hội nói chung của đất nước. Những nước phát triển đều có tỷ lệ đô thị hóa cao. Không chỉ thúc đẩy phát triển đô thị mà mục tiêu của Đảng, Chính phủ đưa ra còn là xây dựng các đô thị hiện đại, thông minh, bền vững là rất đúng đắn. Chúng ta cần kiên định, quyết tâm thực hiện mục tiêu này; khi đó sẽ đóng góp lớn cho việc đạt mục tiêu đưa kinh tế VN phát triển cao, thực chất, bền vững.
Theo TS Phạm Viết Thuận, Viện trưởng Viện Kinh tế tài nguyên và môi trường TP.HCM, thực tế cho thấy đô thị hóa luôn gắn liền với quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa. Các đô thị lớn không chỉ là trung tâm kinh tế mà còn là nơi hội tụ nguồn lực chất lượng cao, đổi mới sáng tạo và hệ sinh thái dịch vụ. Tỷ lệ đô thị hóa của VN hiện vẫn thấp hơn nhiều nước trong khu vực, đồng nghĩa với dư địa phát triển còn lớn. Khi được quy hoạch và quản lý hiệu quả, quá trình đô thị hóa sẽ tạo ra các cực tăng trưởng mới, góp phần nâng cao năng suất lao động, thúc đẩy tiêu dùng nội địa và thu hút đầu tư nước ngoài.
"Việc đặt mục tiêu ở mức "trung bình cao" trong khu vực cũng được xem là lựa chọn hợp lý, tránh rơi vào tình trạng phát triển nóng nhưng thiếu bền vững", TS Thuận nhận định và cho rằng mục tiêu xây dựng ít nhất 5 đô thị tầm cỡ quốc tế không chỉ mang ý nghĩa hình ảnh mà đòi hỏi các tiêu chuẩn khắt khe về hạ tầng, kinh tế và môi trường sống. Đây phải là những đô thị có hệ thống giao thông, năng lượng và hạ tầng số đồng bộ, đóng vai trò trung tâm tài chính, thương mại, đổi mới sáng tạo của khu vực; đồng thời có sức cạnh tranh toàn cầu về chất lượng sống và làm việc. Những đô thị như Hà Nội, TP.HCM, Đà Nẵng, Hải Phòng, Quảng Ninh được đánh giá có tiềm năng trở thành các "đầu tàu" nếu được đầu tư đúng hướng. Quan trọng hơn, các đô thị này sẽ đóng vai trò lan tỏa, thúc đẩy sự phát triển của các vùng vệ tinh, góp phần giảm áp lực dân số và hạ tầng cho các trung tâm hiện hữu.
Đồng quan điểm, TS Trần Việt Anh, Phó hiệu trưởng phụ trách Trường ĐH Hùng Vương, nhấn mạnh định hướng của Nghị quyết 80 là hoàn toàn xác đáng trong bối cảnh đô thị hóa đang trở thành động lực cốt lõi của tăng trưởng. Hiện tỷ lệ đô thị hóa của VN đạt khoảng 44 - 45%, nhưng khu vực đô thị đã đóng góp tới 70 - 75% GDP, cho thấy chất lượng đô thị quan trọng hơn tốc độ đô thị hóa. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy đô thị hóa thành công không đến từ việc mở rộng mà từ tích hợp. Nhìn ra thế giới, những quốc gia đô thị hóa thành công đều đi theo một mô hình chung là đô thị hóa không phải là mở rộng đất đai, mà là tổ chức lại không gian kinh tế và dân cư một cách hiệu quả. Như tại Hàn Quốc, quá trình phát triển Seoul, vùng thủ đô, không chỉ là mở rộng đô thị mà là quy hoạch vùng tích hợp giao thông - việc làm - nhà ở, với hệ thống metro và đô thị vệ tinh phát triển đồng bộ.
Ở Singapore, dù diện tích hạn chế, nhưng quốc gia này vẫn trở thành đô thị toàn cầu nhờ quản trị quy hoạch cực kỳ kỷ luật, phát triển nhà ở xã hội quy mô lớn và kiểm soát chặt sử dụng đất. Hay tại Trung Quốc, các đô thị như Thâm Quyến chỉ mất 30 năm để vươn tầm quốc tế, nhưng nền tảng là đầu tư hạ tầng quy mô lớn và cơ chế đặc thù vượt trội. Ông nhấn mạnh: Nghị quyết 80 đã đưa ra một tầm nhìn dài hạn, phù hợp với xu thế phát triển toàn cầu và điều kiện của VN. Việc hướng đến các đô thị tầm cỡ quốc tế không phải là tham vọng xa vời, mà là bước đi cần thiết để nâng cao vị thế quốc gia. Vấn đề còn lại là triển khai như thế nào để biến mục tiêu thành hiện thực. Nếu làm tốt, đô thị hóa sẽ không chỉ là câu chuyện của hạ tầng và dân số, mà sẽ trở thành động lực cốt lõi đưa VN tiến gần hơn tới mục tiêu trở thành quốc gia phát triển vào năm 2045.
Nghị quyết 80 của Chính phủ đã đề ra hàng loạt nhiệm vụ cụ thể, giao nhiệm vụ cho các bộ, ngành, thành phố trực thuộc T.Ư để thực hiện việc phát triển đô thị. KTS Ngô Viết Nam Sơn nhận xét VN đang đi đúng hướng nhưng tốc độ đi nhanh hay chậm phụ thuộc nhiều vào sự cố gắng, hợp tác nói chung từ cơ quan quản lý nhà nước đến người dân. Hiện nay cả nước đã thực hiện thay đổi về bộ máy chính quyền còn 2 cấp, sáp nhập tỉnh thành, tinh giản bộ máy hành chính; điều này góp phần tăng tính hiệu quả hơn trong chọn lọc phát triển đô thị. Vì vậy, cần đánh giá lại tổng quan kế hoạch, cách nhìn đô thị hóa (chẳng hạn về số lượng đô thị sẽ có sự thay đổi). Đồng thời, Chính phủ cần tập trung phát triển hạ tầng; thực hiện cơ chế hợp tác công - tư, kể cả hợp tác quốc tế để xây dựng các đô thị hiện đại, thông minh; từ đó khuyến khích phát triển các mô hình mới như đô thị sân bay, khu thương mại tự do, khu đô thị dọc theo các tuyến metro (TOD)…
"Chúng ta đặt ra mục tiêu đúng là phải phát triển đô thị hiện đại, bền vững nghĩa là phát triển nhưng phải đánh giá tác động môi trường và điều chỉnh về tác động trong giới hạn cho phép. Khi phát triển đúng theo định hướng này thì các nguy cơ đã từng có ở các đô thị trước đây như ô nhiễm, kẹt xe, ngập nước… sẽ không còn. Đây chính là đảm bảo chất lượng cuộc sống của người dân trong đô thị, song hành với mục tiêu phát triển kinh tế cao, thực chất, bền vững của VN đến năm 2045", KTS Ngô Viết Nam Sơn chia sẻ.
Trong khi đó, để đạt mục tiêu đến năm 2045, TS Trần Việt Anh cho rằng VN cần chuyển mạnh sang mô hình đô thị hóa thế hệ mới, trong đó quy hoạch vùng đóng vai trò trung tâm thay vì phát triển cục bộ từng địa phương. Các cực tăng trưởng như TP.HCM và Hà Nội cần được đặt trong tổng thể vùng đô thị mở rộng, tăng cường liên kết với các địa phương lân cận. Cùng với đó, hạ tầng cần đi trước một bước, đặc biệt là hệ thống metro, vành đai, cao tốc và logistics, những yếu tố được xem là "xương sống" của quá trình đô thị hóa. Thể chế cũng phải đủ mạnh và linh hoạt để tạo điều kiện cho các cơ chế đặc thù về tài chính, đất đai và đầu tư, tương tự kinh nghiệm của các đô thị quốc tế.
Một trụ cột khác là phát triển đô thị gắn với kinh tế tri thức, nơi không chỉ cung cấp không gian sống mà còn là trung tâm tài chính, công nghệ, giáo dục và đổi mới sáng tạo. Đồng thời, yếu tố bền vững phải trở thành tiêu chuẩn bắt buộc, với yêu cầu về đô thị xanh, thông minh và thích ứng biến đổi khí hậu.
TS Phạm Viết Thuận lưu ý để hiện thực hóa mục tiêu này, thách thức đầu tiên nằm ở bài toán quy hoạch và quản trị đô thị. Bên cạnh đó, việc xây dựng các đô thị tầm cỡ quốc tế đòi hỏi nguồn vốn rất lớn, trong khi ngân sách còn hạn chế. Do đó, việc huy động nguồn lực xã hội hóa, đặc biệt từ khu vực tư nhân và dòng vốn đầu tư nước ngoài, sẽ đóng vai trò then chốt. Yếu tố con người và công nghệ cũng được nhấn mạnh, bởi đô thị hiện đại không chỉ là sự phát triển của hạ tầng vật chất mà còn là nơi vận hành bởi nguồn nhân lực chất lượng cao cùng hệ thống quản trị thông minh.
Hơn nữa, mục tiêu đô thị hóa không nên chỉ dừng ở tỷ lệ, mà cần hướng đến chất lượng với các tiêu chí về đô thị xanh, thích ứng biến đổi khí hậu, mở rộng không gian công cộng, bảo tồn bản sắc và đảm bảo tiếp cận nhà ở, dịch vụ cơ bản cho mọi tầng lớp.

