Công trường sân bay Long Thành rộn ràng thi công xuyên ngày đêm và có kế hoạch đưa vào khai thác thương mại vào ngày 1-12.
Trong những năm đầu, hành khách từ TP.HCM vẫn chủ yếu đến sân bay bằng hệ thống đường bộ, cao tốc đã được đầu tư, mở rộng.
Về lâu dài, điều mà người dân kỳ vọng là một ngày có thể từ TP.HCM, bước lên tàu metro và chỉ khoảng 30 phút sau đã có mặt tại nhà ga sân bay Long Thành.
Bên cạnh mở thông kết nối đường bộ, chỉ trong một năm trở lại đây, TP.HCM và TP Đồng Nai đã hợp lực, vận dụng cơ chế đặc thù, thu hút nguồn vốn để triển khai nghiên cứu, đầu tư đồng loạt 5 dự án metro kết nối giữa hai sân bay Tân Sơn Nhất và Long Thành.
Theo thống kê của Báo điện tử Tuổi Trẻ, tổng số vốn sơ bộ của 5 dự án khoảng 368.800 tỉ đồng, tương đương 14,2 tỉ USD.
Trên hành lang sân bay Tân Sơn Nhất – Bến Thành – Thủ Thiêm – sân bay Long Thành, TP.HCM đã khởi công metro số 2 đoạn Bến Thành – Tham Lương và metro số 2 đoạn Bến Thành – Thủ Thiêm.
Nối tiếp là metro Thủ Thiêm – Long Thành hiện đang được Công ty cổ phần Đầu tư địa ốc Đại Quang Minh nghiên cứu, dự kiến khởi công vào tháng 9-2026.
Bên cạnh hành lang Tân Sơn Nhất – Bến Thành – Thủ Thiêm – Long Thành, TP.HCM còn triển khai một trục kết nối thứ hai qua khu vực Phú Hữu.
Hành lang hình thành từ sự kết hợp giữa metro số 6 giai đoạn 1 sân bay Tân Sơn Nhất – Phú Hữu dài 22,9km và metro Thủ Thiêm – Long Thành.
Theo kế hoạch, metro số 6 giai đoạn 1 sẽ được khởi công vào tháng 12-2026.
Ở hành lang kết nối với metro số 1 (Bến Thành – Suối Tiên), HĐND TP Đồng Nai cũng đã thông qua chủ trương đầu tư tuyến kéo dài từ ga Bến xe Suối Tiên chạy về Trung tâm hành chính TP Đồng Nai và sân bay Long Thành.
Dự án này cũng đã được TP Đồng Nai đề xuất Chính phủ thực hiện xây dựng theo lệnh khẩn cấp.
UBND TP Đồng Nai cũng đã chỉ đạo các sở ngành, đơn vị địa phương đẩy nhanh các thủ tục bồi thường, giải phóng mặt bằng để phục vụ dự án.
Hiện địa phương cũng đang thực hiện các thủ tục cần thiết trước khi tổ chức lựa chọn nhà đầu tư trong trường hợp đặc biệt.
Với tình hình triển khai đầu tư hiện nay, sân bay Long Thành sẽ trở thành sân bay hội tụ nhiều đường sắt, metro nhất cả nước.
Hiện đã xác định rõ có ba tuyến sẽ đi vào sân bay, gồm đường sắt tốc độ cao Bắc – Nam, metro Thủ Thiêm – Long Thành và metro số 1 (Bến Thành – Suối Tiên) nối dài.
Trong đó, đường sắt tốc độ cao Bắc – Nam chủ yếu phục vụ liên tỉnh, có tần suất khai thác thấp, chi phí cao nên dự kiến sẽ thu hút được một phần lượng khách có nhu cầu từ sân bay Long Thành đi Thủ Thiêm và ngược lại.
Còn metro Thủ Thiêm – Long Thành và metro số 1 (Bến Thành – Suối Tiên) nối dài có giá vé rẻ, tần suất chuyến dày hơn, sẽ đảm nhận phần lớn phân khúc phục vụ hành khách đi và đến sân bay Long Thành.
Dựa trên phương án lộ trình và kế hoạch dừng đỗ tại các ga, dự án metro Thủ Thiêm – Long Thành cũng đã xác định thời gian đi tàu từ ga Thủ Thiêm đến sân bay trong giai đoạn đầu là 31 phút.
Ngoài các tuyến trên, TP.HCM cũng đang nghiên cứu metro số 3 nối Vũng Tàu – Bà Rịa – Phú Mỹ đến sân bay Long Thành.
Đây cũng sẽ là trục metro đầu tiên kết nối sân bay quốc tế Long Thành với biển.
Theo tính toán, thời gian từ Vũng Tàu đến sân bay Long Thành với loại tàu di chuyển nhanh là 30 phút (dừng ít ga), tàu thường khoảng 50 phút.
Nhìn tổng thể cho thấy sân bay Long Thành đang sở hữu một hệ thống vận tải đa phương thức, với nhiều tuyến cao tốc, metro và đường sắt tốc độ cao cùng hội tụ.
Với lợi thế này, Long Thành sẽ không chỉ là sân bay lớn nhất cả nước mà còn trở thành hub trung chuyển đa phương thức (Multimodal Transport Hub) quy mô lớn nhất Việt Nam.
Ngày 24/6, đại tá Hà Văn Ái, Phó chính ủy Bộ Chỉ huy quân sự TP Huế, cùng ông Phạm Ngọc Tuấn, cựu chiến binh Trung đoàn 6 Phú Xuân, kiểm tra thực địa tại đường Tôn Thất Thiệp, cạnh cửa Hữu thuộc kinh thành Huế, được cho là nơi chôn cất chiến sĩ hy sinh trong trận Mậu Thân 1968.
Ông Phạm Ngọc Tuấn cho biết khu vực cửa Hữu từng là nơi đặt trạm phẫu thuật và sơ cứu cho các chiến sĩ bị thương trong chiến dịch Tết Mậu Thân 1968. Sau các trận giao tranh, nhiều cán bộ, chiến sĩ hy sinh được chôn cất tạm thời tại đây.
Cơ quan chức năng từng xác định vị trí và xây dựng bia tưởng niệm các cán bộ, chiến sĩ hy sinh trong Tết Mậu Thân 1968 song nhiều đợt tìm kiếm, khảo sát vẫn chưa phát hiện được hài cốt. Từ ký ức còn lưu giữ, ông Tuấn cho rằng phạm vi tìm kiếm cần mở rộng sang các khu vực lân cận.
Tiếp thu ý kiến của nhân chứng, đại tá Hà Văn Ái cho biết sẽ tiếp tục giao Đội quy tập hài cốt liệt sĩ 192 khảo sát, thu thập thêm thông tin và đối chiếu với các nguồn tư liệu hiện có. Đơn vị dự kiến sử dụng các phương tiện kỹ thuật, trong đó có radar xuyên đất nhằm nâng cao hiệu quả xác định vị trí nghi vấn.
Trước đó, ông Lê Văn Lượt, 70 tuổi, ở phường Phú Xuân, cung cấp cho Bộ Chỉ huy quân sự TP Huế về hố bom chôn cất khoảng 15 chiến sĩ giải phóng trên đường Tôn Thất Thiệp ở ngay cửa Chánh Tây.
Ông Lê Văn Lượt cho biết cách đây 58 năm, ông cùng bố đi trên khu vực kinh thành Huế thấy có khoảng 15 chiến sĩ giải phóng được chôn lấp trong khu vực hố bom sâu khoảng 3 m cạnh cửa Chánh Tây. Khu vực hố bom nay là đường Tôn Thất Thiệp giao với đường Thái Phiên, cạnh cửa Chánh Tây.
Sau khi tiếp nhận thông tin, Bộ Chỉ huy quân sự TP Huế đánh giá vẫn còn những vị trí chôn cất chưa được phát hiện trong khu vực nội thành Huế và cần tiếp tục rà soát theo ký ức nhân chứng kết hợp phương tiện kỹ thuật hiện đại. Lãnh đạo Bộ Chỉ huy quân sự TP Huế kêu gọi các cựu chiến binh, nhân chứng lịch sử và người dân nếu còn lưu giữ tài liệu, hình ảnh hoặc thông tin liên quan đến vị trí chôn cất liệt sĩ tiếp tục cung cấp cho lực lượng chức năng để phục vụ tìm kiếm, sớm đưa các liệt sĩ trở về với gia đình.
Cuộc tổng tiến công và nổi dậy diễn ra rạng sáng 31/1/1968, với các đợt tấn công đồng loạt ở nhiều đô thị trên toàn miền Nam. Trong đó, Huế được xác định là một trong ba chiến trường đô thị trọng điểm cùng với Sài Gòn và Đà Nẵng.
Quân giải phóng đồng loạt tiến công vào TP Huế, nhanh chóng kiểm soát phần lớn Thành Nội và nhiều cơ quan hành chính. Trận chiến kéo dài gần một tháng, từ cuối tháng 1 đến cuối tháng 2/1968. Mỹ và Việt Nam Cộng hòa sau đó mở nhiều đợt phản công nhằm tái chiếm thành phố. Giao tranh diễn ra quyết liệt tại khu vực Thành Nội, Kỳ Đài, Đại Nội và các khu dân cư ven sông Hương.
Ông Phan Thành Lập là người trực tiếp tham gia, chỉ huy các chiến sĩ thực hiện 18 chuyến xâm nhập tàu của các toán biệt kích, tổ chức phản động lưu vong nước ngoài để tiếp nhận vũ khí vận chuyển vào đất liền; tiêu diệt, bắt sống nhiều tên biệt kích, phản động. Những ký ức của ông về Kế hoạch phản gián CM12 góp phần tái hiện trang sử oai hùng của lực lượng Công an nhân dân Việt Nam sau ngày đất nước thống nhất.
Ông Lập kể, tháng 9.1982, Công an tỉnh Cà Mau (cũ) thành lập đơn vị đặc biệt cho Kế hoạch phản gián CM12. Khi đó, ông Lập 27 tuổi, được giao làm đội trưởng của đơn vị đặc biệt, trực tiếp quản lý, chỉ đạo hơn 100 chiến sĩ.
Suốt nhiều tháng, ông Lập cùng các chiến sĩ tập luyện vô cùng khó khăn, vất vả, thường xuyên tá túc tại Trại giam Cây Gừa và Phân trại cải tạo Sông Đốc, huyện Trần Văn Thời, Cà Mau (cũ). Để hóa trang thành biệt kích, ông cùng các chiến sĩ phải để râu ria xồm xoàm, tóc dài như thiếu nữ; đồng thời ngày đêm khổ luyện dưới mương nước, bãi bồi để có sức dẻo dai, thích nghi với thời tiết mưa bão, sóng gió trên biển...
Các toán biệt kích, tổ chức phản động lưu vong nước ngoài thường sử dụng tàu để vận chuyển vũ khí, tiền giả. Mỗi tàu tải trọng hơn 10 tấn, máy có công suất 60 mã lực. Mỗi chuyến vận chuyển vũ khí thường đi cùng lúc 2 chiếc, chạy tốc độ cao.
Khi nhận tín hiệu tàu gần tới bờ biển Sông Đốc, Mỹ Bình, Bãi Ghe..,. ông Lập cùng các chiến sĩ dùng ghe gỗ tiếp cận, nhận vũ khí. Sau đó, vận chuyển vào bờ, tiếp tục bốc lên bãi tập kết, đưa lên xe chuyển lên TP.HCM.
Những chuyến tiếp cận như vậy không chỉ vất vả mà rất nguy hiểm. Bởi các toán biệt kích, tổ chức phản động luôn kè kè súng trên tay. Khi các toán biệt kích thả những thùng vũ khí xuống biển, ông Lập cùng các chiến sĩ vớt lên tàu gỗ. Thùng nào bị bung, vỡ, rớt xuống biển thì các chiến sĩ phải lặn mò, bất chấp đêm tối, bão biển.
"Có những thùng vũ khí trôi dạt vào bãi bồi Sông Đốc, Mỹ Bình, người dân nhặt được giao cho công an địa phương và chúng tôi giải thích cho bà con đó là vũ khí do Liên Xô viện trợ, tàu bị chìm, trôi dạt vào bờ để tránh bị lộ", ông Lập chia sẻ.
Theo ông Lập, trong 3 năm (1981 - 1984), thế lực phản động thực hiện 18 chuyến xâm nhập bằng tàu biển vào huyện Trần Văn Thời (cũ), mỗi chuyến đều mang theo hàng chục tấn vũ khí, thuốc nổ cực mạnh, cùng hàng trăm tên biệt kích.
Đêm 9.9.1984 là chuyến xâm nhập cuối cùng, cũng là chuyến nguy hiểm nhất, do Mai Văn Hạnh và Trần Văn Bá cầm đầu. Chúng đi trên 2 chiếc tàu chở 10 tấn vũ khí từ nước ngoài về điểm tập kết tại Hòn Đá Bạc.
Xét thấy thời cơ đã chín muồi, lực lượng An ninh Việt Nam quyết định kết thúc Kế hoạch phản gián CM12 bằng trận đánh cuối cùng một cách trọn vẹn, đập tan mưu đồ phá hoại của bọn phản động. Chính ông Lập đã chỉ đạo trực tiếp tiêu diệt và bắt sống nhiều tên biệt kích, phản động.
Kế hoạch phản gián CM12 thành công rực rỡ. Lực lượng công an bắt được 189 tên phản động lưu vong, thu giữ 143 tấn vũ khí, 90 tấn đạn dược, 1,2 tấn chất nổ, 14 tấn tiền giả; bắt và tiêu diệt hàng trăm tên gián điệp, biệt kích, thu hàng trăm tấn vũ khí, nhiều phương tiện chiến tranh. Phá tan hàng chục tổ chức phản động trong nước, làm phá sản toàn bộ hoạt động vũ trang và xâm nhập từ bên ngoài vào Việt Nam hòng gây bạo loạn, lật đổ...
Chuyên án kết thúc, cuối năm 1984, có 3 cá nhân và 2 tập thể được Chủ tịch nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, trong đó có ông Phan Thành Lập, khi đó mới 29 tuổi.
Sau đó, ông Lập được Bộ Nội vụ rút về Trại Suối Máu, Biên Hòa (Đồng Nai) tiếp tục cải tạo cho hơn 100 tên phản động lưu vong bị bắt giữ. Năm 1991, ông Lập học văn hóa ở tỉnh Tiền Giang (cũ), rồi làm Phó giám thị Trại giam Cây Gừa; Giám thị Trại giam Bạc Liêu. Năm 2000, ông giữ chức Trưởng phòng CSGT Công an Bạc Liêu (cũ), được phong hàm đại tá. Hiện đại tá Lập sống cùng gia đình tại khóm Kim Cấu, phường Vĩnh Trạch, Cà Mau.
Chiến công của đại tá, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Phan Thành Lập trong Kế hoạch phản gián CM12 không chỉ góp phần giữ vững an ninh Tổ quốc, mà còn là bài học về lòng dũng cảm, sự thông minh và ý chí kiên định cho thế hệ trẻ hôm nay.
Cách đây khoảng 3 năm, anh N.V.T (31 tuổi, quê Phú Thọ) bị trượt chân và ngã vào nồi nước sôi đang bốc hơi nghi ngút. Tai nạn này khiến đầu, mặt, cổ và mắt của anh bị bỏng nặng.
Anh T. được cấp cứu ban đầu tại địa phương, tiếp đó chuyển về Hà Nội điều trị. Sau tai nạn, dù giữ được tính mạng nhưng những di chứng bỏng nặng khiến anh T. sống trong bóng tối, tưởng chừng cuộc sống đã khép lại.
Sẹo co rút dày đặc xuất hiện khắp vùng mặt và cổ, kéo lệch cấu trúc khuôn mặt. Hai mắt tổn thương nghiêm trọng, giác mạc bị che phủ khiến anh gần như mất hoàn toàn thị lực. Vùng miệng co kéo nặng đến mức chỉ có thể mở khoảng 1 cm.
Đầu năm 2026, anh T. đến Bệnh viện đa khoa Bình Dương (TP.HCM) để tiếp tục điều trị. Sau nhiều lần hội chẩn, các bác sĩ đánh giá đây là trường hợp tổn thương đặc biệt phức tạp.
Mục tiêu điều trị không chỉ tạo hình thẩm mỹ, mà còn phải phục hồi đồng thời nhiều chức năng quan trọng như ăn uống, vận động vùng mặt, bảo vệ nhãn cầu và tạo tiền đề cho khả năng phục hồi thị lực về sau.
Trưởng ê kíp phẫu thuật Khoa Chấn thương chỉnh hình Bệnh viện đa khoa Bình Dương, cho biết khó khăn lớn nhất là gần như toàn bộ vùng mặt của người bệnh đã bị sẹo co rút biến dạng, trong khi mô lành còn lại rất ít.
Ê kíp từng cân nhắc phương án ghép mặt từ người hiến chết não - kỹ thuật đã được thực hiện tại một số quốc gia. Tuy nhiên, phương pháp này tiềm ẩn nhiều nguy cơ, người bệnh phải sử dụng thuốc chống thải ghép suốt đời và đối diện nhiều biến chứng lâu dài.
Cuối cùng, ê kíp quyết định lựa chọn mô tự thân để tái tạo khuôn mặt cho người bệnh. Đây là hướng đi khó nhưng an toàn và phù hợp hơn.
Ca phẫu thuật được thực hiện liên tục trong 16 giờ với sự phối hợp của ê kíp Khoa Chấn thương chỉnh hình và Khoa Gây mê hồi sức.
Với 2 ê kíp thực hiện song song, các bác sĩ tiến hành lấy vạt da vùng bụng kích thước khoảng 30 cm x 25 cm cùng sụn sườn dưới của người bệnh để làm vật liệu tạo hình, bóc tách vạt da bụng - vùng mô còn đủ chất lượng và độ đàn hồi để tái tạo khuôn mặt.
Đồng thời, ê kíp tiến hành cắt bỏ mô sẹo co rút vùng đầu - mặt - cổ, giải phóng các cấu trúc biến dạng và chuẩn bị nền mô để tiếp nhận vạt ghép mới. Đây được xem là một trong những công đoạn khó khăn nhất vì cấu trúc giải phẫu bình thường gần như bị thay đổi hoàn toàn sau bỏng.
Sau khi xử lý tổn thương, ê kíp bước vào giai đoạn vi phẫu - kỹ thuật đòi hỏi độ chính xác rất cao, nối các động mạch và tĩnh mạch vùng mặt với hệ mạch của vạt da để đảm bảo máu lưu thông nuôi sống mô ghép sau phẫu thuật.
Phần sụn sườn được sử dụng để tái tạo sụn mi trên và sống mũi, đồng thời phục hồi các cấu trúc nâng đỡ vùng mặt. Sau đó, vạt da được tạo hình để che phủ gần như toàn bộ vùng khuyết da ở mặt, đồng thời tái tạo khoang miệng, 2 lỗ mũi và 2 hốc mắt cho người bệnh.
Toàn bộ quá trình đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa nhiều chuyên khoa cùng độ chính xác gần như tuyệt đối, bởi chỉ một sai lệch nhỏ trong thao tác nối mạch hoặc tạo hình cũng có thể ảnh hưởng đến khả năng sống của vạt ghép và kết quả phục hồi chức năng sau này.
Áp lực lớn nhất của ê kíp là đảm bảo hệ tuần hoàn của vạt ghép hoạt động ổn định sau nối mạch. Chỉ khi dòng máu lưu thông tốt và mô ghép được nuôi sống, ê kíp mới có thể yên tâm bước đầu về kết quả phẫu thuật.
Bên cạnh đó, vùng mắt cũng được tạo hình bước đầu giúp cải thiện chức năng khép mở mi. Nếu quá trình hồi phục tiếp tục thuận lợi, người bệnh sẽ được xem xét ghép giác mạc trong thời gian tới nhằm cải thiện thị lực.
Sau phẫu thuật, tình trạng người bệnh đã có những cải thiện tích cực. Vùng miệng mở rộng hơn, khả năng ăn uống được phục hồi đáng kể, người bệnh có thể tự ăn uống thay vì phải phụ thuộc hoàn toàn vào người thân như trước đây.
Bác sĩ Võ Thái Trung, Phó trưởng khoa Chấn thương chỉnh hình, Bệnh viện đa khoa Bình Dương cho biết ê kíp không chỉ xem đây là một ca bệnh, mà là một con người đang cần được trao cơ hội trở lại cuộc sống.
Theo bác sĩ Trung, với những tổn thương quá lớn thì không thể chỉ nhìn bằng con mắt của phẫu thuật viên, mà phải nhìn bằng sự thấu cảm, đối diện với nỗi đau, với những mất mát mà người bệnh đang chịu.
“Chúng tôi không chỉ cố gắng phục hồi một cơ thể, mà còn giữ lại niềm tin và hy vọng cho một con người đang ở ranh giới tuyệt vọng”, bác sĩ Trung nói.