Vấn đề vừa bán hàng tại cửa hàng truyền thống, vừa bán hàng trên kênh thương mại điện tử thì tính doanh thu và xuất hóa đơn điện tử như thế nào cho đúng là băn khoăn của không ít hộ kinh doanh.
Giải đáp vấn đề này tại hội thảo “Những quy định quan trọng khi triển khai chính sách thuế mới – Thuế và hóa đơn điện tử trong thương mại điện tử và bán hàng đa kênh” do Cục Thông tin và Truyền thông Chính phủ tổ chức chiều 20.7, ông Đặng Văn Thành, Phó chi cục trưởng Chi cục Thuế thương mại điện tử (Cục Thuế, Bộ Tài chính), cho biết, theo Nghị định 68 năm 2026, doanh thu của hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh là tổng doanh thu trên tất cả các kênh bán hàng, bao gồm bán trực tiếp tại cửa hàng và bán qua các nền tảng, trong đó có sàn thương mại điện tử.
Nếu thu tiền qua tài khoản thì phải tổng hợp từ các tài khoản ngân hàng, ví điện tử (nếu có). Đối với bán hàng trực tiếp, thu bằng tiền mặt thì phải tổng hợp khoản tiền mặt đó để đưa vào doanh thu.
Ông Thành khuyến cáo, hộ kinh doanh nên mở tài khoản riêng phục vụ hoạt động sản xuất, kinh doanh. Điều này giúp xác định doanh thu chính xác hơn, đồng thời khi tổng hợp doanh thu để giải trình với cơ quan chức năng sẽ thuận lợi hơn.
“Đối với các khoản thu bằng tiền mặt, hộ kinh doanh nên có sổ sách theo dõi. Khi tổng hợp doanh thu sẽ tránh được tình trạng bỏ sót”, ông Thành nói.
Liên quan đến xuất hóa đơn, theo ông Thành, hiện nay, hộ kinh doanh có doanh thu năm từ 1 tỉ đồng trở lên thuộc trường hợp bắt buộc phải xuất hóa đơn điện tử. Với hộ có doanh thu năm dưới 1 tỉ đồng, nếu có nhu cầu, có thể đăng ký với cơ quan thuế.
Về cách xuất hóa đơn, đối với phần bán hàng trực tiếp tại cửa hàng, xác định được người mua thì có thể xuất hóa đơn bình thường.
Đối với hàng bán trên sàn thương mại điện tử, nếu chưa có đầy đủ thông tin người mua, hộ kinh doanh có thể yêu cầu sàn, nền tảng cung cấp thông tin người mua, thông tin giao dịch để thực hiện xuất hóa đơn.
Ngoài ra, với hoạt động bán hàng trên sàn thương mại điện tử, các hộ kinh doanh cũng có thể ủy nhiệm cho sàn xuất hóa đơn thay.
Nhiều hộ kinh doanh băn khoăn, trường hợp doanh thu thực tế trong năm vượt ngưỡng doanh thu đang đăng ký, làm thay đổi phương pháp tính thuế thì hộ có phải chuyển đổi phương pháp tính thuế ngay trong năm hay được tiếp tục áp dụng đến hết năm?
Ông Vũ Hồng Long, Phó trưởng thuế TP.Hà Nội, thông tin, theo quy định hiện hành, phương pháp tính thuế thu nhập cá nhân của hộ, cá nhân kinh doanh được xác định trên cơ sở doanh thu thực tế, được thực hiện ổn định trong năm. Việc chuyển sang phương pháp tính thuế mới sẽ chỉ thực hiện từ năm tiếp theo khi có đủ điều kiện theo quy định.
Ví dụ, hộ kinh doanh đang đăng ký mức doanh thu năm dưới 3 tỉ đồng, nếu trong năm doanh thu của hộ vượt 3 tỉ đồng, thì năm sau (2027), hộ mới phải chuyển sang phương pháp tính thuế mới.
Cơ quan thuế khuyến nghị các hộ, cá nhân kinh doanh trong năm nếu dự kiến sẽ vượt ngưỡng doanh thu đã đăng ký, phải chuyển đổi phương pháp tính thuế thì nên chủ động chuẩn hóa lại sổ sách, hóa đơn chứng từ để ngay khi bước sang năm mới, việc áp dụng phương pháp tính thuế mới sẽ thuận lợi.
Về thực hiện nghĩa vụ thuế nói chung, bà Nguyễn Thị Lan Anh, Trưởng ban Pháp chế của Cục Thuế, lưu ý, hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh phải xác định đúng khoản thu nhập, ngành nghề kinh doanh; tổng hợp đầy đủ doanh thu từ tất cả các kênh.
Ngoài ra, phải tổng hợp đầy đủ hợp đồng, dữ liệu giao dịch, những chứng từ được khấu trừ thuế để có thể đối soát, sao kê, phục vụ xác định chính xác nghĩa vụ thuế.
“Kinh doanh truyền thống hay trên sàn thương mại điện tử đều không làm thay đổi bản chất hoạt động. Người nộp thuế nên rà soát để kê khai trung thực, đầy đủ”, bà Lan Anh nhấn mạnh.
UBND TP.Hà Nội vừa ban hành Kế hoạch về ứng dụng công nghệ trong trông giữ xe tại toàn bộ bến xe, bãi đỗ, điểm trông giữ xe. Mục tiêu của kế hoạch nhằm thúc đẩy thanh toán không dùng tiền mặt, thu phí điện tử không dừng, minh bạch doanh thu, giảm ùn tắc, ô nhiễm và hiện đại hóa giao thông tĩnh.
Theo đó, từ ngày 1/7/2026, 100% điểm trông giữ, bãi đỗ xe ô tô trên địa bàn thành phố phải triển khai công nghệ và thu giá dịch vụ theo hình thức điện tử không dừng. Bến xe loại 1 hoàn thành trước ngày 31/12/2026; bến xe loại 2 hoàn thành trước ngày 30/6/2027.
Trước ngày 31/12/2030, Hà Nội hoàn thành rà soát tổng thể các bãi đỗ, điểm trông giữ tạm thời, bảo đảm triển khai đồng bộ trên toàn thành phố.
Theo UBND TP.Hà Nội, giải pháp trọng tâm là Xây dựng Đề án tổng thể quản lý, phát triển giao thông tĩnh. Hỗ trợ nghiên cứu, đề xuất chính sách ưu đãi về vay vốn, hỗ trợ đầu tư thiết bị cho các đơn vị quản lý, vận hành chủ đầu tư tham gia chuyển đổi mô hình thu phí không dừng. Tổ chức triển khai thực hiện quy định về phí sử dụng tạm thời lòng đường, hè phố theo quy định; Rà soát, điều chỉnh giá dịch vụ trông giữ xe. Xây dựng quy định về việc ứng dụng giải pháp công nghệ trong hoạt động trông giữ xe tại các bến xe, bãi đỗ, điểm trông giữ xe.
Triển khai đồng bộ công tác tuyên truyền về Kế hoạch triển khai tổng thể ứng dụng giải pháp công nghệ trong hoạt động trông giữ xe tại toàn bộ bến xe, bãi đỗ. Chỉ đạo các đơn vị liên quan rà soát điểm thu phát sóng đảm bảo điều kiện kết nối, chia sẻ dữ liệu khi triển khai ứng dụng công nghệ.
Xây dựng kế hoạch kiểm tra, rà soát đối với toàn bộ các bãi đỗ xe, điểm đỗ xe đang hoạt động trên địa bàn quản lý (bao gồm bãi đỗ lòng đường, hè phố; bãi đỗ trong khuôn viên trường học, bệnh viện, chung cư, khu đô thị, bãi đất trống,…).
UBND Thành phố giao Sở Xây dựng là cơ quan đầu mối, chủ trì, phối hợp với Sở Tài chính, UBND các phường, xã và các đơn vị liên quan nghiên cứu, đề xuất chính sách ưu đãi về vay vốn, hỗ trợ đầu tư thiết bị cho các đơn vị quản lý, vận hành, chủ đầu tư tham gia chuyển đổi mô hình thu phí không dừng; chủ trì, phối hợp với Sở Tài chính, Thuế Thành phố Hà Nội, UBND các phường, xã và các cơ quan, đơn vị liên quan tổ chức triển khai thực hiện quy định về phí sử dụng tạm thời lòng đường, hè phố.
Công an Thành phố phối hợp với các Sở, ngành Thành phố, chính quyền địa phương cấp xã tăng cường kiểm tra, kiểm soát, xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động trông giữ xe trên địa bàn Thành phố đảm bảo quy định thu phí không dùng tiền mặt tại các bến xe, bãi đỗ, điểm trông giữ xe; Nghiên cứu các quy định, hình thức xử phạt qua kiểm tra trực tiếp, qua xử phạt bằng công nghệ.
Xây dựng phần mềm quản lý thông tin bãi đỗ, điểm đỗ xe tập trung. Cập nhật danh sách, tình trạng các điểm đỗ, bãi đỗ xe đã triển khai ứng dụng công nghệ trong thanh toán giá dịch vụ trông giữ xe trên ứng dụng iHaNoi, VNeID.
Thanh tra Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Khu vực 2 vừa ban hành kết luận thanh tra đối với Công ty TNHH MTV Vàng bạc Đá quý Ngân hàng Sài Gòn Thương Tín (Sacombank SBJ), qua đó ghi nhận doanh nghiệp cơ bản chấp hành các quy định trong hoạt động kinh doanh vàng nhưng vẫn còn một số tồn tại, hạn chế cần khắc phục.
Theo kết luận thanh tra, trong hoạt động kinh doanh vàng, Sacombank SBJ cơ bản đáp ứng các điều kiện hoạt động sản xuất, mua bán, gia công, xuất khẩu vàng trang sức mỹ nghệ; chấp hành quy định về điều kiện hoạt động và trách nhiệm của doanh nghiệp kinh doanh mua bán vàng miếng.
Doanh nghiệp cũng thực hiện chế độ báo cáo hoạt động kinh doanh vàng theo quy định; chấp hành quy định về kế toán, lập và sử dụng hóa đơn, chứng từ trong hoạt động kinh doanh vàng.
Trong lĩnh vực phòng, chống rửa tiền, cơ quan thanh tra đánh giá Sacombank SBJ cơ bản thực hiện đúng quy định pháp luật. Công ty đã ban hành, cập nhật và nghiên cứu sửa đổi, bổ sung quy trình nội bộ về phòng chống rửa tiền; tổ chức đào tạo; phân loại khách hàng theo mức độ rủi ro; đồng thời thực hiện rà soát, kiểm tra giao dịch khách hàng.
Tuy nhiên, kết luận thanh tra cũng chỉ ra doanh nghiệp còn xảy ra sai sót trong việc thu thập hồ sơ nhận biết khách hàng phục vụ công tác phòng, chống rửa tiền.
Ngoài ra, cơ quan thanh tra lưu ý một số tồn tại liên quan đến việc duy trì điều kiện sản xuất vàng trang sức mỹ nghệ và hoạt động mua vàng nguyên liệu từ khách hàng cá nhân.
Từ kết quả thanh tra, Thanh tra NHNN Khu vực 2 đã báo cáo, đề xuất NHNN Khu vực 2 có văn bản phối hợp với các cơ quan chức năng nhằm theo dõi, quản lý các vấn đề còn tồn tại, góp phần ổn định và bảo đảm an ninh thị trường vàng trên địa bàn.
Tại hội thảo "Nhà ở bao trùm - Kinh nghiệm và thực tiễn ở Việt Nam và quốc tế", diễn ra ngày 24/6, tại thành phố Đà Nẵng, bà Phạm Thị Thu Hà, Phó trưởng phòng Quản lý, phát triển nhà ở xã hội, Cục Quản lý nhà và thị trường bất động sản, Bộ Xây dựng, cho biết, với nhiều gia đình trẻ ở đô thị, mua một căn nhà không còn là kế hoạch trong vài năm, mà trở thành hành trình kéo dài hàng chục năm.
Thu nhập tăng chậm, trong khi giá căn hộ, đất ở và chi phí sinh hoạt liên tục leo thang khiến khoản tích lũy dành cho nhà ở ngày càng nhỏ lại.
Sau 40 năm đổi mới, điều kiện nhà ở của người dân đã có nhiều cải thiện. Diện tích nhà ở bình quân đầu người tăng từ dưới 10m² vào đầu những năm 1990 lên khoảng 30m² vào năm 2025.
Tuy nhiên, cải thiện về diện tích chưa đồng nghĩa với việc người dân dễ tiếp cận nhà ở. Chỉ số giá nhà trên thu nhập của Việt Nam hiện ở mức trung bình khoảng 20 lần. Tại Thành phố Hồ Chí Minh, con số này khoảng 25-30 lần; Hà Nội khoảng 20-25 lần, trong khi ngưỡng phổ biến trên thế giới chỉ khoảng 5-8 lần.
Điều đó có nghĩa, một hộ gia đình nếu dành toàn bộ thu nhập để tích lũy, không chi tiêu cho ăn uống, học hành, y tế hay sinh hoạt khác, cũng phải mất 20-30 năm mới có thể mua được nhà. Đây là nghịch lý lớn trong quá trình đô thị hóa: nhu cầu chỗ ở tăng nhanh, nhưng phân khúc nhà ở phù hợp với số đông lại thiếu hụt.
Một trong những nguyên nhân chính là sự lệch pha cung cầu. Thị trường hiện nghiêng nhiều về nhà ở trung cấp, cao cấp; trong khi nhà ở giá rẻ, nhà ở xã hội và nhà cho thuê vừa túi tiền còn hạn chế.
Giá nhà ở thương mại cao cấp phổ biến từ 80 đến trên 150 triệu đồng/m², phân khúc trung cấp khoảng 45-75 triệu đồng/m², nhà ở thương mại bình dân cũng ở mức 30-40 triệu đồng/m². Trong khi đó, nhà ở xã hội khoảng 16-22 triệu đồng/m².
Khoảng cách giá ngày càng lớn khiến nhiều người có nhu cầu thật vẫn khó chạm tới cơ hội sở hữu nhà. Tình trạng người dân xếp hàng, chen chúc nộp hồ sơ mua nhà ở xã hội tại các đô thị lớn cho thấy nhu cầu rất lớn, nhưng cơ hội tiếp cận còn hạn chế.
Theo Bộ Xây dựng, đến nay cả nước đã hoàn thành 866 dự án nhà ở xã hội, cung cấp khoảng 757.338 căn, đạt 76% mục tiêu 1 triệu căn hộ giai đoạn 2021-2030.
Riêng 6 tháng đầu năm 2026, cả nước hoàn thành 96 dự án, cung cấp 27.626 căn hộ. Kết quả này tích cực, nhưng vẫn chưa đủ để giảm áp lực nhà ở tại các đô thị, khu công nghiệp và vùng động lực tăng trưởng.
Tại Đà Nẵng, ông Lê Văn Tuấn, Phó Giám đốc Sở Xây dựng thành phố cho biết, giai đoạn 2021-2025, thành phố hoàn thành hơn 6.000 căn hộ nhà ở xã hội, đạt 104% chỉ tiêu Chính phủ giao.
Thành phố cũng xác định 46 khu đất với tổng diện tích khoảng 134 ha để phát triển nhà ở xã hội; rà soát 36 dự án với khoảng 31.000 căn hộ, trong đó 24 dự án đã được chấp thuận chủ trương đầu tư.
Dù vậy, áp lực nhà ở tại Đà Nẵng vẫn còn lớn. Quá trình đô thị hóa, dịch chuyển lao động, nhu cầu chỗ ở của công nhân, người trẻ và nhóm thu nhập trung bình, thấp tiếp tục tăng. Trong khi đó, chi phí xây dựng, giải phóng mặt bằng, hạ tầng và vật liệu tăng cao.
Một số khu vực ghi nhận chi phí tăng đến 30%, tác động trực tiếp đến giá thành nhà ở xã hội. Việc tiếp cận gói tín dụng ưu đãi cũng còn khó khăn đối với cả doanh nghiệp và người mua nhà.
Bà Đào Harrison, chuyên gia cao cấp nhà ở của Ngân hàng Thế giới, cho rằng Việt Nam cần nhìn rõ nhóm "nhà ở vừa túi tiền" như một phân khúc riêng, thay vì chỉ đặt trọng tâm vào sở hữu nhà. Phân khúc này có thể được hỗ trợ bằng nhiều công cụ như vay mua nhà, vay cải tạo nhà, tài chính vi mô, hỗ trợ chủ nhà nâng cấp phòng trọ và phát triển thị trường thuê tư nhân.
Theo bà, nhà ở không đồng nghĩa với sở hữu nhà. Một thị trường nhà ở lành mạnh cần có phân khúc cho thuê đủ tốt để hỗ trợ dịch chuyển lao động, giúp người trẻ, công nhân, người nhập cư có chỗ ở phù hợp trong từng giai đoạn của đời sống đô thị.
Một vướng mắc lớn hiện nay là tài chính nhà ở. Nhiều hộ có nhu cầu thật nhưng không đủ tiền trả trước, khó chứng minh thu nhập ổn định hoặc lo ngại lãi suất tăng sau thời gian ưu đãi.
Vì vậy, cần có cơ chế chia sẻ rủi ro giữa Nhà nước, ngân hàng và thị trường thông qua bảo lãnh tín dụng, bảo hiểm thế chấp hoặc các định chế tài chính nhà ở chuyên biệt.
Cách đánh giá người vay cũng cần linh hoạt hơn. Thay vì chỉ dựa vào bảng lương hoặc tài sản bảo đảm, các tổ chức tín dụng có thể xem xét lịch sử trả tiền thuê nhà, điện nước, tiết kiệm định kỳ hay dòng tiền thực tế.