Cũng là chuyện tình giữa anh bộ đội và cô du kích, giao liên, chỉ khác ở chỗ người hy sinh là nam trong cuộc kháng chiến, còn trong bài thơ Núi Đôi của nhà thơ Vũ Cao, nữ du kích là liệt sĩ: Bỗng cuối mùa chiêm quân giặc tới/Ngõ chùa cháy đỏ những thân cau/Mới ngỏ lời thôi đành lỡ hẹn/Ai ngờ từ đó mất tin nhau.
Bà Nguyễn Thị Lệ và anh giải phóng quân Huỳnh Văn Quên, cũng mất tin nhau nhiều năm trước khi gia đình liệt sĩ Huỳnh Văn Quên nhận được giấy báo tử. Chiến tranh không thể làm tắt đi ngọn lửa tình yêu.
Sự xa cách không làm nguôi ngoai tình cảm của hai trái tim vốn đã thuộc về nhau. Họ sinh ra là để yêu nhau. Vì thế dù một người mất đi mãi mãi cũng không thể khiến cho lời hẹn ước thay đổi.
Đám cưới dĩ nhiên rất ý nghĩa, song dù sao nó cũng có tính chất thủ tục. Lời thề sắt son của những đôi trai gái thời kháng chiến, không cần phải khắc ghi trên đá, bởi “trăm năm bia đá cũng mòn”. Cũng không cần câu chữ rườm rà, vì nó được đúc kết bằng tình yêu, lý trí, phẩm chất cao đẹp của người phụ nữ Việt Nam, trong chiến tranh và cả hòa bình.
Mẹ của bà Lệ cũng được phong tặng danh hiệu mẹ Việt Nam anh hùng, do đã hiến dâng cho Tổ quốc hai người con trai đều là liệt sĩ. Giờ đây đến lượt bà Lệ trở thành vợ liệt sĩ. Một trường hợp hiếm hoi hầu như chưa từng có tiền lệ. Một câu chuyện tình giữa thời chiến, đẹp và lãng mạn hơn cả trong cổ tích. Bi thương mà hùng tráng. Dẫu đoạn kết chưa trọn vẹn, nhưng cũng đủ khiến người nghe cảm phục rơi nước mắt.
Nói về chữ tình, gần 60 năm nay, gia đình liệt sĩ Huỳnh Văn Quên đã xem bà Lệ là con dâu trọn nghĩa vẹn tình. Nhẫn cưới và đôi hoa tai do đích thân mẹ liệt sĩ Quên đeo cho bà Lệ, chính là “tuyên ngôn” của lễ cưới dù vắng chú rể. Đó là lời khẳng định bà Lệ chính thức trở thành con dâu.
Hơn nửa thế kỷ qua, dù vật đổi sao dời, bà Nguyễn Thị Lệ vẫn giữ tròn tiết hạnh, làm tròn bổn phận của một nàng dâu. Không được sống chung cuộc đời vợ chồng một ngày nào với “người thương”, song tình cảm và đạo hiếu của con dâu trong gia đình vẫn luôn đong đầy.
Bà Nguyễn Thị Lệ còn mang “phiên bản” người thật, của hòn vọng phu thời hiện đại. Thậm chí còn vĩ đại hơn cả “bản gốc”. Chưa từng sống chung một nhà, chưa từng có con, nhưng đức hạnh và những lời thề non hẹn biển thì không bao giờ thay đổi.
Những năm gần đây, chúng ta đã có nhiều bộ phim khai thác đề tài chiến tranh và nội dung phim đi vào tâm khảm nhiều người. Khán giả dành “triệu like” và cơn mưa lời khen, cho các bộ phim như Mưa đỏ, Địa đạo – mặt trời trong bóng tối… Tôi nghĩ rằng “thừa thắng xông lên”, cần tiếp tục cho ra đời những bộ phim tái hiện hình ảnh đất nước, con người Việt Nam, trong hai cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc.
Cần có thêm nhiều hơn nữa những bộ phim về chủ đề người mẹ Việt Nam anh hùng, phim về những người vợ liệt sĩ ở hậu phương, với sự hy sinh thầm lặng cho đất nước, cho người thân. Bà Nguyễn Thị Lệ hoàn toàn xứng đáng để trở thành nguyên mẫu, cho các bộ phim ca ngợi hình tượng người vợ liệt sĩ trung hậu, đảm đang.
Tròn một năm nữa, nước ta sẽ kỷ niệm tròn 80 năm Ngày Thương binh – Liệt sĩ (27.7.1947 – 27.7.2027). Vẫn còn kịp để xây dựng kịch bản trong năm nay, bấm máy khởi quay một bộ phim về chuyện tình sắt son giữa bà Lệ và liệt sĩ Quên, để kịp ra mắt và công chiếu. Đây là việc thể hiện sâu sắc lòng tri ân, ngưỡng mộ trước mối tình thật đẹp và đầy chất lãng mạn cách mạng.
Tên của người chồng chưa cưới là Quên, nhưng bà Nguyễn Thị Lệ không bao giờ quên ông. Cả dân tộc Việt Nam cũng không bao giờ quên các anh hùng liệt sĩ và cả những người vợ, người mẹ liệt sĩ.
Ngày 14.4, Chủ tịch UBND tỉnh Đồng Nai đã có văn bản chỉ đạo các sở, ngành, địa phương tăng cường bảo đảm an toàn thực phẩm; rà soát toàn bộ hợp đồng cung cấp thực phẩm tại bếp ăn trường học, bếp ăn tập thể.
Theo đó, Chủ tịch UBND tỉnh Đồng Nai yêu cầu các cơ sở giáo dục có tổ chức bếp ăn nội trú, bán trú, căn tin hoặc sử dụng suất ăn sẵn, phải thực hiện nghiêm các quy định về an toàn thực phẩm trong trường học.
Nâng cao trách nhiệm của người đứng đầu cơ sở giáo dục, đơn vị tổ chức bếp ăn, cơ sở cung cấp suất ăn, cơ sở cung ứng thực phẩm; giáo dục kỹ năng phòng ngừa ngộ độc thực phẩm cho cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên, học sinh.
Phát huy vai trò giám sát của cha mẹ học sinh, các tổ chức đoàn thể trong nhà trường đối với việc tổ chức bữa ăn học đường, bảo đảm công khai, minh bạch, đúng quy định.
Các sở, ngành, UBND xã, phường thực hiện nghiêm các quy định tại Luật An toàn thực phẩm; khẩn trương thành lập đoàn kiểm tra liên ngành, kiểm tra đột xuất đối với bếp ăn tập thể, căn tin trường học, đơn vị cung cấp suất ăn, cơ sở cung ứng, sơ chế, chế biến, bảo quản, vận chuyển thực phẩm phục vụ trường học trên địa bàn.
Truy xuất nguồn gốc đến cùng đối với toàn bộ lô hàng, nguyên liệu, thực phẩm đầu vào có dấu hiệu vi phạm hoặc không bảo đảm an toàn; trường hợp có dấu hiệu tội phạm thì chuyển ngay hồ sơ cho cơ quan công an để điều tra, xử lý, không được chậm trễ, né tránh.
Sở Giáo dục và Đào tạo chỉ đạo các cơ sở giáo dục trên địa bàn rà soát toàn bộ quy trình tổ chức bữa ăn học đường tại bếp ăn tập thể, căn tin trường học, đơn vị cung cấp suất ăn; kiên quyết chấm dứt, thay thế các đơn vị không bảo đảm hồ sơ pháp lý, không chứng minh được nguồn gốc thực phẩm hoặc đã để xảy ra vi phạm về an toàn thực phẩm.
Tuyệt đối không để xảy ra tình trạng khoán trắng cho đơn vị cung cấp thực phẩm hoặc buông lỏng kiểm tra, giám sát; người đứng đầu cơ sở giáo dục phải chịu trách nhiệm nếu để xảy ra vi phạm.
UBND các xã, phường tăng cường kiểm tra, hậu kiểm thường xuyên và đột xuất đối với bếp ăn tập thể, căn tin trường học, cơ sở kinh doanh thực phẩm, hàng quán, điểm bán hàng rong khu vực xung quanh trường học thuộc phạm vi quản lý.
Xử lý nghiêm tình trạng kinh doanh thực phẩm "3 không" - không rõ nguồn gốc, xuất xứ, không bảo đảm điều kiện vệ sinh an toàn thực phẩm, nhất là tại khu vực cổng trường.
Công an tỉnh Đồng Nai tăng cường đấu tranh, kịp thời phát hiện, ngăn chặn xử lý nghiêm các đầu mối, đường dây cung ứng thực phẩm vi phạm, không để thực phẩm không an toàn len lỏi vào trường học.
Sở Y tế rà soát, lập danh sách các bếp ăn trường học, đơn vị cung cấp suất ăn sẵn, cơ sở cung ứng thực phẩm có nguy cơ cao để đưa vào diện kiểm tra trọng điểm; công bố đầu mối tiếp nhận thông tin phản ánh của người dân, phụ huynh học sinh; tổ chức xác minh, xử lý ngay sau khi tiếp nhận thông tin; tham mưu công khai các cơ sở vi phạm theo quy định để cảnh báo cộng đồng.
Chủ tịch UBND tỉnh Đồng Nai cũng nghiêm cấm việc báo cáo không trung thực, né tránh, đùn đẩy trách nhiệm. Nơi nào để xảy ra vi phạm, tái phạm, che giấu vi phạm, chậm phát hiện hoặc chậm xử lý thì người đứng đầu phải tổ chức kiểm điểm, bị xử lý trách nhiệm theo quy định.
Sau bài viết "Quê quán là cội nguồn trong ký ức hay trên giấy tờ?" trên Tuổi Trẻ Online, nhiều bạn đọc phản hồi những câu chuyện riêng của gia đình mình gặp phải với hai từ quê quán.
Một bạn đọc kể rằng anh sinh ra ở một tỉnh miền Trung, 8 tuổi ra miền Bắc sống, lớn lên làm việc ở miền Bắc. Con anh sinh ra ở miền Bắc nhưng gia đình sau đó vô miền Nam sinh sống. Trong khi giấy tờ thì quê quán vẫn ghi ở tỉnh miền Trung, nhưng anh và các con chưa về miền Trung lần nào, cháu anh sinh ra ở miền Nam cũng phải ghi quê quán ở tỉnh miền Trung.
Bạn đọc tên Khanh cho biết: "Ba mẹ tôi là người ở các vùng khác đến một vùng đất mới sinh sống, lập nghiệp. Tôi sinh ra và lớn lên ở vùng đất mới đó.
Với tôi đó mới là quê hương, nơi có biết bao kỷ niệm, hình thành nên tính cách của tôi. Còn những vùng đất mà theo luật gọi là quê, tôi thấy xa lạ vô cùng. Nếu phải về thì cũng chỉ là nghĩa vụ, đếm trên đầu ngón tay và mong cho xong việc để đi".
Bạn đọc Đăng Tương đồng cảm: "Chuyện quê quán này không phải của riêng mỗi gia đình nào. Mỗi nhà có một câu chuyện khác nhau về quê quán".
Bạn đọc tên Ngọc Hà liên hệ hiện tại: "Thế hệ gen Z bây giờ là những 'công dân toàn cầu', họ có thể sinh ra ở một nơi, học tập ở một nơi và làm việc ở một nơi khác. Khái niệm quê quán cần được mở rộng ra".
"Đừng để hai chữ 'quê quán' trở thành gánh nặng thủ tục. Hãy để nó là nơi trú ngụ của tâm hồn. Một người sinh ra ở TP.HCM, lớn lên với đường phố nhộn nhịp thì TP.HCM chính là máu thịt, là quê hương chân thật nhất của họ rồi", độc giả Phượng Yêu chia sẻ.
Bạn đọc Quỳnh Như đồng tình: "Với tôi, quê quán không chỉ là dòng chữ trên căn cước, mà là vị mắm, giọng nói của bà, của mẹ. Giấy tờ chỉ là trên pháp luật, còn thứ thật sự khiến nơi nào đó trở thành quê quán là tình cảm và ký ức".
Bạn đọc tên Hoàng kể: "Trước tôi có làm giấy khai sinh cho con, họ yêu cầu ghi quê quán phải nhất quán giữa các thành viên trong gia đình. Nhưng tôi hỏi tôi sinh ra ở Đắk Lắk thì quê quán phải ở Đắk Lắk, chứ sao phải khai theo quê của cha tôi?".
Đồng tình, bạn đọc Hoài Bảo đề xuất: "Nên chăng thay quê quán bằng nơi sinh (như cách làm của nhiều quốc gia phương Tây) để đảm bảo tính xác thực và đơn giản hóa thủ tục?".
"'Quê hương mỗi người chỉ một, như là chỉ một mẹ thôi'. Nhưng trong thời đại di cư mạnh mẽ như hiện nay, quê hương không còn đứng yên một chỗ. Vì thế quê quán cũng chỉ là nơi tưởng về, chứ chưa chắc một lần ghé thăm. Ghi nơi sinh là hợp lý nhất", bạn đọc Thái An lý giải..
Bạn đọc Minh Tâm nhìn ở góc độ khác: "Tôi nghĩ đã đến lúc chúng ta tối giản hóa giấy tờ. Chỉ cần nơi sinh và nơi thường trú là đủ để quản lý, còn nguồn cội hãy để nó nằm trong tim mỗi người". "Nên chuyển hẳn sang nơi sinh để thuận tiện cho việc quản lý hiện đại", bạn đọc Thuận Thành đề xuất.
Theo bạn đọc Vân, "trong kỷ nguyên số, mọi thông tin nên được tích hợp và tối giản".
Tuy nhiên bạn đọc Linh Nhi băn khoăn: "Nếu thay quê quán bằng nơi sinh, có lẽ chúng ta sẽ bớt đi những nhầm lẫn hành chính, nhưng liệu có đánh mất đi một sợi dây liên kết vô hình với tổ tiên?".
Còn bạn đọc Cát Linh cho rằng: "Đứng từ góc độ quản lý, việc chuyển đổi dần sang nơi sinh là xu thế tất yếu. Tuy nhiên vì quê quán đã ăn sâu vào tiềm thức nhiều người, các cơ quan quản lý cần có lộ trình thay đổi để không tạo ra cảm giác bị mất gốc về mặt thủ tục cho người dân".
Độc giả Mỹ Tâm gợi ý: "Theo tôi, trên giấy tờ pháp lý (căn cước, hộ chiếu) nên ưu tiên ghi nơi sinh để đảm bảo tính xác thực và thuận tiện cho giao dịch. Còn trong hồ sơ lý lịch/gia phả thì duy trì mục quê quán hoặc nguyên quán' như truyền thống, văn hóa để giữ gìn sợi dây nguồn cội".
Ánh nắng buổi sáng dịu ở Nghĩa trang Liệt sĩ Quốc gia Vị Xuyên, sương núi lảng bảng với khói hương.
Từng đoàn, từng đoàn cựu chiến binh xếp hàng tưởng nhớ đồng đội. Những cái bắt tay thật chặt. Những tiếng chào "đồng đội" của những cựu chiến binh từng sát cánh cùng nhau hơn 40 năm trước. Những câu chuyện về một thời sống bám đá, những lời thăm hỏi, những tiếng "mày, tao" khi nhận ra người cùng đơn vị lại vang lên như thuở đôi mươi.
Ngày này 42 năm trước (12-7-1984), trong trận đánh chiếm lại các điểm cao 772, 233, 1030 và 685 thuộc xã Thanh Thủy, huyện Vị Xuyên (tỉnh Hà Tuyên cũ), nay là tỉnh Tuyên Quang, hơn 600 cán bộ, chiến sĩ phần lớn thuộc Sư đoàn 356 đã anh dũng hy sinh khi tuổi đời còn rất trẻ.
Sau khi kết thúc chiến tranh năm 1989, các cựu chiến binh từng chiến đấu ở mặt trận Vị Xuyên lấy ngày 12-7 hàng năm là ngày "Giỗ trận" gặp mặt, tưởng nhớ đồng đội đã hy sinh.
Ngày 12-7 không hẹn nhưng những cựu chiến binh từng chiến đấu ở mặt trận này tự tìm về thắp hương, tri ân cho đồng đội.
Cựu chiến binh Trương Văn Đau chống nạng bước qua từng bậc đá để thắp hương cho đồng đội từ sớm. Ông Đau chỉ còn một chân. Một chân ông đã gửi lại đá núi Vị Xuyên.
Đồng đội gặp nhau nói nói, cười cười, ông Đau dường như được đồng đội quan tâm hơn cả. Nhiều người đến bắt tay, hỏi tên, hỏi đơn vị, chụp ảnh cùng. Nhiều người ông chưa từng gặp, chỉ biết từng chiến đấu ở Vị Xuyên. Thỉnh thoảng, ông cùng đồng đội mới quen vừa bắt tay, vừa hát một vài câu hát của lính.
Cựu chiến binh Nguyễn Văn Thuần ở xã Tây Cốc, tỉnh Phú Thọ cùng đồng đội trở lại Vị Xuyên đúng ngày 12-7. Ông Thuần từng có 4 năm chiến đấu, nhiều trận giáp lá cà trên cao điểm 685. Trở lại viếng đồng đội và thăm chiến trường xưa, ông chỉ mong mỏi sớm tìm được những đồng đội hy sinh trong căn hầm sập trên cao điểm năm nào.
Trận đánh ấy, đồng đội ông bị pháo bắn sập hầm. Đơn vị nhiều lần tổ chức đánh, giải cứu nhưng pháo bắn ác liệt quá, không cứu được.
"Tôi đã được thông báo là anh em đội quy tập đã xác định được vị trí rồi. Tôi mong sớm tìm lại được những đồng chí ấy", ông Thuần giọng trầm buồn.
Gia đình Bà Chu Thị Trinh, xã Văn Bàn, tỉnh Lào Cai năm nào cũng thuê xe đưa anh em, con cháu đến viếng liệt sĩ ở Nghĩa trang Liệt sĩ Quốc gia Vị Xuyên.
Liệt sĩ Lục Văn Bình - em chồng của bà Trinh - hy sinh tháng tư năm 1984. Gia đình bà chọn ngày giỗ trận 12-7 để giỗ anh cùng với đồng đội. Cứ ngày giỗ, bà Trinh biện lễ, hoa quả, thuốc nước đến viếng em, viếng cả đồng đội, những anh linh vẫn sát cánh với nhau như đội hình chiến đấu năm nào.
"Ngày Giỗ năm nay gia đình cũng vui vì có nhiều đồng đội, bà con đến thắp hương cho em mình" - bà Trinh nói, lấy tay áo giấu hàng nước mắt.
Hòa trong dòng người yên lặng thắp những nén nhang thơm trong nghĩa trang, bà Thái - ở xã Đội Cấn (tỉnh Tuyên Quang) - cứ rưng rức khóc.
Bà không có người thân hy sinh ở mặt trận Vị Xuyên, nhưng đây là lần thứ 3 bà Thái trở lại nghĩa trang Vị Xuyên đúng ngày 12-7. Lần đầu tiên cách đây mấy năm, bà đi cùng bạn. Bà xúc động trước những hàng mộ thẳng tắp, trào nước mắt trước những tấm bia ghi dòng chữ "chưa xác định được thông tin".
"Đau xót lắm! Họ cũng cùng trang lứa với tôi, ngã xuống khi mới mười tám, đôi mươi. Tôi biết ơn họ. Họ đã không tiếc máu xương của mình cho đất nước này..." - bà Thái sụt sùi.