Năm 2026, việc áp dụng hóa đơn điện tử trở nên phổ biến hơn nhằm minh bạch hóa hoạt động kinh doanh. Tuy nhiên, không phải tất cả các giao dịch đều bắt buộc phải lập hóa đơn điện tử. Trường hợp không phải sử dụng hóa đơn điện tử được quy định rõ ràng, đặc biệt dành cho hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh có quy mô nhỏ hoặc thuộc các hoạt động đặc thù.
Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Văn Thắng vừa ký ban hành Nghị định 254/2026/NĐ-CP Quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Quản lý thuế số 108/2025/QH15 về hóa đơn điện tử, chứng từ điện tử. Theo đó, Điều 7 của Nghị định quy định các trường hợp không phải sử dụng hóa đơn điện tử:
Thứ nhất là hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh bán hàng hóa, dịch vụ thuộc trường hợp lập bảng kê thu mua hàng hóa, dịch vụ theo quy định pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp trừ trường hợp đăng ký sử dụng hóa đơn điện tử.
Thứ hai là Hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh có thu nhập từ hoạt động cho thuê bất động sản; thu nhập từ hoạt động cung cấp sản phẩm và dịch vụ nội dung thông tin số về giải trí, trò chơi điện tử, phim số, ảnh số, nhạc số, quảng cáo số cho tổ chức, cá nhân ở nước ngoài.
Thứ ba là hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh làm đại lý xổ số, đại lý bảo hiểm, đại lý bán hàng đa cấp mà doanh nghiệp xổ số, bảo hiểm, bán hàng đa cấp đã khấu trừ thuế theo quy định pháp luật quản lý thuế.
Trường hợp thứ tư không phải sử dụng hoá đơn điện tử là các khoản phí và các khoản thu khác phát sinh từ hoạt động tái bảo hiểm (bao gồm nhượng tái bảo hiểm, các khoản thu hoa hồng nhượng tái bảo hiểm và các khoản thu khác về nhượng tái bảo hiểm), nhận tiền gửi, hoạt động tài chính (phát hành chứng chỉ tiền gửi, phát hành chứng khoán sơ cấp, phát hành giấy tờ có giá), bán nợ, giao dịch ngoại tệ và sản phẩm phái sinh.
Đối với giao dịch bán ngoại tệ, căn cứ hệ thống quản lý dữ liệu của đơn vị, cuối tháng đơn vị thực hiện lập bảng tổng hợp chi tiết giao dịch phát sinh trong tháng, chịu trách nhiệm về tính chính xác nội dung thông tin từng giao dịch và cung cấp bảng tổng hợp chi tiết giao dịch bán ngoại tệ khi cơ quan thuế hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền yêu cầu.
Thứ năm là góp vốn bằng tài sản của tổ chức, cá nhân kinh doanh vào tổ chức kinh tế.
Thứ sáu là tài sản điều chuyển từ công ty mẹ đến các đơn vị thành viên hạch toán phụ thuộc và ngược lại, giữa các đơn vị thành viên hạch toán phụ thuộc trong cơ sở kinh doanh; tài sản điều chuyển khi chia, tách, hợp nhất, sáp nhập, chuyển đổi loại hình doanh nghiệp.
Thứ bảy là máy móc, thiết bị cho mượn là tài sản cố định và công cụ, dụng cụ phục vụ gia công hàng hóa của bên cho mượn, không thu tiền, không chuyển quyền sở hữu.
Thứ tám gồm 3 trường hợp: hàng hóa, dịch vụ sử dụng để tiếp tục quá trình sản xuất, kinh doanh của cơ sở kinh doanh như hàng hóa được xuất để chuyển kho nội bộ, xuất vật tư, bán thành phẩm để tiếp tục quá trình sản xuất, kinh doanh trong một cơ sở kinh doanh.
Hàng hóa, dịch vụ do cơ sở kinh doanh xuất hoặc cung cấp để sử dụng phục vụ hoạt động sản xuất, kinh doanh (bao gồm cả tài sản cố định do cơ sở kinh doanh tự xây dựng, tự sản xuất).
Các khoản thu không liên quan đến bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ của cơ sở kinh doanh: các khoản thu về bồi thường bằng tiền (bao gồm cả tiền bồi thường về đất và tài sản trên đất khi bị thu hồi đất theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền), tiền thưởng, thu đòi người thứ ba của hoạt động bảo hiểm, các khoản thu hộ, các khoản thu thù lao từ cơ quan nhà nước do thực hiện hoạt động thu hộ, chi hộ các cơ quan nhà nước, các khoản thu tài chính.
Hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh không thuộc trường hợp sử dụng hóa đơn điện tử mà có nhu cầu sử dụng hóa đơn điện tử thì đăng ký sử dụng hóa đơn điện tử có mã của cơ quan thuế hoặc hóa đơn điện tử khởi tạo từ máy tính tiền có kết nối dữ liệu với cơ quan thuế.
Việc quy định rõ 08 trường hợp không phải sử dụng hóa đơn điện tử được đánh giá là một bước tiến quan trọng trong quá trình hoàn thiện cơ chế quản lý thuế theo hướng hiện đại và phù hợp với thực tiễn hoạt động kinh doanh.
Bên cạnh đó, quy định mới còn giúp giảm thiểu các rủi ro vi phạm hành chính về hóa đơn và chứng từ. Khi dự thảo quy định cụ thể từng trường hợp không phải sử dụng hóa đơn điện tử, người nộp thuế sẽ dễ dàng xác định nghĩa vụ của mình hơn, từ đó hạn chế các tranh chấp và vi phạm phát sinh trong quá trình thực hiện.
Tại Tòa đàm "Tiết kiệm điện mùa cao điểm: Trách nhiệm và giải pháp", ông Hà Đăng Sơn – Chủ tịch Trung tâm Nghiên cứu năng lượng và Tăng trưởng xanh cho rằng tiết kiệm điện hiện đã trở thành tư duy phổ biến trong khối doanh nghiệp, nhưng vẫn tồn tại khoảng trống lớn ở nhóm hộ tiêu dùng dân cư.
Theo ông Sơn, với doanh nghiệp, tiết kiệm điện "đánh trực tiếp vào túi tiền", gắn với chi phí và rủi ro sản xuất, nên nhận thức đã tương đối rõ ràng.
Tuy nhiên, ở khu vực dân cư - chiếm khoảng 30% nhu cầu điện vẫn tồn tại nhiều quan niệm chưa phù hợp. Ông nêu thực tế về tư duy "tôi có tiền thì tôi được dùng nhiều" dẫn đến việc chưa nhận thức đầy đủ tác động của tiêu dùng điện tới hệ thống.
Theo phân tích, khi sử dụng điện vượt ngưỡng công suất hợp lý, hệ thống phải huy động các nguồn điện đắt đỏ hơn, kéo theo chi phí đầu tư và vận hành tăng cao. Tuy vậy, giá điện bán lẻ hiện vẫn được kiểm soát và còn mang tính bù chéo, chưa phản ánh đầy đủ chi phí công suất.
Một vấn đề khác là quan niệm "dùng nhiều thì phải rẻ". Ông Sơn cho rằng cách hiểu này khiến nhiều người tiêu dùng khó chấp nhận đặc thù ngành điện – nơi chi phí không giảm tuyến tính theo sản lượng như hàng hóa thông thường.
Ông nhấn mạnh, Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA) nhiều lần khẳng định "tiết kiệm điện là nguồn năng lượng đầu tiên (first fuel)", song nhận thức này vẫn chưa lan tỏa mạnh trong cộng đồng do người dân chưa nhìn thấy rõ cấu trúc chi phí điện.
Ngoài ra, ông Sơn chỉ ra một số hạn chế khác như cơ chế điều chỉnh phụ tải chưa có khung tài chính rõ ràng; thói quen đầu tư thiết bị giá rẻ nhưng hiệu suất thấp; và đặc biệt là thiếu văn hóa đo lường tiêu thụ điện. "Bạn không thể quản lý cái mà bạn không đo đạc được", ông dẫn lại nguyên lý quản trị phổ biến, nhấn mạnh vai trò của dữ liệu trong kiểm soát tiêu dùng năng lượng.
Ở góc độ quản lý nhà nước, ông Đặng Hải Dũng – Phó Cục trưởng Cục Đổi mới sáng tạo, Chuyển đổi xanh và Khuyến công (Bộ Công Thương) cho biết hệ thống điện Việt Nam đang chịu áp lực rất lớn từ tăng trưởng kinh tế.
Theo ông Dũng, thời gian gần đây công suất cực đại của hệ thống đã vượt 58.000 MW, trong khi sản lượng điện có những ngày vượt mốc 1 tỷ kWh. Đây là mức tiêu thụ rất cao, phản ánh rõ đà tăng trưởng mạnh của nền kinh tế.
Ông nhấn mạnh mối quan hệ trực tiếp giữa tăng trưởng GDP và nhu cầu năng lượng: "Khi kinh tế tăng trưởng, nhu cầu điện cho sản xuất, kinh doanh và đời sống cũng tăng tương ứng".
Với mục tiêu tăng trưởng kinh tế ở mức cao trong giai đoạn tới, nhu cầu điện được dự báo tiếp tục tăng mạnh. Tuy nhiên, ngành năng lượng đang đối mặt nhiều thách thức, đặc biệt là biến động địa chính trị toàn cầu khiến chuỗi cung ứng năng lượng bị gián đoạn, kéo theo giá điện, than, dầu, khí biến động mạnh.
Bên cạnh đó, các cơ chế thương mại xanh như CBAM hay European Green Deal đang đặt ra yêu cầu giảm phát thải trong sản xuất điện, buộc Việt Nam phải tăng tỷ trọng năng lượng tái tạo. Tuy nhiên, điều này cũng làm gia tăng độ phức tạp trong vận hành hệ thống do phụ thuộc thời tiết.
Từ góc nhìn vận hành hệ thống, ông Ngô Sơn Hải – Phó Tổng Giám đốc Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) nhấn mạnh tiết kiệm điện không chỉ giúp giảm chi phí cho người dân mà còn mang ý nghĩa chiến lược đối với an ninh năng lượng quốc gia.
Ông cho biết, với tốc độ tăng trưởng hiện nay, mỗi năm hệ thống cần bổ sung khoảng 4.000–5.000 MW công suất mới. Trong khi đó, để xây dựng các nguồn điện lớn như điện gió ngoài khơi hay điện khí LNG, thời gian chuẩn bị và vận hành có thể kéo dài 3–4 năm.
"Chỉ cần tiết kiệm khoảng 2% công suất tiêu thụ đã tương đương giảm nhu cầu đầu tư khoảng 1.000 MW," ông Hải phân tích, cho rằng đây là giải pháp nhanh, hiệu quả và ít tốn kém hơn nhiều so với đầu tư nguồn điện mới.
Theo ông, hệ thống điện phải huy động theo thứ tự từ nguồn giá rẻ đến nguồn giá cao. Khi nhu cầu tăng, các nguồn đắt đỏ buộc phải vận hành nhiều hơn, làm tăng chi phí chung. Vì vậy, tiết kiệm điện giúp giảm áp lực huy động nguồn giá cao, qua đó tối ưu chi phí toàn hệ thống.
EVN hiện đã triển khai nhiều công cụ hỗ trợ người dân và doanh nghiệp theo dõi và tối ưu hóa tiêu thụ điện thông qua hệ thống dữ liệu trực tuyến và các cổng thông tin chăm sóc khách hàng.
Ông Hải khuyến nghị trong mùa nắng nóng, đặc biệt với thiết bị điều hòa vốn chiếm tỉ trọng tiêu thụ lớn, người dân nên cài đặt nhiệt độ khoảng 26°C để cân bằng giữa hiệu quả làm mát và tiết kiệm điện. Đồng thời, cần hạn chế thất thoát hơi lạnh bằng cách đóng kín không gian sử dụng và bảo dưỡng thiết bị định kỳ để duy trì hiệu suất.
Với các không gian không cần điều hòa, nên ưu tiên thông gió tự nhiên hoặc các giải pháp chống nóng thụ động. Người dân và doanh nghiệp cũng được khuyến nghị hạn chế sử dụng đồng thời nhiều thiết bị công suất lớn trong khung giờ cao điểm, thường từ 18h đến 22h–23h vào mùa hè.
Ông nhấn mạnh: không phải hạn chế sử dụng điện, mà là phân bổ hợp lý để giảm áp lực cho hệ thống.
Việc triển khai VietQRGlobal không chỉ đánh dấu bước tiến mới trong lộ trình phát triển hạ tầng thanh toán số của TPBank, mà còn góp phần hiện thực hóa mục tiêu kết nối thanh toán xuyên biên giới của Việt Nam, tạo điều kiện để khách quốc tế thanh toán thuận tiện hơn khi đến Việt Nam.
Thực tế, TPBank đã triển khai thanh toán QR xuyên biên giới từ năm 2021 khi là ngân hàng tiên phong tại Việt Nam triển khai kết nối thanh toán QR với Thái Lan. Việc tiếp tục Go-live VietQRGlobal cùng NAPAS là bước nối dài chiến lược mở rộng mạng lưới thanh toán quốc tế mà TPBank đã kiên trì theo đuổi trong nhiều năm qua.
Thông qua VietQRGlobal, khách du lịch đến từ Trung Quốc, Hàn Quốc, Singapore, Thái Lan, Campuchia, Lào... có thể sử dụng chính ứng dụng ngân hàng hoặc ví điện tử quen thuộc tại quốc gia của mình như NETSPay, DBS PayLah!, OCBC Digital, Shinhan SOL Pay, Alipay, UnionPay, GLN… cùng nhiều đối tác trong hệ sinh thái VietQRGlobal để thanh toán tại các điểm bán sử dụng mã QR TPBank.
Thay vì phải đổi tiền mặt hoặc tìm kiếm phương thức thanh toán phù hợp, du khách chỉ cần mở ứng dụng quen thuộc, quét mã QR TPBank và hoàn tất giao dịch chỉ trong vài giây.
Hãy hình dung một du khách Hàn Quốc ghé vào quán cà phê ở phố cổ Hà Nội, một gia đình Singapore mua đặc sản tại Hội An hay một nhóm khách Trung Quốc lưu trú tại Phú Quốc, họ có thể thanh toán ngay bằng ứng dụng ngân hàng hoặc ví điện tử vẫn sử dụng hằng ngày tại quê nhà mà không cần cài đặt thêm ứng dụng hay làm quen với một phương thức thanh toán mới. Sự liền mạch trong trải nghiệm không chỉ mang lại thuận tiện cho du khách mà còn góp phần tạo nên hình ảnh hiện đại, thân thiện của hệ sinh thái thanh toán số Việt Nam.
Đối với các cửa hàng và doanh nghiệp, VietQRGlobal gần như không làm thay đổi quy trình vận hành hiện có. Chỉ với một mã QR TPBank đang sử dụng, các điểm bán đã có thể tiếp nhận thanh toán từ nhiều mạng lưới thanh toán quốc tế mà không cần đầu tư thêm thiết bị hay triển khai giải pháp kỹ thuật mới. Từ các cửa hàng bán lẻ, nhà hàng, khách sạn đến các điểm mua sắm và dịch vụ du lịch, việc mở rộng khả năng thanh toán cho khách quốc tế trở nên đơn giản hơn bao giờ hết.
Với mức phí chiết khấu thanh toán (MDR) chỉ 0,33%, VietQRGlobal là một trong những giải pháp thanh toán xuyên biên giới có mức chi phí cạnh tranh trên thị trường.
Việc kết nối đồng thời với nhiều mạng lưới thanh toán quốc gia và tổ chức thanh toán quốc tế cũng đưa TPBank trở thành một trong những ngân hàng sở hữu mạng lưới thanh toán QR xuyên biên giới rộng nhất tại Việt Nam, tạo nền tảng để mở rộng phạm vi phục vụ khách quốc tế trong thời gian tới.
Không chỉ giúp các cửa hàng và doanh nghiệp tại Việt Nam mở rộng khả năng phục vụ khách quốc tế, VietQRGlobal còn là bước tiến tiếp theo trong hành trình mở rộng hệ sinh thái thanh toán số của TPBank, để App TPBank đồng hành cùng khách hàng trên những chuyến đi xuyên biên giới.
Hiện nay, khách hàng TPBank đã có thể sử dụng App TPBank để quét mã QR và thanh toán trực tiếp tại các điểm chấp nhận thanh toán ở Thái Lan, Campuchia, Lào và Singapore. Giao dịch được thực hiện trực tiếp từ tài khoản thanh toán TPBank, hệ thống tự động quy đổi sang đồng tiền của quốc gia sở tại, mang đến trải nghiệm thanh toán liền mạch như khi sử dụng VietQR tại Việt Nam.
Điều đó đồng nghĩa với việc khách hàng không còn phải chuẩn bị nhiều tiền mặt, đổi ngoại tệ trước chuyến đi hay mang theo nhiều loại thẻ. Từ việc gọi taxi sau khi vừa hạ cánh, thanh toán bữa ăn, mua sắm tại các trung tâm thương mại hay sử dụng các dịch vụ hằng ngày, mọi giao dịch đều có thể được thực hiện bằng thao tác quét QR quen thuộc trên App TPBank.
Trong thời gian tới, TPBank sẽ tiếp tục mở rộng phạm vi kết nối với các mạng lưới thanh toán quốc tế, đưa tính năng thanh toán QR xuyên biên giới đến Trung Quốc và Hàn Quốc, qua đó từng bước hoàn thiện hệ sinh thái thanh toán số, để App TPBank có thể đồng hành cùng khách hàng trên ngày càng nhiều hành trình quốc tế.
Chia sẻ về việc triển khai VietQRGlobal, ông Nguyễn Hưng, Tổng Giám đốc TPBank, cho biết: "Việc trở thành một trong những ngân hàng đầu tiên Go-live VietQRGlobal cùng NAPAS không chỉ là dấu mốc về công nghệ, mà còn thể hiện định hướng của TPBank trong việc xây dựng một hệ sinh thái thanh toán mở và kết nối. Chúng tôi mong muốn góp phần đưa trải nghiệm thanh toán tại Việt Nam trở nên thuận tiện hơn với khách quốc tế, đồng thời tạo thêm cơ hội để các doanh nghiệp Việt tiếp cận dòng khách hàng toàn cầu ngay trên hạ tầng thanh toán hiện có".
Việc kết nối với VietQRGlobal tiếp tục nối dài chiến lược phát triển ngân hàng số của TPBank theo hướng hội nhập quốc tế, đồng thời góp phần thúc đẩy hạ tầng thanh toán số Việt Nam tiệm cận các chuẩn mực khu vực.
Không chỉ mở rộng khả năng chấp nhận thanh toán quốc tế cho các cửa hàng và doanh nghiệp, TPBank còn từng bước khẳng định vai trò tiên phong trong việc xây dựng một hệ sinh thái thanh toán số kết nối, nơi các giao dịch được thực hiện nhanh chóng, an toàn và liền mạch giữa nhiều thị trường.
Chiều 30.6, UBND tỉnh Quảng Ninh tổ chức hội nghị công bố hàng loạt quy hoạch quan trọng, gồm: Điều chỉnh Quy hoạch tỉnh thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050; Quy hoạch chung đô thị Quảng Ninh đến năm 2050, tầm nhìn đến năm 2075; Quy hoạch chung Khu kinh tế ven biển Quảng Yên; Quy hoạch Cảng hàng không quốc tế Vân Đồn và quyết định công nhận Quảng Ninh đạt tiêu chí đô thị loại I.
Tại hội nghị, tỉnh Quảng Ninh đã trao quyết định chấp thuận chủ trương đầu tư, quyết định thành lập cụm công nghiệp và giấy chứng nhận đăng ký đầu tư cho 18 dự án với tổng vốn gần 45.000 tỉ đồng.
Trong đó, nổi bật là dự án Sản phẩm giải trí thông minh của Công ty TNHH Năng lượng & Linh kiện EV Foxconn Việt Nam tăng vốn hơn 9.200 tỉ đồng; Khu công nghiệp VSIP Quảng Ninh hơn 5.800 tỉ đồng; Khu công nghiệp Green Bay Tech 5.700 tỉ đồng; Khu công nghiệp Bạch Đằng II gần 4.800 tỉ đồng; Khu công nghiệp ven biển Quảng Yên 3.740 tỉ đồng và Khu công nghiệp An Hưng Quảng Ninh hơn 3.000 tỉ đồng.
Không chỉ tập trung vào công nghiệp, danh mục dự án còn trải rộng trên các lĩnh vực điện gió, logistics, đô thị, dịch vụ, du lịch sinh thái, nông nghiệp hữu cơ, chế biến lâm sản và nuôi trồng thủy sản tại đặc khu Cô Tô, cho thấy định hướng phát triển cân bằng giữa công nghiệp, dịch vụ và kinh tế xanh của Quảng Ninh.
Theo định hướng quy hoạch mới, Quảng Ninh sẽ phát triển theo mô hình đô thị đa cực, đa trung tâm, tăng cường liên kết với Hải Phòng, Hà Nội, Bắc Ninh và khu vực biên giới phía bắc. Không gian phát triển tiếp tục gắn với hệ thống khu kinh tế, khu công nghiệp, cảng biển, sân bay, cửa khẩu, cùng các trung tâm du lịch quanh vịnh Hạ Long.
Tại sự kiện, ông Trần Hồng Minh, Bộ trưởng Bộ Xây dựng, thừa ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ, đã trao Quyết định phê duyệt Quy hoạch chung đô thị Quảng Ninh đến năm 2050, tầm nhìn đến năm 2075 và Quyết định công nhận Quảng Ninh đạt tiêu chí đô thị loại I.