Báo cáo tại phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 6/2026 và Hội nghị trực tuyến Chính phủ với các địa phương sáng 4/7, Bộ trưởng Bộ Xây dựng Trần Hồng Minh cho biết, trong 6 tháng đầu năm, Bộ Xây dựng đã tích cực ban hành các kế hoạch, chương trình hành động và nhiều văn bản chỉ đạo để tổ chức triển khai nhiệm vụ, giải pháp đóng góp vào mục tiêu tăng trưởng hai con số trong năm 2026.
Trong đó, ưu tiên xử lý các điểm nghẽn có tác động trực tiếp đến tăng trưởng, tiến độ dự án, năng lực vận tải, nguồn cung nhà ở và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh.
Theo Bộ trưởng, một điểm nghẽn trong thời gian qua là vấn đề quy hoạch. Thực hiện theo Kết luận số 18 của Trung ương, cho đến thời điểm này, tất cả các địa phương đã hoàn thành việc điều chỉnh quy hoạch tổng thể đối với thành phố và quy hoạch chung về đô thị nông thôn.
Bộ Xây dựng đã hoàn thành tất cả các quy hoạch chuyên ngành về giao thông để bảo đảm yêu cầu tiến độ đề ra.
Bộ trưởng cho biết, hiện nay 100% các đô thị trên phạm vi cả nước đã có quy hoạch chung được phê duyệt. Và tỉ lệ quy hoạch chung của xã đã hoàn thành 94,4%; tỉ lệ đô thị hóa hiện nay đạt 45,4%.
Một điểm nghẽn nữa được đề cập là công tác về xây dựng quy chuẩn, tiêu chuẩn cho các ngành để áp dụng triển khai thực hiện.
Tính đến ngày 30/6/2026, Bộ đã xây dựng và hoàn chỉnh 3.904 tiêu chuẩn Việt Nam, 1.450 tiêu chuẩn nước ngoài và 190 quy chuẩn áp dụng cho 4 lĩnh vực, ngành là ngành xây dựng dân dụng công nghiệp, ngành cầu đường bộ, ngành hàng không và ngành hàng hải.
Cũng theo Bộ trưởng Trần Hồng Minh, để triển khai Luật Xây dựng, Bộ đã tham mưu Chính phủ ban hành 6 Nghị định. Bộ cũng ban hành 9 thông tư, 2 quyết định để hướng dẫn thi hành Luật Xây dựng bảo đảm có hiệu lực từ ngày 1/7/2026.
Theo Bộ trưởng Bộ Công Thương Lê Mạnh Hùng, mặc dù phải đối mặt với nhiều khó khăn, biến động, ngành Công Thương vẫn bảo đảm ổn định nguồn cung xăng dầu và cung cấp đủ điện cho nền kinh tế.
Tuy nhiên, Bộ trưởng Bộ Công Thương nhìn nhận còn có 4 vấn đề khó khăn, thách thức. Từ đó, Bộ Công Thương sẽ tập trung vào 4 giải pháp lớn: Hoàn thiện hệ thống thể chế, đặc biệt là Luật Điện lực, Luật Dầu khí và tập trung vào rà soát Quy hoạch Điện VIII điều chỉnh.
Cùng với đó, phối hợp với các bộ, ngành, địa phương tháo gỡ khó khăn cho các dự án công nghiệp và năng lượng để đưa vào vận hành ngay trong năm.
Thúc đẩy phát triển công nghiệp chế biến chế tạo, đặc biệt là quản trị biến động và điều hành linh hoạt để bảo đảm xăng dầu cũng như điện cho nền kinh tế.
Tập trung vào kích cầu và khai thác thị trường trong nước, triển khai các giải pháp về xúc tiến thương mại và hệ thống phân phối hiện đại trong nước, kết nối cung cầu và triển khai cuộc vận động Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam.
Thúc đẩy xuất khẩu và kiểm soát nhập siêu, tập trung chỉ đạo đa dạng hóa thị trường, khai thác các FTA đã ký và tập trung vào xúc tiến thương mại đặc biệt là chương trình Go Global để khai thác các thị trường mới, các dư địa.
Về nhiệm vụ 6 tháng cuối năm, Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Lâm Thị Phương Thanh cho biết, Bộ sẽ tiếp tục phối hợp với các địa phương, các bộ, ngành triển khai thực hiện tốt Chương trình mục tiêu quốc gia về phát triển văn hóa giai đoạn 2025-2030 và tập trung tuyên truyền tổ chức triển khai có hiệu quả kế hoạch của Thủ tướng triển khai đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình và con người Việt Nam.
Bên cạnh đó, ngành sẽ tập trung đầu tư vào hai lĩnh vực: Thúc đẩy phát triển kinh tế du lịch và phát triển công nghiệp văn hóa.
Về du lịch, Bộ tập trung các cái giải pháp thúc đẩy phát triển du lịch thực sự trở thành ngành kinh tế mũi nhọn.
Theo đó, phát huy mối quan hệ tương hỗ giữa du lịch với các ngành có liên quan, chuyển từ tư duy phát triển theo chiều rộng và số lượng sang chiều sâu, chất lượng và giá trị gia tăng cao gắn với các sản phẩm giàu sức sáng tạo và trải nghiệm đặc sắc và hướng tới phân khúc là khách chi tiêu cao và có lưu trú dài ngày…
Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Lê Hoài Trung đánh giá, kết quả phát triển kinh tế – xã hội 6 tháng đầu năm đạt nhiều kết quả tích cực, khá toàn diện.
Dẫn đánh giá của các tổ chức quốc tế, Bộ trưởng cho biết Việt Nam đang có nhiều động lực tăng trưởng mới, nổi bật là tiếp tục duy trì xu hướng mở cửa nền kinh tế và tăng trưởng xuất nhập khẩu; tiêu dùng và dịch vụ phục hồi tích cực; kinh tế số, tài chính số và các ngành kinh tế mới phát triển; môi trường đầu tư, kinh doanh tiếp tục được cải thiện.
Tuy nhiên, theo các dự báo quốc tế, thời gian tới Việt Nam sẽ phải đối mặt với một số thách thức, trong đó có áp lực lạm phát và tỉ giá gia tăng; nguy cơ thâm hụt ngân sách ở mức cao; sức ép cạnh tranh trong thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) khi dòng vốn toàn cầu có nhiều thay đổi.
Bên cạnh đó, môi trường tài chính, thương mại và chuỗi cung ứng quốc tế được dự báo sẽ tiếp tục diễn biến phức tạp, tác động đến triển vọng tăng trưởng trong thời gian tới.
Phát biểu tại hội nghị, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Trịnh Việt Hùng đề nghị các địa phương tập trung chỉ đạo hoàn thiện cơ sở dữ liệu đất đai – một trong những nhiệm vụ trọng tâm của ngành trong giai đoạn hiện nay.
Về triển khai các chương trình mục tiêu quốc gia, Bộ trưởng đề nghị các địa phương khẩn trương đẩy nhanh tiến độ thực hiện ngay từ đầu nhiệm kỳ, tránh lặp lại tình trạng chậm giải ngân như giai đoạn trước, khi gần 20.000 tỷ đồng vốn phải chuyển nguồn sang giai đoạn tiếp theo.
Bộ trưởng cũng cho biết, khoảng 25-30 ngày tới sẽ bước vào cao điểm thu hoạch sầu riêng. Ngay trong tuần tới, hai Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường sẽ trực tiếp làm việc tại các vùng sản xuất sầu riêng trọng điểm để tháo gỡ các khó khăn phát sinh, hỗ trợ địa phương chuẩn bị tốt cho vụ thu hoạch.
Liên quan đến xuất khẩu nông sản sang Trung Quốc, Bộ trưởng Trịnh Việt Hùng cho biết Bộ đã gửi văn bản tới Tổng cục Hải quan Trung Quốc (GACC) nhằm thúc đẩy việc mở cửa thị trường. Sau khi hai bên ký kết các thỏa thuận hợp tác, GACC đã mở rộng tối đa danh mục ngành hàng của Việt Nam được phép xuất khẩu.
Dự thảo dành 1 chương đề cập đến một số chính sách, biện pháp hỗ trợ đặc thù khi thực hiện dự án cải tạo, xây dựng lại nhà chung cư.
Nhà chung cư trên địa bàn thành phố thuộc diện phá dỡ khi đáp ứng một trong các yêu cầu sau đây: Nhà chung cư thuộc trường hợp phá dỡ theo quy định của pháp luật về nhà ở; nhà chung cư không đảm bảo quy chuẩn, tiêu chuẩn theo quy định của pháp luật về phòng cháy, chữa cháy hiện hành mà không có giải pháp khắc phục triệt để.
Chủ sở hữu căn hộ được lựa chọn một trong các hình thức: Tái định cư tại chỗ; nhận nhà ở tái định cư tại địa điểm khác; nhận tiền bồi thường; kết hợp nhận nhà và tiền.
Căn hộ tái định cư được bố trí có diện tích, chất lượng, tiêu chuẩn kỹ thuật cao hơn hoặc tương đương căn hộ cũ.
Trường hợp diện tích tái định cư lớn hơn diện tích được bồi thường thì phần chênh lệch được người tái định cư thanh toán cho chủ đầu tư theo giá kinh doanh căn hộ tại dự án, trừ trường hợp chủ đầu tư có thỏa thuận khác với người được tái định cư.
Thành phố ưu tiên bố trí quỹ nhà tái định cư tại chỗ đối với: Người có công; người khuyết tật hoặc thân nhân sống cùng người khuyết tật; hộ nghèo, cận nghèo; hộ gia đình chính sách; hộ gia đình có nhiều thế hệ cùng sinh sống và có diện tích bình quân đầu người thấp hơn so với quy định hiện hành.
Trong thời gian thực hiện dự án, chủ sở hữu nhà chung cư, người sử dụng đất được chủ đầu tư bố trí nhà tạm cư hoặc hỗ trợ tiền thuê nhà.
Thành phố hỗ trợ tiền thuê nhà trong thời gian thực hiện dự án theo quyết định chủ trương đầu tư nhưng không quá 3 năm. Quá thời hạn thì chủ đầu tư chịu trách nhiệm thanh toán toàn bộ chi phí thuê nhà phát sinh.
Chủ đầu tư có trách nhiệm thanh toán chi phí quản lý vận hành đối với quỹ nhà tạm cư, tái định cư trong thời gian người dân sử dụng.
Nhằm hỗ trợ di dời, ổn định đời sống và sản xuất kinh doanh, dự thảo nêu rõ, chủ sở hữu nhà, người sử dụng diện tích kinh doanh hợp pháp được hỗ trợ ổn định đời sống, sản xuất kinh doanh. Người lao động bị ảnh hưởng được hỗ trợ đào tạo nghề, chuyển đổi nghề nghiệp và giới thiệu việc làm. Hộ gia đình, cá nhân được vay vốn ưu đãi để ổn định cuộc sống và phát triển sản xuất kinh doanh. Mức hỗ trợ cụ thể do UBND TP quy định.
Thực tế, Hà Nội có khoảng 2.160 chung cư cũ cần cải tạo, nhưng tiến độ triển khai nhiều năm rất chậm. Phần lớn các dự án vướng ở khâu đền bù, tái định cư, khó đạt đồng thuận cư dân và thiếu cơ chế hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, doanh nghiệp và người dân. Nhiều khu tập thể xuống cấp nghiêm trọng nhưng vẫn chưa thể cải tạo do doanh nghiệp không mặn mà vì lợi nhuận thấp, trong khi quy định về quy hoạch, mật độ dân cư và chiều cao công trình còn nhiều ràng buộc.
Đến nay, Hà Nội mới có 11 dự án cải tạo chung cư cũ đang triển khai và chỉ 3 dự án hoàn thành. Theo kế hoạch, các địa phương phải hoàn thiện đề án gom các nhà tập thể đơn lẻ trong quý III tới; quy hoạch xây dựng lại chung cư cũ tại 48 phường, xã dự kiến hoàn thành vào quý II/2027.
Thành phố đặt mục tiêu đến năm 2030 cải tạo xong khoảng 20.000 căn hộ thuộc diện phải phá dỡ và hoàn tất chỉnh trang, tái thiết toàn bộ 2.160 chung cư cũ vào năm 2035.
Với loạt cơ chế mới đang được đề xuất, Hà Nội kỳ vọng sẽ tháo gỡ được bài toán cải tạo chung cư cũ vốn trì trệ suốt nhiều năm qua, đồng thời tạo cú hích cho quá trình tái thiết đô thị quy mô lớn tại Thủ đô.
Gần đây, một số ý kiến băn khoăn về đề xuất nợ thuế từ 1 triệu đồng trở lên sẽ bị tạm hoãn xuất cảnh với cá nhân, chủ hộ kinh doanh, người đại diện theo pháp luật, chủ sở hữu doanh nghiệp không còn hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký trong dự thảo Nghị định hướng dẫn Luật Quản lý thuế số 108/2025, Cục Thuế (Bộ Tài chính) đã thông tin để làm rõ nội dung này.
Theo đó, cơ quan thuế nhấn mạnh đây là quy định thu hẹp phạm vi áp dụng so với hiện hành, không phải siết chặt hơn.
Theo Nghị định 49/2025 đang có hiệu lực, với trường hợp người nộp thuế không còn hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký, pháp luật không quy định ngưỡng nợ tối thiểu để áp dụng biện pháp tạm hoãn xuất cảnh.
Do đó, chỉ cần phát sinh khoản nợ thuế quá hạn, dù rất nhỏ, người nộp thuế vẫn có thể thuộc diện xem xét áp dụng biện pháp này nếu đã được cơ quan thuế thông báo và quá 30 ngày chưa khắc phục.
Dự thảo Nghị định mới lần này đã bổ sung ngưỡng nợ từ 1 triệu đồng trở lên, tức là loại trừ khỏi diện áp dụng một số lượng rất lớn người nộp thuế có số nợ nhỏ, mang tính kỹ thuật hoặc phát sinh do sai sót hành chính chưa kịp xử lý.
"Như vậy, xét về bản chất pháp lý, đây là bước nới lỏng điều kiện áp dụng, thể hiện sự tiếp thu ý kiến xã hội và tinh thần bảo vệ tốt hơn quyền đi lại hợp pháp của công dân", Cục Thuế khẳng định.
Ngoài ra, theo cơ quan thuế, số liệu cho thấy việc đặt ngưỡng là cần thiết để tránh tác động bất cân xứng vì có hơn 50% người nộp thuế ở trạng thái không hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký có số tiền thuế nợ dưới 1 triệu đồng, số tiền thuế nợ chiếm khoảng 0,2% tổng số nợ thuế.
Theo Cục Thuế, con số này phản ánh rất rõ một thực tế: Hơn một nửa số đối tượng thuộc diện quản lý đặc biệt chỉ chiếm tỉ trọng nợ thuế rất nhỏ.
Vì vậy, nếu tiếp tục áp dụng cơ chế không có ngưỡng như hiện hành, biện pháp tạm hoãn xuất cảnh có thể tác động đến số lượng lớn người nộp thuế vì các khoản nợ rất nhỏ, trong khi hiệu quả thu hồi ngân sách không tương xứng.
Việc bổ sung ngưỡng 1 triệu đồng là giải pháp nhằm bảo đảm nguyên tắc tương xứng giữa tính chất vi phạm và biện pháp quản lý nhà nước áp dụng.
Cục Thuế cũng lưu ý cần hiểu đúng bản chất của trạng thái "không hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký". Một số ý kiến chỉ nhìn vào con số 1 triệu đồng để đánh giá mức ngưỡng thấp hay cao.
Thực tế, Cục Thuế cho rằng trường hợp này không đơn thuần là nợ thuế. Người nộp thuế thuộc trạng thái "không hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký" là trường hợp đã vi phạm nghĩa vụ duy trì thông tin đăng ký thuế chính xác, gây khó khăn cho công tác quản lý, kiểm tra và thu hồi nợ thuế.
"Đây là hành vi làm gián đoạn kết nối quản lý giữa cơ quan nhà nước với người nộp thuế. Do đó, việc áp dụng biện pháp quản lý đối với nhóm đối tượng này không chỉ dựa trên số tiền nợ, mà còn xuất phát từ yêu cầu bảo đảm tính tuân thủ pháp luật, ngăn ngừa tình trạng bỏ địa chỉ kinh doanh để né tránh nghĩa vụ tài chính với Nhà nước", Cục Thuế nêu.
Nói cách khác, theo cơ quan thuế, ngưỡng 1 triệu đồng không phải là thước đo duy nhất, mà là điều kiện bổ sung trong tổng thể các dấu hiệu vi phạm đã được xác định.
Bên cạnh đó, Cục Thuế cũng khẳng định quy trình áp dụng vẫn bảo đảm đầy đủ cơ hội khắc phục cho người nộp thuế bởi tạm hoãn xuất cảnh không áp dụng ngay khi phát sinh nợ thuế.
Dẫn chứng dự thảo, Cục Thuế cho rằng chỉ sau khi người nộp thuế đã được xác định thuộc trạng thái không hoạt động tại địa chỉ đăng ký; cơ quan thuế đã gửi thông báo về việc sẽ áp dụng biện pháp tạm hoãn xuất cảnh và quá 30 ngày kể từ ngày thông báo, người nộp thuế vẫn chưa hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế thì biện pháp này mới được xem xét áp dụng.
"Khoảng thời gian 30 ngày là khoảng đệm hợp lý để người nộp thuế kiểm tra, đối chiếu thông tin, thực hiện nộp tiền hoặc liên hệ cơ quan thuế xử lý vướng mắc", Cục Thuế nhấn mạnh và cho biết đã có khoảng 7.100 người nộp thuế chủ động liên hệ cơ quan thuế để hoàn thành nghĩa vụ và được hủy bỏ tạm hoãn xuất cảnh.
Cục Thuế cũng khẳng định: Điều đó cho thấy cơ chế này vận hành theo hướng cảnh báo, tạo cơ hội khắc phục, sau đó mới áp dụng biện pháp hạn chế, chứ không phải chế tài áp đặt tức thời.
Cục Thuế cũng nhấn mạnh quy định là sự cân bằng giữa kỷ cương quản lý và bảo vệ quyền lợi người dân.
Quản lý thuế hiện đại đòi hỏi vừa nghiêm minh với hành vi không tuân thủ, vừa tránh gây hệ quả bất lợi không cần thiết cho người nộp thuế. Nếu giữ nguyên cơ chế không ngưỡng như Nghị định 49/2025, có thể phát sinh những trường hợp khoản nợ rất nhỏ vẫn dẫn đến áp dụng biện pháp mạnh.
Tuy nhiên, nếu đặt ngưỡng quá cao, nguy cơ phát sinh tâm lý chây ì, lợi dụng kẽ hở để kéo dài tình trạng bỏ địa chỉ kinh doanh.
Do đó, mức 1 triệu đồng là giải pháp dung hòa, vừa loại bỏ được phần lớn các khoản nợ rất nhỏ mang tính kỹ thuật, vừa duy trì hiệu lực răn đe cần thiết với hành vi không tuân thủ.
Trong bối cảnh nhu cầu vốn trung và dài hạn cho các dự án hạ tầng quy mô lớn ngày càng gia tăng, bài toán huy động nguồn lực đang tạo áp lực đáng kể lên hệ thống tài chính.
Khi dư địa tín dụng ngân hàng dần thu hẹp và ngân sách Nhà nước còn hạn chế, việc phát triển thị trường trái phiếu - đặc biệt là trái phiếu công trình được kỳ vọng sẽ mở ra một kênh dẫn vốn mới, góp phần đa dạng hóa nguồn lực cho nền kinh tế.
Chia sẻ về cấu trúc nguồn vốn, ông Nguyễn Quang Thuân - Chủ tịch FiinGroup và FiinRatings cho rằng, vấn đề cốt lõi hiện nay không chỉ nằm ở mục tiêu tăng trưởng, mà còn ở cách thức lựa chọn nguồn vốn phù hợp với đặc thù của các dự án dài hạn.
"Nếu tiếp tục phụ thuộc vào vốn ngắn hạn hoặc tín dụng ngân hàng để tài trợ cho đầu tư dài hạn, rủi ro sẽ gia tăng và tính bền vững của tăng trưởng sẽ bị ảnh hưởng", ông Thuân nhấn mạnh.
Trong bối cảnh đó, thị trường trái phiếu được đánh giá có nhiều điều kiện thuận lợi để mở rộng vai trò, trở thành kênh dẫn vốn quan trọng cho các lĩnh vực nền tảng như hạ tầng, năng lượng hay logistics.
Theo ông Thuân, dù quy mô thị trường trái phiếu doanh nghiệp tại Việt Nam đã đạt khoảng 11% GDP, cấu trúc phát hành vẫn còn nhiều điểm chưa hợp lý. Phần lớn lượng trái phiếu hiện nay tập trung vào khu vực tài chính, trong khi các lĩnh vực có nhu cầu vốn dài hạn lớn như hạ tầng lại chưa tận dụng hiệu quả kênh huy động này.
Ông Thuân bày tỏ kỳ vọng thị trường trái phiếu sẽ từng bước dịch chuyển, trở thành kênh dẫn vốn chủ lực cho các ngành nền tảng của nền kinh tế, thay vì tập trung quá nhiều vào khu vực tài chính như hiện nay.
Ở góc độ khác, bà Hoàng Thị Hiền - Trưởng nhóm Phân tích Khối Xếp hạng tín nhiệm & Nghiên cứu VIS Rating nhìn nhận, thị trường trái phiếu doanh nghiệp có thể đóng vai trò quan trọng trong việc lấp đầy khoảng trống vốn dài hạn.
"Trong bối cảnh nguồn ngân sách Nhà nước còn thiếu hụt và kênh tín dụng ngân hàng gặp một số hạn chế, thị trường trái phiếu doanh nghiệp sẽ là một kênh huy động vốn dài hạn quan trọng để bù đắp khoảng trống này", bà Hiền nhận định.
Bà Hiền phân tích, đặc thù của các dự án hạ tầng là vòng đời dài, thời gian thu hồi vốn chậm và dòng tiền phân bổ theo nhiều giai đoạn, khiến việc phụ thuộc vào tín dụng ngân hàng - vốn có cấu trúc kỳ hạn ngắn trở nên kém phù hợp.
Do đó, việc phát triển trái phiếu hạ tầng không chỉ giúp đa dạng hóa nguồn vốn mà còn góp phần giảm áp lực kỳ hạn cho hệ thống tài chính, đồng thời tạo điều kiện thu hút các dòng vốn dài hạn từ doanh nghiệp bảo hiểm, quỹ đầu tư, quỹ hưu trí và nhà đầu tư nước ngoài.
Tuy nhiên, theo ông Nguyễn Quang Thuân, mức độ tham gia của các nhà đầu tư tổ chức dài hạn tại Việt Nam hiện vẫn còn hạn chế. Đây lại là nhóm nhà đầu tư phù hợp với các sản phẩm trái phiếu có kỳ hạn dài như trái phiếu công trình.
Đồng thời, tỉ lệ nhà đầu tư nước ngoài trên thị trường trái phiếu Việt Nam mới chỉ ở mức khoảng 0,1%, thấp hơn đáng kể so với nhiều quốc gia trong khu vực. Ông cho rằng việc nâng tỉ lệ này trong thời gian tới không chỉ giúp mở rộng quy mô thị trường mà còn góp phần nâng cao chuẩn mực minh bạch và quản trị.
Từ góc nhìn về điều kiện phát triển thị trường, bà Hoàng Thị Hiền nhấn mạnh, sức hấp dẫn của trái phiếu hạ tầng phụ thuộc lớn vào khung pháp lý và cơ chế triển khai. Những yếu tố như minh bạch dòng tiền, cơ chế bảo lãnh và phương án hoàn vốn có ý nghĩa quyết định đối với niềm tin của nhà đầu tư.
Bà cũng chỉ ra rằng, so với các thị trường phát triển trong khu vực như Hàn Quốc hay Nhật Bản, Việt Nam vẫn đang ở giai đoạn đầu trong việc hình thành và chuẩn hóa trái phiếu công trình.
Theo bà Hiền, một trong những điểm nghẽn lớn nhất hiện nay nằm ở cơ chế phân bổ rủi ro. Khi các rủi ro như xây dựng, pháp lý hay lưu lượng chưa được phân định rõ ràng giữa Nhà nước, doanh nghiệp và nhà đầu tư, phần lớn rủi ro sẽ dồn về phía nhà đầu tư tài chính, làm giảm sức hấp dẫn của công cụ này.
Để khắc phục, bà cho rằng cấu trúc trái phiếu hạ tầng cần được thiết kế theo hướng phân tách rủi ro, minh bạch hóa dòng tiền và tăng cường kỷ luật thị trường, đồng thời gắn với cơ chế kiểm soát dòng tiền riêng và thứ tự ưu tiên thanh toán rõ ràng.
Bên cạnh đó, bà Hoàng Thị Hiền cũng nhấn mạnh vai trò của xếp hạng tín nhiệm độc lập ở cấp độ từng công cụ trái phiếu, giúp nhà đầu tư đánh giá chính xác hơn mức độ rủi ro của từng dự án.
Đây được xem là nền tảng quan trọng để nâng cao chất lượng phát hành và thúc đẩy thị trường trái phiếu phát triển theo chiều sâu.
Ở góc nhìn dài hạn, bà Hiền nhận định nếu được phát triển đúng hướng, trái phiếu hạ tầng không chỉ là một sản phẩm tài chính đơn lẻ mà có thể trở thành trụ cột thứ hai bên cạnh tín dụng ngân hàng.
Quan điểm này cũng tương đồng với đánh giá của ông Nguyễn Quang Thuân khi cho rằng thị trường trái phiếu cần đóng vai trò lớn hơn trong việc cung ứng vốn dài hạn cho nền kinh tế.
Với việc từng bước hoàn thiện khung pháp lý, nâng cao tính minh bạch và thu hút sự tham gia của các nhà đầu tư dài hạn, trái phiếu công trình được kỳ vọng sẽ trở thành công cụ hiệu quả để huy động nguồn lực xã hội cho các dự án hạ tầng chiến lược.