Nước hầm xương từ lâu đã trở thành món ăn quen thuộc trong bữa cơm hàng ngày của nhiều gia đình Việt. Nhiều người vẫn tin rằng hầm xương càng lâu thì nước canh càng bổ dưỡng, đặc biệt giàu canxi giúp trẻ nhỏ tăng chiều cao và người già chắc khỏe xương.
Tuy nhiên, theo bác sĩ Chu Thị Dung, Bệnh viện Đại học Y Dược TP HCM – Cơ sở 3, nước hầm xương thực chất không phải là “thần dược” chứa lượng canxi đậm đặc như lời đồn. Đáng chú ý, có 3 nhóm dưới đây cần đặc biệt hạn chế hoặc thận trọng khi sử dụng món ăn này.
Trẻ nhỏ trong độ tuổi ăn dặm
Nhiều phụ huynh có thói quen hầm xương lấy nước nấu cháo rồi chỉ cho trẻ uống phần nước, bỏ toàn bộ phần xác thịt, cá hay rau củ vì nghĩ nước ngọt đã gom trọn dưỡng chất. Thực tế, thói quen này khiến bữa ăn của trẻ bị thiếu hụt dinh dưỡng nghiêm trọng.
Theo hướng dẫn ăn bổ sung của Bộ Y tế, trẻ từ 6 đến 23 tháng tuổi cần nguồn dinh dưỡng đa dạng, cân đối để phát triển. Nếu chỉ dùng phần nước hầm, trẻ sẽ nhanh no bụng nhưng lại nhận được rất ít năng lượng, protein, sắt, kẽm. Nước hầm xương chỉ nên dùng để tạo vị ngọt cho món ăn, hoàn toàn không thể thay thế thức ăn đặc và phần thịt, cá, trứng, rau củ mà trẻ cần ăn hàng ngày.
Người mắc các bệnh lý chuyển hóa
Đối với những người rối loạn lipid máu, thừa cân hoặc có nguy cơ tim mạch, nước hầm xương chứa nhiều tủy, da, mỡ động vật có thể làm gia tăng lượng chất béo bão hòa nạp vào cơ thể, từ đó làm tăng cholesterol xấu (LDL) trong máu.
Bên cạnh đó, hàm lượng purin hòa tan trong nước hầm xương đậm đặc cũng là yếu tố mà người bệnh gout cần hết sức thận trọng để tránh ảnh hưởng tiêu cực đến tình trạng bệnh.
Riêng với người mắc bệnh thận tiến triển, tăng kali máu, phù hay suy tim, việc điều chỉnh lượng khoáng chất và protein trong khẩu phần là cực kỳ nghiêm ngặt; do đó, người bệnh không nên tự ý dùng nước hầm xương theo kinh nghiệm truyền miệng mà cần tuân thủ nghiêm ngặt chỉ định của bác sĩ chuyên khoa.
Người lớn tuổi, phụ nữ sau mãn kinh lo ngại loãng xương
Người lớn tuổi hay phụ nữ sau mãn kinh thường truyền tai nhau uống thật nhiều nước hầm xương để phòng ngừa và cải thiện tình trạng loãng xương. Dù vậy, các phân tích dinh dưỡng đã chỉ ra rằng hàm lượng canxi tan trong nước hầm xương là rất thấp, không đủ để tạo ra sự cải thiện cho cấu trúc xương.
Việc lầm tưởng và phụ thuộc vào nước hầm xương thay vì bổ sung đúng các nguồn dinh dưỡng giàu canxi khác sẽ khiến người lớn tuổi bỏ lỡ cơ hội chăm sóc sức khỏe xương khớp hiệu quả.
Sở dĩ nước hầm xương bị thần thánh hóa là do những quan niệm sai lầm về màu sắc và thời gian chế biến. Canxi nằm trong cấu trúc bền vững của xương nên rất khó hòa tan hoàn toàn vào nước khi nấu. Một nghiên cứu vào năm 2024 phân tích 30 mẫu nước dùng từ thịt bò, thịt heo, gia cầm, cá và rau củ đã chỉ ra: một khẩu phần 250 ml nước hầm thông thường chỉ cung cấp dưới 5% nhu cầu canxi, sắt, đồng và magiê hàng ngày. Việc hầm xương nhiều giờ hay cho thêm chất chua dù có làm tăng nhẹ lượng khoáng chất giải phóng nhưng tổng lượng thu được vẫn không đáng kể.
Bên cạnh đó, màu trắng đục và độ sánh ngậy của nước canh – vốn thường được coi là biểu hiện của “nhiều canxi” – thực chất chỉ là hiện tượng nhũ hóa chất béo, protein và sự hòa tan của gelatin từ da, gân, sụn khi đun sôi. Độ sánh hay màu sắc hoàn toàn không phản ánh lượng canxi có trong nồi nước hầm.
Chính vì vậy, nước hầm xương không thể dùng để thay thế sữa hoặc các thực phẩm giàu canxi khác. Để so sánh, 240 ml sữa bò chứa gần 300 mg canxi, cùng vô số nguồn canxi dồi dào khác như sữa chua, cá mòi, cá hồi ăn cả xương hay đậu phụ.
Bên cạnh hàm lượng chất béo và purin, một nguy cơ lớn khác từ nước hầm xương đến từ lượng gia vị và muối được nêm nếm. Việc thêm quá nhiều muối, nước mắm, hạt nêm hay viên súp sẽ khiến lượng natri nạp vào vượt ngưỡng khuyến cáo của Tổ chức Y tế Thế giới (dưới 2.000 mg natri, tương đương 5 g muối/ngày), đặc biệt gây nguy hiểm cho người tăng huyết áp, suy tim và bệnh thận.
Dù không phải là nguồn cung cấp canxi dồi dào, nước hầm xương vẫn có thể sử dụng như một món canh thông thường giúp bữa ăn gia đình thêm tròn vị. Để đảm bảo sức khỏe, người chế biến không cần hầm xương quá lâu, nên chọn nguyên liệu rõ nguồn gốc, nêm nếm nhạt và gạt bỏ bớt lớp mỡ đông trên bề mặt sau khi để nguội. Điều quan trọng nhất là phải ăn đa dạng, kết hợp cả phần xác thực phẩm và rau củ để đảm bảo cân bằng dinh dưỡng cho cả gia đình.
Nữ bệnh nhân nhập viện sau nửa năm đau lưng kéo dài, kèm tê hai chân. Các bác sĩ chẩn đoán cô bị thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng, nguyên nhân liên quan thói quen khuân vác nặng và làm việc sai tư thế trong thời gian dài.
Ngày 4/7, bệnh nhân được phẫu thuật bằng kính vi phẫu Zeiss Kinevo 900S tích hợp AI tại Bệnh viện Đại học Y khoa Phan Châu Trinh, trong ca mổ thị phạm thuộc hội thảo khoa học chuyên ngành ngoại thần kinh. Hội thảo quy tụ các chuyên gia đầu ngành, bác sĩ từ nhiều bệnh viện, trường y trên cả nước. Bệnh viện hiện là đơn vị đầu tiên ở miền Trung sở hữu hệ thống này, sau Bệnh viện Đại học Y Hà Nội.
Theo ThS.BS Hoàng Trần Công Tuấn, Khoa Phẫu thuật Thần kinh Cột sống, thoát vị đĩa đệm ngày càng phổ biến ở người trẻ, không còn chủ yếu là bệnh lý của người lớn tuổi như quan niệm trước đây. Nguyên nhân thường gặp là lao động nặng, ngồi lâu, sai tư thế hoặc chấn thương khi chơi thể thao.
"Bệnh nhân mới 22 tuổi nhưng đã có tổn thương cột sống rõ rệt, nếu không điều trị kịp thời tình trạng chèn ép thần kinh kéo dài có thể gây đau mạn tính, yếu cơ, thậm chí ảnh hưởng khả năng vận động", bác sĩ nói.
Trong phẫu thuật thần kinh và cột sống, độ chính xác là yếu tố sống còn. Sai số chỉ vài milimet cũng có thể làm tổn thương mô lành, mạch máu hoặc bó thần kinh quan trọng, để lại di chứng như liệt hay rối loạn vận động.
TS.BS Trần Huy Hoàn Bảo, Trưởng khoa Ngoại thần kinh, Bệnh viện Chợ Rẫy, cho biết kính vi phẫu giúp bác sĩ tiếp cận tổn thương qua đường mổ nhỏ hơn nhưng vẫn đảm bảo trường quan sát rõ, nhờ đó hạn chế xâm lấn, bảo tồn tốt hơn các cấu trúc mạch máu và dây thần kinh. Hệ thống kính vi phẫu thế hệ mới giúp phẫu thuật viên quan sát rõ hơn các cấu trúc giải phẫu nhỏ nằm sâu trong cơ thể nhờ hình ảnh độ phân giải cao và trường quan sát sâu hơn, giảm việc phải liên tục chỉnh tiêu cự trong lúc thao tác.
Theo bác sĩ Tuấn, ưu điểm lớn nhất của thiết bị nằm ở khả năng duy trì nhiều lớp hình ảnh sắc nét trong phẫu trường hẹp. Trước đây, khi lấy nét gần thì vùng xa dễ mờ, còn lấy nét xa thì vùng gần lại mất chi tiết. Công nghệ mới giúp khắc phục hạn chế này, hỗ trợ bác sĩ thao tác thuận lợi hơn ở những vùng mổ sâu.
Dù được tích hợp AI, các bác sĩ cho rằng công nghệ hiện chủ yếu đóng vai trò hỗ trợ, chưa thể thay thế chuyên môn con người. AI trên hệ thống hiện chủ yếu hỗ trợ điều khiển bằng giọng nói, ghi nhớ phẫu trường, tối ưu hình ảnh và giảm thao tác chỉnh kính thủ công. Một số tính năng robot còn có thể tự động khóa vùng quan sát hoặc bám theo vị trí dụng cụ phẫu thuật.
Theo các chuyên gia, xu hướng tương lai của ngoại thần kinh là sự kết hợp giữa trí tuệ nhân tạo, robot và thực tế ảo tăng cường (AR), cho phép tích hợp hình ảnh CT hoặc MRI trực tiếp vào trường mổ để bác sĩ định vị tổn thương chính xác hơn. Tuy vậy, AI hiện vẫn chưa thể tự nhận diện đầy đủ dây thần kinh, mạch máu hay đưa ra quyết định điều trị thay phẫu thuật viên.
Ngoài phẫu thuật cột sống, thiết bị còn hỗ trợ trong mổ u não, dị dạng mạch máu não và các kỹ thuật vi phẫu mạch máu tinh vi. Ở một số ca u não, hệ thống có thể kết hợp chất huỳnh quang để làm nổi bật mô bệnh, giúp bác sĩ phân biệt rõ hơn giữa khối u và mô lành.
Tại hội thảo, bệnh viện còn tổ chức các buổi thực hành vi phẫu trên mô hình sinh học như não lợn, cánh gà để đào tạo kỹ năng khâu nối mạch máu siêu nhỏ, những cấu trúc đôi khi chỉ mảnh như sợi tóc.
Các chuyên gia đánh giá việc đưa công nghệ vi phẫu hiện đại về khu vực có thể giúp người bệnh miền Trung tiếp cận kỹ thuật điều trị chuyên sâu ngay tại địa phương, giảm áp lực chuyển tuyến đến các bệnh viện lớn ở Hà Nội hoặc TP HCM. Ngoài giá trị điều trị, hệ thống này còn hỗ trợ đáng kể cho công tác đào tạo. Khả năng ghi hình, trình chiếu trực tiếp phẫu trường và chia sẻ dữ liệu giúp bác sĩ trẻ quan sát rõ từng thao tác vi phẫu - điều vốn khó thực hiện với các thế hệ kính trước.
Theo bác sĩ Bảo, đây cũng là xu hướng của kính vi phẫu thế hệ mới, khi hình ảnh phẫu trường không còn giới hạn trong thị kính mà có thể hiển thị trên màn hình 3D để toàn bộ êkíp cùng theo dõi, hỗ trợ và học tập.
Bác sĩ Keiko Amano là thành viên Hội đồng quản trị của Hiệp hội Y học Giới tính Nhật Bản. Sau khi tốt nghiệp khoa Y, Đại học Tokyo năm 1967, bà đóng vai trò nòng cốt trong việc thành lập phòng khám ngoại trú dành cho phụ nữ đầu tiên tại một bệnh viện công vào năm 2002. Từ năm 2009, bà phụ trách phòng khám ngoại trú dành cho phụ nữ tại Bệnh viện Seifuso, tỉnh Saitama, và hiện là cố vấn đặc biệt tại đây. Bà cũng là tác giả của một số cuốn sách như "Nội tiết tố nữ quyết định cuộc đời người phụ nữ".
Dù đã ở tuổi 80, bác sĩ Amano vẫn duy trì nhịp làm việc đều đặn tại phòng khám. Bà tin rằng bản thân vẫn có thể hoạt động bền bỉ và giữ được thể trạng tốt là nhờ đặc biệt chú trọng đến chế độ ăn uống, vận động, giấc ngủ và duy trì một lối sống điều độ.
Bà Amano kể từ thời thơ ấu đã rèn được thói quen thức dậy vào khoảng 4-5h và đi ngủ lúc 20-21h. Gần đây, bà thường bị tỉnh giấc do ảnh hưởng của chứng tiểu đêm ở người cao tuổi nhưng chấp nhận điều đó như một quy luật tự nhiên của lão hóa. Theo bác sĩ, không nên quá lo lắng về thời lượng ngủ. Người cao tuổi chỉ cần ngủ bất cứ khi nào cơ thể cho phép, thậm chí có thể dậy đọc sách hoặc uống chút đồ ấm nếu không thể ngủ tiếp ngay lập tức.
Mỗi buổi sáng sau khi thức dậy, bà Amano luôn dành 15 phút ngâm mình trong bồn nước nóng từ 41 đến 42 độ C. Thói quen này giúp tăng thân nhiệt lên 1-2 độ, thúc đẩy tuần hoàn máu và làm mềm các khớp xương trước khi bắt đầu ngày mới. Theo bác sĩ Amano, duy trì thân nhiệt trên 36,5 độ C là chìa khóa để hệ miễn dịch hoạt động hiệu quả. Ngược lại, tình trạng cơ thể bị lạnh thường xuyên sẽ dẫn đến hàng loạt hệ lụy như đau khớp, mệt mỏi, táo bón và rối loạn thần kinh thực vật. Đặc biệt với phụ nữ trung niên và cao tuổi, những người vốn có ít cơ bắp và khả năng sinh nhiệt kém hơn nam giới, các liệu pháp làm ấm cơ thể là vô cùng cần thiết.
Bà chia sẻ sở dĩ chọn chuyên ngành chăm sóc sức khỏe phụ nữ là bởi từng trải qua giai đoạn tiền mãn kinh khó khăn từ năm 48 đến 59 tuổi. Lúc đó, cơ thể bà lúc nào cũng thấy lạnh buốt. Bà thường xông hơi khô ở nhiệt độ thấp để cải thiện nhưng sau khi nuôi mèo không còn nhiều thời gian nên đã chuyển sang liệu pháp ngâm bồn. Để đạt hiệu quả tương đương, bà tắm 2 lần mỗi ngày. Buổi tối, bà ngâm mình trong nước ấm vừa phải (40-41°C) để kích hoạt hệ thần kinh phó giao cảm, giúp đi vào giấc ngủ dễ dàng hơn. Sau mỗi lần tắm sáng và tối, bác sĩ luôn uống một cốc nước ấm để làm ấm các cơ quan nội tạng và thúc đẩy lưu thông máu. Bà cũng luôn mang theo nước ấm bên mình và uống thường xuyên ngay cả khi chưa thấy khát.
Chế độ ăn uống cũng đóng vai trò quyết định trong việc cải thiện thể chất của nữ bác sĩ. Sau khi phát hiện các dấu hiệu cao huyết áp và tiểu đường nhẹ ở tuổi 75, bà đã chuyển sang thực đơn giàu thực vật với món súp rau củ không gia vị. Món súp gồm hành tây, cà rốt, bắp cải, bí đỏ và các loại rau theo mùa như bông cải xanh hay nấm được ninh kỹ để tận dụng vị ngọt tự nhiên. Chính việc cắt giảm muối thông qua thói quen ăn nhạt này đã giúp huyết áp của bà trở lại mức bình thường. Bên cạnh đó, bà cũng chú trọng bổ sung protein từ trứng, cá và đậu phụ để bù đắp lượng cơ bắp và mật độ xương vốn dễ bị suy giảm sau tuổi 50.
Bác sĩ Amano muốn tiếp tục làm nghề y cho đến năm 100 tuổi nên không chỉ chú trọng dinh dưỡng, bà còn duy trì tập luyện với huấn luyện viên cá nhân hai lần mỗi tuần trong suốt 7 năm qua. Mục tiêu của bà là cải thiện tính linh hoạt của khớp và tăng cường khối lượng cơ để bảo vệ khung xương. Những bài tập tự chăm sóc tại nhà như xoay cổ chân và ngón chân cũng được bà thực hiện thường xuyên để giữ cho cơ thể luôn linh hoạt.
Từ trải nghiệm cá nhân về việc thay đổi nội tiết và những phản ứng của cơ thể với thuốc khi về già, bác sĩ Amano rút ra bài học về sự nhạy cảm đối với các tín hiệu của cơ thể. Ngày nay, cứ hai phụ nữ thì có một người sống thọ trên 90 tuổi. Trong bối cảnh đó, bà cho rằng điều quan trọng nhất là tận hưởng mỗi ngày một cách thoải mái bằng cách từ bỏ những áp lực không cần thiết và chuyện vụn vặt gây lãng phí thời gian. Những bất ổn nhỏ trong sức khỏe không nên là nỗi lo sợ mà cần được nhìn nhận như những "tín hiệu" để điều chỉnh lối sống sao cho phù hợp và trân trọng bản thân hơn.
Ngày 22/7, bác sĩ CKII Vương Hoàng Dung, Trưởng khoa Hồi sức tích cực Nhi, Bệnh viện Tim Hà Nội, cho biết bé tỉnh táo, các chỉ số mạch và huyết áp ổn định. Siêu âm cho thấy không còn các luồng thông bất thường trong tim bé, quai động mạch chủ thông thoáng, không hẹp, chức năng tim tốt và chưa ghi nhận di chứng sau phẫu thuật.
"Để có được kết quả này là hành trình 20 ngày điều trị đầy áp lực, bắt đầu từ cuộc đại phẫu kéo dài hơn 5 giờ và tiếp nối bằng 10 ngày hồi sức đặc biệt sau mổ", bác sĩ Dung nói.
Bé chào đời giữa tháng 6 khi 31 tuần tuổi thai, nặng 1,5 kg. Ngay sau sinh, bé được chuyển từ Bệnh viện Nhi Hà Nội sang Bệnh viện Tim Hà Nội trong tình trạng suy hô hấp nặng, viêm phổi và mang hàng loạt dị tật tim bẩm sinh phức tạp. Các bác sĩ xác định trẻ bị thông liên thất, thông liên nhĩ, còn ống động mạch lớn, hẹp khít eo động mạch chủ, thiểu sản quai động mạch chủ, hở van ba lá và tăng áp động mạch phổi nặng.
PGS.TS Nguyễn Sinh Hiền, Giám đốc Bệnh viện Tim Hà Nội, cho biết nếu không được phẫu thuật khẩn cấp, trẻ gần như không có cơ hội sống. Trong hơn 5 giờ, các phẫu thuật viên vừa vá các lỗ thông trong tim, vừa tạo hình lại quai và eo động mạch chủ. Để bảo vệ não và các cơ quan quan trọng, bệnh nhi được áp dụng kỹ thuật hạ thân nhiệt sâu kết hợp tưới máu não chọn lọc trong suốt thời gian tuần hoàn ngoài cơ thể.
"Đây là một trong những ca phẫu thuật khó nhất bởi bệnh nhi chỉ nặng 1,5 kg nhưng phải mổ tim hở, ngừng tim và sử dụng máy tuần hoàn ngoài cơ thể", PGS Hiền nói, thêm rằng bệnh viện từng phẫu thuật cho trẻ nặng khoảng 800 g nhưng chủ yếu là các kỹ thuật sửa chữa ngoài tim khi tim vẫn đập. Trường hợp này phải sửa chữa toàn bộ cấu trúc trong tim, buộc tim ngừng đập và duy trì tuần hoàn bằng máy ngoài cơ thể.
Với trẻ sinh non có cân nặng quá thấp, tổng lượng máu trong cơ thể rất ít. Việc sử dụng máy tuần hoàn ngoài cơ thể cùng thuốc chống đông có thể gây xuất huyết não, rối loạn điện giải và tổn thương nhiều cơ quan. Các mô tim và mạch máu cũng rất mỏng manh, dễ rách và chảy máu, đòi hỏi mọi thao tác phải đạt độ chính xác gần như tuyệt đối.
Vượt qua ca mổ mới chỉ là bước đầu, bé và các bác sĩ tiếp tục phải đối mặt với những ngày hồi sức căng thẳng sau đại phẫu. Do trải qua cuộc đại phẫu kéo dài trong bối cảnh đang nhiễm trùng trước mổ, bệnh nhi vẫn đối mặt nguy cơ suy hô hấp, rối loạn tuần hoàn và nhiễm trùng bùng phát bất cứ lúc nào.
Bác sĩ Dung cho hay do sinh non, phổi của bệnh nhi chưa trưởng thành, hệ cơ hô hấp còn yếu nên khả năng tự thở rất hạn chế. Sau sinh, trẻ tiếp tục bị tổn thương phổi do lượng máu lên phổi quá nhiều, nhiễm trùng phổi và phải thở máy kéo dài. Cuộc đại phẫu tim có sử dụng tuần hoàn ngoài cơ thể càng làm tình trạng tổn thương phổi nặng hơn, khiến việc cai máy thở sau mổ trở thành một trong những thách thức lớn nhất.
Để giúp bệnh nhi tự thở trở lại, êkíp hồi sức phải chăm sóc phổi liên tục và tỉ mỉ bằng nhiều biện pháp phối hợp như thở máy ở tư thế nằm sấp, vật lý trị liệu hô hấp, tập thở, tăng cường dinh dưỡng và điều trị kháng sinh. Các bác sĩ còn sử dụng đệm chuyên dụng giúp bé duy trì tư thế nằm tối ưu, giữ đường thở thông thoáng, cải thiện thông khí, giảm các biến chứng ở trẻ sinh non phải nằm điều trị kéo dài.
Sau nhiều ngày điều trị tích cực, bé được cai máy thở thành công, tự hô hấp bằng chính lá phổi và hệ cơ hô hấp của mình.
Theo các bác sĩ, thành công của ca điều trị này nhờ sự phối hợp liên tục giữa nhiều chuyên khoa, từ sơ sinh, gây mê hồi sức, phẫu thuật tim mạch đến hồi sức sau mổ. Hành trình 20 ngày không chỉ cứu sống một trẻ sinh non mang trái tim đa dị tật mà còn đánh dấu một ca phẫu thuật tim hở đặc biệt, vượt qua những giới hạn vốn được xem là thách thức lớn của ngoại khoa tim mạch nhi.