Trước ngày 27/7, ông Nguyễn Văn Phước, 68 tuổi, cẩn thận lau lại từng khung bằng Tổ quốc ghi công, thay hoa và sửa soạn bàn thờ để đón con cháu trở về.
Dòng họ ông có 14 liệt sĩ và 4 Mẹ Việt Nam anh hùng. Bà nội, mẹ, cô ruột và thím của ông đều được phong tặng hoặc truy tặng danh hiệu này.
Ông Phước có 3 người anh ruột. Người anh cả là Trung tướng Nguyễn Văn Thảng, nguyên Chính ủy Quân khu 5. Hai người anh khác đã hy sinh trong chiến tranh. Trong đó, liệt sĩ Nguyễn Thảng ngã xuống tại quê nhà trong cuộc chiến đấu của Đội công tác xã Điện Nam ngày 19/1/1972.
Mỗi dịp 27/7, gia đình ông chuẩn bị một mâm cơm tưởng nhớ 14 người thân đã không trở về. Mâm cúng không cầu kỳ, chủ yếu là những món ăn quen thuộc. Điều được coi trọng nhất là sự có mặt của con cháu và những câu chuyện về người đã khuất.
Người đi làm ăn xa cố gắng thu xếp trở về. Những người ở gần cùng đi chợ, nấu nướng, dọn dẹp. Trong làn khói hương, tên tuổi, cuộc đời và sự hy sinh của từng người lại được kể cho lớp trẻ.
Theo ông Phước, chiến tranh để lại mất mát trong hầu hết các dòng họ ở Cẩm Sa. Có người hy sinh ngay trên quê hương, có người nằm lại tại chiến trường xa. Nhiều gia đình không xác định được chính xác ngày mất, thậm chí đến nay vẫn chưa tìm thấy hài cốt người thân.
Nếu tổ chức giỗ theo ngày hy sinh của từng người, có gia đình phải làm nhiều đám giỗ trong năm. Từ hoàn cảnh ấy, người dân chọn ngày 27/7 để cùng tưởng niệm những người đã nằm xuống.
Cẩm Sa là một làng quê không lớn bên dòng Vĩnh Điện nhưng có 503 liệt sĩ, 111 Mẹ Việt Nam anh hùng và là quê hương của 5 vị tướng trong lực lượng quân đội, công an.
Ông Nguyễn Thanh Vỹ, Chủ tịch UBND phường Điện Bàn Đông, cho biết hiếm có làng quê nào mà những mất mát trong chiến tranh lại hiện diện đậm đặc như Cẩm Sa. Sau mỗi tấm bằng Tổ quốc ghi công là một gia đình có người không trở về; có dòng họ cùng lúc mất nhiều người con, người cháu.
Theo ông Vỹ, truyền thống cách mạng của Cẩm Sa không chỉ được ghi lại bằng những con số, mà còn hiện diện trong cách người dân đối đãi với nhau. Những gia đình không còn người trực tiếp chăm lo hương khói vẫn được bà con trong họ, hàng xóm đến dọn bàn thờ, thắp giúp một nén hương.
“Người đã hy sinh là thân nhân của từng gia đình, nhưng cả làng xem họ như người thân chung. Vì vậy, ngày 27/7 ở Cẩm Sa có không khí rất riêng, vừa trang nghiêm vừa gần gũi như một ngày giỗ lớn”, ông Vỹ nói.
Ông cho rằng điều đáng quý nhất là tập quán ấy vẫn được duy trì trong đời sống hiện đại. Người trẻ đi học, đi làm xa có thể không về đầy đủ, nhưng trong mỗi gia đình, câu chuyện về những người đã hy sinh vẫn được nhắc lại để con cháu biết lịch sử của dòng họ và quê hương.
Cách nhà ông Phước không xa là Nhà bia tưởng niệm 7 liệt sĩ – dũng sĩ xã Điện Nam, nằm bên dòng Vĩnh Điện. Công trình ghi tên bảy cán bộ, du kích địa phương đã hy sinh trong cuộc chiến đấu ngày 19/1/1972.
Liệt sĩ Nguyễn Thảng, anh ruột ông Phước, là 1 trong 7 người được ghi danh tại đây.
Mỗi khi tháng 7 về, ông Phạm Ngọc Cước, 72 tuổi, lại đến nhà bia lau bụi, dọn chân hương và chăm chút khu vực tưởng niệm. Ông thường đứng khá lâu trước những cái tên được khắc trên mặt đá.
Theo lời kể của người dân địa phương, sáng 19/1/1972, nơi trú quân của Đội công tác xã Điện Nam bị phát hiện và bao vây. Bảy cán bộ, du kích bám trụ chiến đấu đến khi cùng hy sinh.
Hơn nửa thế kỷ trôi qua, nơi từng diễn ra trận đánh nay đã trở thành khu dân cư với những vườn rau, ngôi nhà mới và đường bê tông. Nhà bia nằm giữa cuộc sống yên bình, lưu lại dấu tích về một thời bom đạn trên quê hương.
Trước đó, tối 26/7, người dân cùng đoàn viên, thanh niên đến nhà bia dâng hoa, thắp hương và đặt những ngọn nến dưới 7 cái tên. Người lớn kể lại câu chuyện về trận đánh, giúp nhiều người trẻ hiểu rằng nơi mình đang sống từng chứng kiến sự hy sinh của những người chỉ hơn họ vài tuổi.
Sau đêm thắp nến, người dân trở về tiếp tục chuẩn bị mâm cơm cho sáng hôm sau. Ông Phước vẫn nhắc con cháu rằng dù sinh sống, làm việc ở đâu, đến ngày 27/7 cũng nên hướng về quê nhà và dành một nén hương cho những người đã khuất.
Những ngày này, trên các cánh đồng hành, tỏi ở đặc khu Lý Sơn, không khí sản xuất trở nên khẩn trương. Dưới nắng gắt, người dân tất bật kéo ống, vận hành máy bơm, tận dụng từng mạch nước ngầm để cứu cây trồng.
Gia đình ông Lê Thanh Tiễn (thôn Đông An Vĩnh) vừa xuống giống vụ hành mới trên hơn 5 sào sau khi thu hoạch tỏi cuối tháng 3. Tuy nhiên, nắng nóng kéo dài khiến nguồn nước tưới khan hiếm, ảnh hưởng trực tiếp đến sinh trưởng của cây.
Khu vực sản xuất của gia đình ông Tiễn nằm gần giếng Ông Lý - một trong những nguồn nước ngầm lớn trên đảo. Đây cũng là điểm nhiều hộ dân cùng khai thác.
"Dù giếng chưa cạn nhưng vào cao điểm, áp lực rất lớn. Có hộ phải kéo ống dài hàng trăm mét, thậm chí cả cây số để dẫn nước về ruộng, nên việc sử dụng phải tiết kiệm tối đa", ông Tiễn nói.
Không riêng gia đình ông Tiễn, nhiều nông dân trên đảo cũng phải "liệu cơm gắp mắm". Một số hộ chủ động giảm diện tích, chuyển sang cây trồng ít nước hơn để giảm áp lực lên nguồn nước ngầm.
Bên cạnh đó, người dân vẫn duy trì giải pháp phủ cát trắng trên ruộng – vừa giữ ẩm, giảm nhiệt cho đất, vừa giúp tiết kiệm nước tưới.
Ông Nguyễn Thành Dũng (thôn Đông An Vĩnh) cho biết, gia đình ông canh tác hơn 1 ha hành, tỏi nhưng phải chia nhỏ diện tích, ưu tiên vùng có điều kiện tưới tốt.
"Mỗi lần tưới chỉ khoảng 20 phút, luân phiên giữa các ruộng, chủ yếu vào sáng sớm hoặc buổi tối để hạn chế thất thoát nước", ông Dũng chia sẻ.
Theo thống kê, diện tích cây màu, rau, quả ở Lý Sơn khoảng hơn 300 ha. Toàn đảo hiện có hồ chứa nước Thới Lới, hai công trình cấp nước tập trung và hơn 2.000 giếng, trong đó gần một nửa là giếng đào.
Việc khai thác nước ngầm kéo dài khiến nhiều khu vực bị suy giảm trữ lượng, thậm chí xâm nhập mặn. Từ năm 2016, tỉnh Quảng Ngãi đã cấm đào, khoan giếng mới để bảo vệ nguồn nước.
Không chỉ thiếu nước tưới, người dân còn gặp khó về nước sinh hoạt. "Làm nông còn có thể xoay xở, nhưng nước sinh hoạt thì không thể thiếu. Hồ Thới Lới nên ưu tiên phục vụ dân sinh thay vì tưới tiêu", ông Dũng đề xuất.
Trước thực trạng này, người dân và chính quyền địa phương đã triển khai nhiều giải pháp. Tại đảo Bé, các hộ dân chủ động xây bể ngầm trữ nước mưa; đồng thời tăng cường sử dụng bể chứa tập trung để tích trữ nước từ sớm.
Ông Nguyễn Văn Huy, Chủ tịch UBND đặc khu Lý Sơn, cho biết, địa phương đang xây dựng thêm hai bể chứa nước mưa quy mô lớn, dự kiến hoàn thành trong năm 2026. Bên cạnh đó, dự án hệ thống bể chứa nước mưa với tổng vốn khoảng 75 tỷ đồng cũng đang được tái khởi động.
"Về lâu dài, Lý Sơn sẽ đầu tư nhà máy khử nước biển thành nước ngọt theo quy hoạch phát triển du lịch. Đây là giải pháp căn cơ để đáp ứng nhu cầu nước trong tương lai", ông Huy nói.
Ngày 8-9/7, ghi nhận của phóng viên tại một số cơ sở tái chế bao bì quy mô lớn tại các thôn Thái Lai, Thái Yên, xã Tân Ninh, Thanh Hóa cho thấy những khu vực từng là "điểm nóng" tái chế bao bì nay vắng lặng. Nhiều xưởng vắng bóng người, máy móc ngừng hoạt động, các bãi tập kết nguyên liệu không còn cảnh xe ra vào tấp nập như trước.
"Mấy năm nay, người dân phải sống chung với khói bụi, mùi hôi và nước thải từ các cơ sở tái chế. Chúng tôi phản ánh nhiều lần nhưng chỉ vài tháng gần đây khi chính quyền vào cuộc, họ mới ngừng hoạt động", một người dân sống gần khu vực sản xuất cho biết.
Xã Tân Ninh từ lâu được biết đến là nơi có nhiều hộ làm nghề tái chế bao bì. Ban đầu chỉ là hoạt động thu gom nhỏ lẻ, sau đó nhiều hộ đầu tư máy móc, thuê nhân công, mở rộng sản xuất, tạo nguồn thu nhập cho hàng chục gia đình. Đa phần các cơ sở đều tự phát, hoạt động không phép.
Nguồn nguyên liệu chủ yếu là bao bì xi măng và các loại bao bì sản phẩm được thu gom từ nhiều địa phương. Sau khi tập kết, bao bì được đưa vào máy giặt, tách phần nhựa để sản xuất hạt nhựa, còn lớp giấy được ép thành bìa tái chế. Quá trình sản xuất phát sinh lượng lớn chất thải.
Theo ghi nhận của phóng viên vào tháng 1/2026, thời điểm các cơ sở còn hoạt động rầm rộ, nước thải từ khâu rửa và ép bao bì được xả trực tiếp ra sông, suối và mương tiêu mà không qua xử lý. Khói từ việc đốt chất thải bốc lên nghi ngút, gây bức xúc cho người dân trong khu vực.
Trao đổi với Người Đưa Tin ngày 9/7, ông Trần Quốc Quảng, Trưởng phòng Kinh tế xã Tân Ninh, cho biết, có 17 cơ sở hoạt động tái chế bao bì trên địa bàn xã, chủ yếu ở các thôn Thái Lai, Thái Yên. Chính quyền đã lập đoàn kiểm tra một loạt đối các cơ sở này.
"Qua kiểm tra, các cơ sở chưa chấp hành nghiêm các quy định của pháp luật về đăng ký kinh doanh, bảo vệ môi trường; tình trạng thu mua, tập kết phế liệu tràn lan, xả thải không qua xử lý, gây ô nhiễm môi trường không khí, nguồn nước, ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống sinh hoạt của người dân xung quanh", đại diện UBND xã Tân Ninh nêu rõ.
Theo ông Quảng, xã đã mời các chủ cơ sở lên làm việc, yêu cầu các hộ rà soát điều kiện về đất đai, môi trường. Cơ sở nào đáp ứng đầy đủ quy định thì được xem xét tiếp tục hoạt động, còn không phải dừng hoặc chuyển đổi ngành nghề. Đến nay, 100% các cơ sở đang dừng hoạt động.
Theo đại diện UBND xã Tân Ninh, cơ quan công an cũng đã phối hợp với chính quyền địa phương rà soát, kiểm tra các cơ sở sản xuất kinh doanh gây ô nhiễm môi trường trên địa bàn.
Ngày 30/6, Công an tỉnh Thanh Hóa đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can về tội Gây ô nhiễm môi trường đối với 3 chủ cơ sở tái chế bao bì trên địa bàn xã.
Cụ thể, khởi tố bị can đối với Lê Đồng Thành (48 tuổi, trú xã Tân Ninh) về tội: Gây ô nhiễm môi trường quy định tại khoản 1 Điều 235 Bộ luật Hình sự. Trong thời gian từ năm 2023 đến năm 2026, Thành đã đầu tư, xây dựng, vận hành cơ sở giặt bao bì trên khu đất nông nghiệp thuộc thôn Cổ Định, xã Tân Ninh.
Quá trình hoạt động cơ sở giặt bao bì không có hồ sơ pháp lý, không có giấy phép môi trường, không có công trình bảo vệ môi trường và xử lý chất thải theo quy định, cơ sở đã đổ trái phép chất thải rắn là bùn thải phát sinh từ quá trình giặt bao bì, chất thải là bao bì nhiễm bẩn chưa được phân loại ra môi trường (khu vực đất trống quanh nhà xưởng) với tổng khối lượng là 147.635 kg.
Khởi tố bị can đối với Trịnh Trọng Dũng (46 tuổi, trú xã Triệu Sơn) về tội: Gây ô nhiễm môi trường quy định tại khoản 1 Điều 235 Bộ luật Hình sự. Từ năm 2023 đến tháng 5/2026, trong quá trình vận hành xưởng sản xuất hạt nhựa tại thôn Cổ Định, Trịnh Trọng Dũng đã thải trái phép ra môi trường 192.125kg chất thải rắn thông thường.
Khởi tố bị can đối với Nguyễn Văn Trình (47 tuổi, trú phường Võ Cường, tỉnh Bắc Ninh) về tội: Gây ô nhiễm môi trường quy định tại khoản 2 Điều 235 Bộ luật Hình sự.
Từ năm 2022 đến tháng 5/2026, Nguyễn Văn Trình có hành vi đổ chất thải rắn thông thường trái phép ra môi trường với khối lượng 240.286kg.
Việc kiểm tra, xử lý các cơ sở tại Tân Ninh cũng nằm trong lộ trình xử lý các điểm sản xuất gây ô nhiễm trên địa bàn tỉnh.
Theo Đề án di dời các cơ sở sản xuất gây ô nhiễm môi trường ra khỏi đô thị, khu dân cư đến năm 2030 được UBND tỉnh Thanh Hóa phê duyệt tháng 4/2024, giai đoạn 2026-2027 tỉnh sẽ di dời, chuyển đổi ngành nghề hoặc buộc dừng hoạt động đối với các cơ sở gây ô nhiễm, không phù hợp quy hoạch hoặc không đáp ứng khoảng cách an toàn môi trường.
Thống kê của tỉnh cho thấy hiện có 826 cơ sở sản xuất, kinh doanh nằm trong khu dân cư hoặc đô thị có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường. Trong đó có 75 cơ sở thu mua phế liệu, tái chế và giặt bao bì.
Khi mới lên 14 tuổi, Erik Weihenmayer, người Mỹ, hoàn toàn không còn nhìn thấy ánh sáng. Căn bệnh thoái hóa võng mạc bẩm sinh (juvenile retinoschisis) âm thầm cướp đi thị lực của cậu bé từng yêu thích các hoạt động ngoài trời, khiến nhiều người tin rằng cuộc đời Erik sẽ chỉ gắn với bóng tối và sự phụ thuộc.
Nhưng điều xảy ra sau đó lại hoàn toàn trái ngược với mọi dự đoán. Thay vì chấp nhận giới hạn của bản thân, Erik lựa chọn đối mặt với nó. Ông học cách định hướng bằng thính giác, xúc giác và trí nhớ, rồi dần tìm đến bộ môn leo núi – một môn thể thao mà ngay cả những người có đôi mắt khỏe mạnh cũng phải cân nhắc trước khi tham gia.
Những ngày đầu, Erik gặp vô vàn khó khăn. Không thể quan sát địa hình, ông phải dùng hai bàn tay để cảm nhận từng khe đá, từng điểm bám. Mỗi bước đi đều dựa vào hướng dẫn bằng giọng nói của đồng đội hoặc tiếng chuông nhỏ gắn trên ba lô của người đi trước. Trong những đoạn leo dốc hiểm trở, chỉ cần một sai sót nhỏ cũng có thể phải trả giá bằng tính mạng.
Dù vậy, Erik chưa bao giờ xem việc mù lòa là lý do để từ bỏ ước mơ. Sau nhiều năm khổ luyện, ngày 25/5/2001, Erik Weihenmayer chính thức ghi tên mình vào lịch sử khi trở thành người mù đầu tiên trên thế giới chinh phục thành công đỉnh Everest, nóc nhà thế giới cao 8.849 m.
Để chạm tay vào đỉnh núi cao nhất hành tinh, Erik cùng đồng đội phải vượt qua những vách băng dựng đứng, khe nứt sâu hàng chục mét, nhiệt độ xuống âm hàng chục độ C và bầu không khí loãng chỉ còn khoảng một phần ba lượng oxy so với mực nước biển.
Trong hành trình ấy, ông không nhìn thấy bầu trời, không nhìn thấy những cột mốc phía trước hay khung cảnh hùng vĩ của dãy Himalaya. Thứ dẫn đường cho Erik là âm thanh từ đồng đội, cảm giác dưới đôi tay và niềm tin mãnh liệt rằng giới hạn lớn nhất nằm trong suy nghĩ của con người.
Kỳ tích trên Everest mới chỉ là điểm khởi đầu. Không dừng lại ở đó, Erik tiếp tục thực hiện mục tiêu mà rất ít nhà leo núi trên thế giới hoàn thành: chinh phục Seven Summits – 7 đỉnh núi cao nhất trên 7 châu lục. Với thành tích này, ông trở thành người mù đầu tiên hoàn tất thử thách được xem là biểu tượng của giới leo núi chuyên nghiệp.
Erik cũng nhiều lần khiến giới chuyên môn kinh ngạc khi tham gia những hành trình mạo hiểm khác. Ông vượt qua vách đá granite El Capitan nổi tiếng tại Công viên quốc gia Yosemite (Mỹ), chinh phục các thác băng dựng đứng và chèo thuyền vượt dòng sông dữ ở khu vực Grand Canyon.
Trong các chuyến leo băng, Erik không thể quan sát màu sắc hay độ dày của lớp băng như những người khác. Thay vào đó, ông dùng chiếc rìu leo núi gõ vào bề mặt để lắng nghe âm thanh vọng lại, từ đó đánh giá vị trí nào đủ chắc chắn để tiếp tục di chuyển. Khả năng cảm nhận đặc biệt này khiến nhiều người không khỏi kinh ngạc.
Không chỉ nổi tiếng với các kỷ lục, Erik còn dành phần lớn thời gian để truyền cảm hứng cho cộng đồng người khuyết tật. Ông đồng sáng lập tổ chức No Barriers, giúp những người gặp khó khăn về thể chất hoặc tinh thần vượt qua rào cản để theo đuổi mục tiêu của mình.
Theo Erik, điều đáng sợ nhất không phải là mất đi thị lực mà là đánh mất niềm tin vào bản thân.
Ông từng chia sẻ: "Điều bên trong bạn luôn mạnh mẽ hơn những trở ngại phía trước." Câu nói ấy đã trở thành phương châm sống của hàng triệu người trên thế giới.
Năm 2025, Guinness World Records đã vinh danh Erik Weihenmayer là một trong những GWR ICON – biểu tượng truyền cảm hứng toàn cầu. Đây là sự ghi nhận không chỉ dành cho những kỷ lục thể thao mà còn cho tinh thần vượt lên nghịch cảnh và khát vọng phá bỏ mọi giới hạn của con người.
Hơn hai thập kỷ sau ngày đứng trên đỉnh Everest, Erik Weihenmayer vẫn tiếp tục tham gia các chuyến thám hiểm, diễn thuyết và truyền động lực. Câu chuyện của ông là minh chứng rằng khi ý chí đủ lớn, bóng tối không thể ngăn cản con người chạm tới những đỉnh cao tưởng chừng không thể.
Từ một cậu bé mất đi ánh sáng của đôi mắt, Erik đã trở thành biểu tượng của nghị lực sống, chứng minh rằng đôi khi, chính những người không nhìn thấy thế giới lại là những người giúp cả thế giới nhìn rõ hơn sức mạnh phi thường của con người.