Phòng Quản lý xuất nhập cảnh Công an TP Hải Phòng vừa phối hợp với Văn phòng Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Hà Tĩnh bắt giữ Phạm Ngọc Anh (SN 1987, trú tại thôn Nhan Bầu, xã Hà Đông, TP Hải Phòng), người liên quan vụ án lừa đảo chiếm đoạt tài sản đang được điều tra.
Trước đó, Văn phòng Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Hà Tĩnh xác minh tin báo về tội phạm có dấu hiệu lừa đảo chiếm đoạt tài sản xảy ra trên phạm vi toàn quốc. Quá trình điều tra xác định Phạm Ngọc Anh có liên quan trực tiếp đến vụ việc.
Qua công tác nghiệp vụ, lực lượng chức năng phát hiện Phạm Ngọc Anh mua vé trên chuyến bay VJ282 từ TPHCM đi Hải Phòng, dự kiến hạ cánh tại Cảng hàng không quốc tế Cát Bi lúc 19h35 ngày 6/7. Công an tỉnh Hà Tĩnh đã đề nghị Phòng Quản lý xuất nhập cảnh Công an TP Hải Phòng phối hợp triển khai phương án bắt giữ đối tượng.
Tiếp nhận thông tin, lãnh đạo Phòng Quản lý xuất nhập cảnh chỉ đạo Đội An ninh hàng không xây dựng phương án nghiệp vụ, bố trí lực lượng và phương tiện để tiếp cận, khống chế đối tượng ngay khi máy bay hạ cánh.
Đến khoảng 20h cùng ngày, Đội An ninh hàng không đã khống chế thành công Phạm Ngọc Anh tại sân bay Cát Bi và bàn giao cho Văn phòng Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Hà Tĩnh để tiếp tục xử lý theo quy định pháp luật.
Tin Gốc: Dân Trí
Pháp Luật
Sắp xét xử vụ án tại Bạch Mai, Việt Đức cơ sở 2: Từ luật ngầm 5% đến phi vụ "chạy án" 2 triệu USD

Ngày 20/5 tới, TAND Tp.Hà Nội sẽ mở phiên tòa sơ thẩm xét xử vụ án sai phạm xảy ra tại dự án xây dựng cơ sở 2 Bệnh viện Bạch Mai và cơ sở 2 Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức. Dự kiến phiên tòa diễn ra trong 6 ngày.
Cựu Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thị Kim Tiến bị đưa ra xét xử về tội Vi phạm quy định về quản lý, sử dụng tài sản Nhà nước gây thất thoát, lãng phí.
6 người khác bị truy tố cùng tội danh trên gồm: Nguyễn Kim Trung (SN 1960), cựu Phó giám đốc Ban Quản lý dự án y tế trọng điểm, cựu Phó vụ trưởng Vụ Trang thiết bị và công trình y tế, Bộ Y tế; Trần Văn Sinh (SN 1974), cựu Phó giám đốc Ban Quản lý dự án chuyên ngành Xây dựng công trình y tế, Bộ Y tế;
Đào Xuân Sinh (SN 1976), cựu Giám đốc Công ty CP Tư vấn đầu tư và Xây dựng SHT; Nguyễn Doãn Tú (SN 1963), cựu Phó vụ trưởng Vụ Trang thiết bị; Lê Văn Cư (SN 1963), cựu Phó viện trưởng Viện Kinh tế xây dựng, Bộ Xây dựng; Hoàng Xuân Hiệp (SN 1978), Phó viện trưởng Viện Kinh tế xây dựng.
2 bị cáo hầu tòa về 2 tội danh là Vi phạm quy định về quản lý, sử dụng tài sản Nhà nước gây thất thoát, lãng phí và Nhận hối lộ gồm: Nguyễn Chiến Thắng (SN 1957), cựu Giám đốc Ban Quản lý dự án y tế trọng điểm, Bộ Y tế và Nguyễn Hữu Tuấn (SN 1970), cựu Giám đốc Ban Quản lý dự án chuyên ngành Xây dựng công trình y tế, kiêm phụ trách quản lý điều hành Ban Quản lý dự án y tế trọng điểm, Bộ Y tế.
Có một người bị cáo buộc phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản là Lê Thanh Thiêm (SN 1968), cựu Giám đốc Công ty TNHH Sao Nam Sông Hồng.
Theo truy tố, các bị cáo trong vụ án có 3 sai phạm chính, liên quan các dự án xây dựng bệnh viện Bạch Mai, Việt Đức sơ sở 2.
Chuỗi sai phạm khiến 2 bệnh viện "đắp chiếu" suốt nhiều năm, thất thoát hơn 800 tỷ đồng
Dự án cơ sở 2 của Bệnh viện Bạch Mai và Bệnh viện Việt Đức được Bộ Y tế phê duyệt năm 2014 với tổng mức đầu tư gần 10.000 tỷ đồng, trong đó vốn ngân sách Nhà nước là 9.000 tỷ đồng, quy mô mỗi dự án 1.000 giường bệnh.
Cáo trạng xác định, quá trình thực hiện 2 dự án nêu trên, Ban Quản lý dự án y tế trọng điểm đã phê duyệt thuê tư vấn nước ngoài lập dự án đầu tư khi chưa làm rõ về khả năng đáp ứng của đơn vị tư vấn trong nước; không chứng minh được tính cần thiết phải thuê tư vấn nước ngoài; cố ý chỉ định thầu; không tổ chức lập, thẩm định chi phí thuê tư vấn nước ngoài; không tổ chức xác định dự toán gói thầu thuê tư vấn nước ngoài…
Cạnh đó là việc phân chia các gói thầu không hợp lý, không căn cứ vào tính chất kỹ thuật, trình tự thực hiện và tính đồng bộ của dự án, dẫn đến mất tính tổng thể, đồng bộ, gây ra nhiều vướng mắc.
Các hợp đồng xây dựng không có khối lượng chi tiết, không có dự toán kèm theo; không có thỏa thuận cụ thể, chi tiết về các yêu cầu kỹ thuật (cấu hình, xuất xứ...), cách thức đo đếm khối lượng, số lượng để làm cơ sở nghiệm thu, thanh toán và điều chỉnh giá hợp đồng...
Đặc biệt, mặc dù công trình, hạng mục công trình chưa đủ điều kiện để thi công nhưng chủ đầu tư và nhà thầu đã tiến hành khởi công. Một số hạng mục thi công trước khi có thiết kế bản vẽ thi công được phê duyệt, dẫn đến công tác quản lý chất lượng trong quá trình thi công gặp khó khăn.
Chuỗi sai phạm trên khiến 2 dự án phải dừng thi công từ tháng 1/2021 đến hết tháng 12/2024, bị đình trệ, kéo dài, không đạt được tiến độ. Hậu quả gây thất thoát, lãng phí hơn 800 tỷ đồng.
Luật ngầm 5%
Đáng chú ý, trong vụ án này, cựu Giám đốc Ban Quản lý dự án y tế trọng điểm Nguyễn Chiến Thắng còn "ngã giá" trắng trợn, yêu cầu các nhà thầu phải chi 5% số tiền được tạm ứng, thanh toán để được giúp đỡ, tạo điều kiện, không gây khó dễ.
Theo đó, tổng số tiền bị cáo Nguyễn Chiến Thắng nhận là hơn 88,4 tỷ đồng (trong đó hơn 51,7 tỷ đồng được kết luận điều tra, truy tố trong vụ án này, còn lại hơn 36,7 tỷ đồng nhận từ các nhà thầu là doanh nghiệp thuộc Bộ Quốc phòng, Cơ quan điều tra Bộ Công an không điều tra, kết luận mà chuyển thông tin đến Cơ quan điều tra hình sự Bộ Quốc phòng để xử lý theo thẩm quyền).
Bị cáo Nguyễn Hữu Tuấn cũng được xác định với động cơ vụ lợi, mặc dù không trực tiếp thỏa thuận, nhưng sau khi được giao làm Phó Trưởng ban phụ trách và sau là Trưởng ban Ban Y tế trọng điểm, Nguyễn Hữu Tuấn vẫn tiếp tục vận hành cơ chế nhận tiền của các nhà thầu do Nguyễn Chiến Thắng đã đặt ra trước đó và nhận tổng số tiền hơn 12,1 tỷ đồng (trong đó có 7,67 tỷ đồng được kết luận điều tra, truy tố trong vụ án này, còn 4,5 tỷ đồng nhận từ các nhà thầu là doanh nghiệp thuộc Bộ Quốc phòng).
Sau khi Nguyễn Chiến Thắng nghỉ hưu, Nguyễn Hữu Tuấn lên thay, thông lệ này vẫn được duy trì, các nhà thầu tiếp tục đưa tiền cho Nguyễn Hữu Tuấn.
Cáo trạng cũng nêu rõ, đối với 10 cá nhân đại diện cho các nhà thầu tham gia đấu thầu và trúng thầu các gói thầu của 2 Dự án, có hành vi đưa hối lộ cho Nguyễn Chiến Thắng và Nguyễn Hữu Tuấn nhưng 10 cá nhân này đã nhận thức được sai phạm và chủ động làm đơn tố giác hành vi phạm tội của Nguyễn Chiến Thắng và Nguyễn Hữu Tuấn, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tích cực hợp tác với cơ quan điều tra làm rõ bản chất vụ án.
Quá trình điều tra vụ án, Cơ quan CSĐT Bộ Công an thu thập thông tin, tài liệu liên quan đến các nhà thầu là các doanh nghiệp thuộc Bộ Quốc phòng (gồm Tổng công ty 36, Tổng công ty 319, Tổng công ty Thành An và Công ty cổ phần Armephaco) có hành vi đưa tiền cho Nguyễn Chiến Thắng và Nguyễn Hữu Tuấn. Cơ quan CSĐT Bộ Công an đã có quyết định tách hành vi, tài liệu liên quan đến các nhà thầu này, chuyển đến Cơ quan điều tra hình sự Bộ Quốc phòng điều tra, xử lý thẩm quyền.
Bà Nguyễn Thị Kim Tiến khai đã nhận 7,5 tỷ đồng
Theo cáo trạng, quá trình điều tra, ông Thắng thừa nhận việc thỏa thuận và nhận tiền từ các nhà thầu. Ông Thắng khai sau khi nhận 88,4 tỷ đồng từ các nhà thầu, đã chi cho bà Nguyễn Thị Kim Tiến, khi đó là Bộ trưởng Bộ Y tế, 12,9 tỷ đồng và 100.000 USD.
Ông Thắng khai chi cho Nguyễn Hữu Tuấn 3,47 tỷ đồng, đưa cho Trần Văn Sinh, cựu Trưởng Phòng kỹ thuật dự toán Ban Quản lý dự án y tế trọng điểm, 2,97 tỷ đồng.
Theo cáo trạng, ông Thắng đã đưa 2 triệu USD tương đương hơn 46 tỷ đồng cho Lê Thanh Thiêm, Giám đốc Công ty TNHH Sao Nam Sông Hồng.
Ông Thắng còn khai chi chúc Tết lãnh đạo Bộ Y tế 500 triệu đồng, chi cho một số cá nhân tại Ban Quản lý dự án y tế trọng điểm 5,5 tỷ đồng, chi cho các cá nhân tại một số bộ ngành tổng cộng 2,4 tỷ đồng...
Còn ông Nguyễn Hữu Tuấn khai sau khi nhận 12,17 tỷ đồng từ 3 nhà thầu, đã sử dụng chi cho cựu Bộ trưởng Nguyễn Thị Kim Tiến 5 tỷ đồng. Chi chung cho các hoạt động của Ban Quản lý dự án y tế trọng điểm gần 6 tỷ đồng và sử dụng cá nhân hơn 1,2 tỷ đồng. Ông cũng thừa nhận nhiều lần được Nguyễn Chiến Thắng đưa tổng số tiền 2,47 tỷ đồng.
Tại cơ quan điều tra, bà Nguyễn Thị Kim Tiến thừa nhận nhiều lần được ông Thắng đưa tiền, tổng số 2,5 tỷ đồng. Cựu Bộ trưởng có một lần nhận từ Nguyễn Hữu Tuấn 5 tỷ đồng. Bà khẳng định không được cấp dưới cho biết về nguồn gốc của số tiền này.
Cơ quan điều tra đã tiến hành đối chất giữa bà Tiến và cấp dưới, các bên giữ nguyên lời khai về số tiền đã đưa và nhận.
Phi vụ "chạy án" 2 triệu USD
Ngày 11/3/2021, Ủy ban Kiểm tra Trung ương ban hành quyết định kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm đối với Ban Cán sự Đảng Bộ Y tế nhiệm kỳ 2016 - 2021. Ngay sau đó, bà Nguyễn Thị Kim Tiến, khi đó là người đứng đầu ngành y tế đã chỉ đạo cấp dưới tìm cách "tiếp cận" đoàn kiểm tra để "nhờ giúp đỡ".
Cụ thể, bà Nguyễn Thị Kim Tiến đề nghị Nguyễn Hữu Tuấn và Lê Thành Công (cựu Kế toán trưởng Ban Y tế trọng điểm) làm việc với Nguyễn Chiến Thắng nhằm tìm đầu mối, thiết lập liên hệ với đoàn kiểm tra của Ủy ban Kiểm tra Trung ương để nhờ hỗ trợ.
Thông qua giới thiệu, Nguyễn Chiến Thắng được kết nối với Lê Thanh Thiêm, Giám đốc Công ty TNHH Sao Nam Sông Hồng, người được cho là có quan hệ rộng. Tại các cuộc gặp, Thiêm khẳng định có thể "lo được việc", nhưng đưa ra điều kiện 2 triệu USD.
Tin tưởng, Nguyễn Chiến Thắng đã chuẩn bị tiền và thực hiện chuyển giao qua 3 lần. Nguồn tiền được xác định là từ khoản tiền các nhà thầu đưa trước đó, chưa sử dụng hết, được Nguyễn Chiến Thắng rút từ tiền gửi tiết kiệm và đổi sang USD tại các cửa hàng vàng.
Theo cáo trạng, trong quá trình điều tra, Lê Thanh Thiêm khai đã chuyển 1,4 triệu USD cho Nguyễn Quốc Hiệp, Ủy viên Ủy ban kiểm tra Trung ương, Trưởng đoàn để "tạo điều kiện".
Tuy nhiên, ông Hiệp bác bỏ hoàn toàn, khẳng định, không nhận tiền, không có bất kỳ sự can thiệp, tác động nào. Đoàn kiểm tra thực hiện đúng quy định, phát hiện dấu hiệu vi phạm và chuyển cơ quan điều tra xử lý.
Cơ quan điều tra đã tiến hành đối chất nhưng các bên giữ nguyên lời khai. Trên cơ sở tài liệu, chứng cứ thu thập được, cơ quan tố tụng kết luận: Không có việc chuyển tiền cho đoàn kiểm tra; Đoàn kiểm tra thực hiện đúng chức trách, nhiệm vụ; Lê Thanh Thiêm đã chiếm đoạt toàn bộ số tiền 2 triệu USD.
Tin Gốc: Người Đưa Tin
Pháp Luật
Cảnh báo thủ đoạn lừa đảo tinh vi, người làm hộ chiếu cảnh giác kẻo mất tiền

Theo Cổng thông tin điện tử Công an Tp.Hải Phòng, hiện nay, Phòng Quản lý Xuất nhập cảnh Công an Tp.Hải Phòng đang thực hiện việc trả hộ chiếu qua đường bưu điện nhằm tạo thuận lợi cho công dân trong quá trình làm thủ tục xuất nhập cảnh.
Tuy nhiên, thời gian gần đây xuất hiện một số thủ đoạn lừa đảo tinh vi liên quan đến hình thức phát trả hộ chiếu này. Các đối tượng lừa đảo thường giả danh nhân viên bưu điện, cán bộ cơ quan công an gọi điện cho công dân, thông báo về việc "hộ chiếu đang được gửi", "hộ chiếu bị lỗi" hoặc "cần xác minh thông tin bổ sung"...
Sau đó, chúng sẽ gửi đường link lạ và hướng dẫn công dân truy cập vào link đã gửi để "kiểm tra tình trạng đơn gửi" hoặc "kiểm tra tình trạng hồ sơ" hoặc "theo dõi quy trình cấp hộ chiếu". Khi công dân bấm vào các đường link này, thiết bị có thể bị cài mã độc, dẫn đến việc bị đánh cắp thông tin cá nhân, mã OTP ngân hàng và chiếm đoạt tài sản trong tài khoản.
Phòng Quản lý Xuất nhập cảnh Công an Tp.Đà Nẵng khuyến cáo người dân tuyệt đối không bấm vào các đường link lạ được gửi qua tin nhắn, email, mạng xã hội... đặc biệt khi được yêu cầu cung cấp thông tin cá nhân hoặc thông tin tài khoản ngân hàng.
Không cung cấp số CMND/CCCD, số hộ chiếu, mã đơn, mã OTP... cho bất kỳ ai qua điện thoại hoặc tin nhắn.
Mọi thông tin về tình trạng xử lý hộ chiếu, công dân có thể tra cứu trực tiếp tại các kênh chính thống của cơ quan công an hoặc bưu điện.
Tin Gốc: Người Đưa Tin

Tôi là công dân Việt Nam, vừa kết hôn với chồng quốc tịch Đức vào đầu năm nay. Hiện chồng tôi làm việc cho một công ty công nghệ tại Singapore.
Gần đây, một doanh nghiệp nước ngoài có văn phòng tại TP HCM mời anh sang Việt Nam làm quản lý dự án theo hợp đồng hai năm và cho biết sẽ hỗ trợ làm thủ tục lao động theo quy định.
Tuy nhiên, tôi tìm hiểu thấy pháp luật có quy định người nước ngoài kết hôn với công dân Việt Nam và cư trú tại Việt Nam được miễn giấy phép lao động. Trong khi đó, doanh nghiệp lại nói vẫn phải làm hồ sơ liên quan đến lao động nước ngoài trước khi chồng tôi có thể làm việc.
Xin luật sư cho biết:
1. Trường hợp chồng tôi sang Việt Nam làm việc sau khi kết hôn với công dân Việt Nam có phải xin giấy phép lao động không?
2. Nếu thuộc diện miễn giấy phép lao động thì doanh nghiệp có còn phải thực hiện thủ tục gì với cơ quan quản lý lao động nước ngoài hay không?
3. Người nước ngoài đã có thẻ tạm trú theo diện kết hôn có được tự do làm việc tại Việt Nam như công dân Việt Nam không?
Luật sư tư vấn
1. Người nước ngoài kết hôn với công dân Việt Nam được miễn giấy phép lao động
Theo khoản 8 Điều 154 Bộ luật Lao động 2019 và Điều 7 Nghị định 152/2020, người nước ngoài kết hôn với công dân Việt Nam và sinh sống tại Việt Nam thuộc trường hợp được miễn giấy phép lao động.
Do đó, trường hợp chồng chị là công dân Đức, đã kết hôn với chị và dự kiến cư trú tại Việt Nam, sẽ không phải xin giấy phép lao động khi làm việc tại đây.
2. Doanh nghiệp vẫn phải làm thủ tục với cơ quan lao động
Dù thuộc diện miễn giấy phép lao động, doanh nghiệp sử dụng lao động nước ngoài vẫn phải thực hiện thủ tục xác nhận người lao động không thuộc diện cấp giấy phép lao động.
Theo khoản 2, 3 Điều 8 Nghị định 152/2020, được sửa đổi bởi Nghị định 70/2023, doanh nghiệp phải đề nghị Bộ Nội vụ hoặc Sở Nội vụ nơi người lao động dự kiến làm việc xác nhận trường hợp miễn giấy phép lao động trước ít nhất 10 ngày kể từ ngày bắt đầu làm việc.
Hồ sơ gồm văn bản đề nghị xác nhận theo mẫu; giấy khám sức khỏe; văn bản chấp thuận nhu cầu sử dụng lao động nước ngoài (nếu thuộc diện phải thực hiện); bản sao hộ chiếu còn giá trị; cùng các giấy tờ chứng minh người lao động thuộc diện miễn giấy phép lao động.
Các giấy tờ do nước ngoài cấp phải được hợp pháp hóa lãnh sự, dịch sang tiếng Việt và chứng thực theo quy định, trừ trường hợp được miễn.
3. Không phải muốn làm việc gì cũng được như công dân Việt Nam
Thẻ tạm trú theo diện kết hôn chỉ xác nhận người nước ngoài cư trú hợp pháp tại Việt Nam và là một trong những điều kiện để được miễn giấy phép lao động.
Tuy nhiên, pháp luật Việt Nam vẫn xem người nước ngoài là nhóm lao động đặc thù, chịu sự quản lý riêng về xuất nhập cảnh, cư trú và sử dụng lao động nước ngoài.
Vì vậy, dù được tạo điều kiện thuận lợi hơn so với lao động nước ngoài thông thường, họ không được tự do làm việc hoàn toàn như công dân Việt Nam. Người lao động vẫn phải ký hợp đồng lao động hợp pháp, khai báo cư trú và tuân thủ các quy định chuyên ngành nếu làm việc trong lĩnh vực có điều kiện. Một số ngành nghề có điều kiện có thể hạn chế người nước ngoài như liên quan đến an ninh, quốc phòng...
Trong một số trường hợp, người lao động nước ngoài thuộc diện miễn giấy phép lao động vẫn phải tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc theo quy định của pháp luật Việt Nam.
Tin Gốc: Vnexpress

