Tại phiên chất vấn Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ TP Hải Phòng của kỳ họp thứ 3 HĐND TP Hải Phòng sáng 28/7, đại biểu HĐND Nguyễn Thị Thủy cho rằng tình trạng chia sẻ, khai thác dữ liệu tại kho dữ liệu dùng chung còn manh mún, cát cứ giữa các ngành, các cấp.
Bà Thủy nêu, theo phản ánh của cử tri và người dân, khi thực hiện thủ tục hành chính, nhiều trường hợp vẫn phải kê khai lặp lại thông tin và xuất trình giấy tờ gốc.
Trả lời nội dung trên, ông Nguyễn Cao Thắng, Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ TP Hải Phòng, cho biết ý kiến của đại biểu phản ánh đúng những vấn đề mà cử tri và nhân dân quan tâm trong quá trình xây dựng, khai thác và sử dụng dữ liệu số của thành phố.
Ông cho biết kho dữ liệu dùng chung của Hải Phòng được đưa vào vận hành từ cuối năm 2024. Đến nay, hệ thống đã tích hợp hơn 700 bộ dữ liệu chuyên ngành với khoảng 6 triệu bản ghi dữ liệu.
Theo ông Thắng, kho dữ liệu bước đầu phát huy hiệu quả trong công tác tổng hợp, phân tích các chỉ số phát triển kinh tế – xã hội, phục vụ quản lý nhà nước cũng như công tác chỉ đạo, điều hành của các sở, ngành và UBND thành phố. Các chỉ số trong báo cáo kinh tế – xã hội định kỳ hằng tháng, quý và năm được tổng hợp, chiết xuất trực tiếp từ kho dữ liệu.
Việc tích hợp dữ liệu từ nhiều ngành, lĩnh vực cũng giúp lãnh đạo thành phố và các đơn vị có thêm công cụ theo dõi, đánh giá tình hình phát triển kinh tế – xã hội và quản lý nhà nước trên cơ sở dữ liệu, thay vì chủ yếu dựa vào báo cáo truyền thống.
Việc tái sử dụng dữ liệu còn phụ thuộc hệ thống cấp bộ
Dù vậy, Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ thừa nhận việc khai thác dữ liệu để phục vụ trực tiếp người dân và doanh nghiệp, nhất là trong giải quyết thủ tục hành chính, vẫn chưa đáp ứng kỳ vọng. Theo ông, nguyên nhân xuất phát từ cả yếu tố khách quan và chủ quan.
Về khách quan, việc tiếp nhận và giải quyết thủ tục hành chính trên địa bàn thành phố hiện được thực hiện thống nhất thông qua các hệ thống phần mềm do các bộ, ngành trung ương xây dựng và quản lý. Cán bộ địa phương được cấp tài khoản và phân quyền sử dụng nhưng không có thẩm quyền điều chỉnh quy trình nghiệp vụ, cấu trúc dữ liệu hay chức năng của các hệ thống này.
Do đó, khả năng tự động tái sử dụng dữ liệu để người dân không phải kê khai hoặc cung cấp lại thông tin phụ thuộc vào mức độ sẵn sàng chia sẻ dữ liệu và khả năng kết nối của các hệ thống cấp bộ.
Ông dẫn ví dụ, một số thủ tục liên quan đến căn cước công dân, giấy phép lái xe, giấy khám sức khỏe hay khai báo thuế điện tử đã cho phép người dân không phải khai báo lại thông tin vì dữ liệu đã được kết nối từ cơ sở dữ liệu quốc gia.
Tuy nhiên, nhiều cơ sở dữ liệu quốc gia và cơ sở dữ liệu chuyên ngành hiện vẫn đang trong quá trình hoàn thiện. Bên cạnh đó, tiêu chuẩn dữ liệu và cơ chế chia sẻ giữa các hệ thống của các bộ, ngành chưa đồng bộ, tạo ra những điểm nghẽn trong quá trình liên thông dữ liệu.
Về phía địa phương, ông Thắng cho rằng nhiều cơ sở dữ liệu chuyên ngành của thành phố chưa được chuẩn hóa và số hóa đầy đủ. Trong khi đó, dữ liệu phục vụ giải quyết thủ tục hành chính là dữ liệu của tổ chức, cá nhân, còn các cơ sở dữ liệu chuyên ngành của thành phố chủ yếu phục vụ công tác quản lý, điều hành và phân tích các chỉ tiêu kinh tế – xã hội nên chưa hỗ trợ trực tiếp người dân khi thực hiện thủ tục hành chính.
Đề xuất chuẩn hóa dữ liệu và mở rộng chứng thực điện tử
Để khắc phục những hạn chế trên, ông Nguyễn Cao Thắng cho biết Chính phủ đã ban hành các nghị quyết về thúc đẩy tạo lập dữ liệu phục vụ chuyển đổi số toàn diện, trong đó giao các bộ, ngành triển khai 12 cơ sở dữ liệu thiết yếu cùng 104 cơ sở dữ liệu dùng chung và chuyên ngành.
Trong thời gian chờ các bộ, ngành triển khai đồng bộ trên phạm vi toàn quốc, Sở Khoa học và Công nghệ đề nghị các sở, ngành và địa phương của thành phố chủ động thực hiện nhiều giải pháp.
Một trong những giải pháp được đề xuất là tăng cường tuyên truyền để người dân sử dụng dịch vụ chứng thực điện tử đối với các giấy tờ cá nhân nhằm tái sử dụng khi thực hiện thủ tục hành chính.
Đối với những cơ sở dữ liệu mà bộ, ngành trung ương chưa triển khai, các đơn vị của thành phố được đề nghị chủ động làm việc với cơ quan quản lý để thống nhất tiêu chuẩn dữ liệu và xây dựng dữ liệu ngay từ sớm. Theo ông Thắng, cách làm này sẽ giúp địa phương sẵn sàng kết nối khi nền tảng dữ liệu dùng chung quốc gia được triển khai.
Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ cũng đề xuất triển khai cơ chế chia sẻ dữ liệu gắn với định danh cá nhân thông qua ứng dụng VNeID hoặc Smart Hải Phòng, giúp người dân khai thác dữ liệu điện tử khi thực hiện thủ tục hành chính mà không phải nộp bản chứng thực giấy.
Bên cạnh đó, Sở sẽ tham mưu UBND TP Hải Phòng công bố các dữ liệu đã được chuẩn hóa và chứng thực điện tử để các cơ quan, đơn vị và doanh nghiệp trên địa bàn có thể tiếp nhận hồ sơ điện tử khi tuyển dụng lao động, giảm yêu cầu nộp bản giấy hoặc bản sao chứng thực.
Ngày 27.7, Sở Khoa học và Công nghệ thành phố Cần Thơ tổ chức hội thảo khoa học "Giải pháp thúc đẩy nâng cao chỉ số đổi mới sáng tạo (PII) thành phố Cần Thơ". Tham gia hội thảo có đại diện Bộ Khoa học và Công nghệ, lãnh đạo thành phố Cần Thơ và nhiều nhà khoa học đến từ các trường đại học, viện nghiên cứu trong và ngoài vùng đồng bằng sông Cửu Long…
Bộ chỉ số PII (Provincial Innovation Index) được xây dựng và triển khai từ năm 2023, nhằm cung cấp bức tranh toàn diện về hiện trạng và năng lực đổi mới sáng tạo của từng địa phương.
Không chỉ là công cụ được đánh giá khách quan, tin cậy, PII còn hỗ trợ các cấp chính quyền hoạch định chính sách, phát huy lợi thế và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội dựa trên khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Thông tin tại hội thảo, ông Huỳnh Văn Tùng, Trưởng đại diện Văn phòng Bộ Khoa học và Công nghệ tại miền Nam, đánh giá Cần Thơ đã tận dụng tốt lợi thế là trung tâm vùng đồng bằng sông Cửu Long để nâng cao chỉ số PII. Năm 2025, thành phố đạt 46,21 điểm, đứng đầu vùng và xếp thứ 10/34 địa phương trên cả nước; nằm trong nhóm dẫn đầu ở các trụ cột về thể chế, tác động, sản phẩm tri thức… Kết quả này cho thấy hiệu quả trong việc xây dựng môi trường đổi mới sáng tạo và sự chuyển hóa kết quả khoa học, công nghệ thành động lực phát triển kinh tế - xã hội của thành phố.
Tuy nhiên, theo PGS-TS Vũ Văn Tích, Phó giám đốc Học viện Chiến lược khoa học và công nghệ (Bộ Khoa học và Công nghệ), Cần Thơ vẫn đang tồn tại nhiều điểm yếu gây cản trở sự tăng trưởng chỉ số PII. Đó là đầu tư cho khoa học và công nghệ thấp, thiếu doanh nghiệp dẫn dắt, liên kết vùng còn yếu, nhân lực nghiên cứu và đầu ra đổi mới sáng tạo chưa tương xứng với lợi thế vốn có.
Theo đó, có 3 "nút thắt" cốt lõi đang khiến chỉ số PII khó thể bứt phá hơn. Cụ thể như hiện tại Cần Thơ vẫn duy trì mô hình đổi mới sáng tạo thiên về quản lý nhà nước, chưa kiến tạo được một hệ sinh thái đủ khả năng thu hút nhiều nguồn lực tham gia. Nguồn lực khoa học và công nghệ còn phân tán do được đầu tư kinh phí ít, dự án nhỏ và thiếu nhiệm vụ lớn. Nguyên nhân thứ ba là liên kết 5 nhà (gồm Nhà nước, nhà khoa học, nhà doanh nghiệp, nhà đầu tư, nhà nông) còn lỏng lẻo.
Trước thực trạng trên, PGS-TS Vũ Văn Tích gợi ý cho Cần Thơ 10 giải pháp để nâng cao chỉ số PII. Trong đó, vị chuyên gia này đặc biệt nhấn mạnh tính cấp thiết ở việc thành lập trung tâm điều phối đổi mới sáng tạo cấp vùng, lập nguồn quỹ, xây dựng hệ sinh thái AI, phát triển doanh nghiệp, hình thành "tam giác tri thức" (đại học đổi mới sáng tạo với các viện nghiên cứu và doanh nghiệp), đổi mới hệ thống KPI quản trị theo PII…
Ông cho rằng, nếu triển khai đồng bộ các giải pháp, Cần Thơ hoàn toàn có khả năng lọt vào top 5 địa phương dẫn đầu PII của Việt Nam trong giai đoạn tới năm 2030; đồng thời, khẳng định được vai trò hạt nhân lan tỏa năng lực đổi mới sáng tạo cho vùng đồng bằng sông Cửu Long.
Ngày 12.4, tin từ Thanh tra thành phố Cần Thơ cho biết, cơ quan này vừa có kết luận thanh tra việc chấp hành các quy định của pháp luật về bình xét các hộ dân được mua nền trả chậm trong tuyến dân cư vượt lũ Cái Côn trên địa bàn thành phố Ngã Bảy, tỉnh Hậu Giang cũ (nay là phường Đại Thành, thành phố Cần Thơ).
Dự án tuyến dân cư vượt lũ Cái Côn được Chủ tịch UBND tỉnh Hậu Giang (cũ) phê duyệt năm 2008, triển khai trên diện tích hơn 205.000 m2, tại 2 xã Đại Thành và Tân Thành của thành phố Ngã Bảy. Tổng mức đầu tư của dự án hơn 60,7 tỉ đồng, mục tiêu là đáp ứng nhu cầu di dời, ổn định đời sống cho các hộ dân trong khu vực sạt lở nguy hiểm.
Dự án khởi công năm 2009, hoàn thành vào tháng 4.2011. Sau đó, UBND thành phố Ngã Bảy (cũ) tiến hành bình xét 22 đợt. Tổng số nền được giao cho các đối tượng ưu tiên là 860 nền, hiện đã giao 835 nền. Tổng số tiền phải thu từ 835 nền hơn 21,6 tỉ đồng. Đến nay, địa phương thu được 75 nền nộp ngân sách nhà nước (hơn 1,8 tỉ đồng), còn 760 nền trả chậm chưa thu (hơn 19,7 tỉ đồng).
Thanh tra Cần Thơ đã tiến hành kiểm tra 835 hồ sơ đề nghị bình xét các hộ dân được mua nền trả chậm trong tuyến dân cư vượt lũ Cái Côn. Kết quả, có 442 hồ sơ bình xét sai đối tượng ưu tiên và thứ tự ưu tiên 4.
Theo đó, có 340 hồ sơ đánh sai thứ tự ưu tiên 4. Theo hướng dẫn của Sở Xây dựng tỉnh Hậu Giang (cũ), đối tượng ưu tiên 4 chỉ dành cho những trường hợp thuộc giai đoạn 1 nhưng chưa được bố trí nền. Tuy nhiên, thực tế dự án tuyến dân cư vượt lũ Cái Côn không có giai đoạn 1. Việc hội đồng bình xét áp dụng sai quy định này đã làm đảo lộn thứ tự, tước đi cơ hội của những người xứng đáng được hưởng ưu tiên 1, 2 và 3 trước đó.
Bên cạnh đó, UBND thành phố Ngã Bảy (cũ) đã bình xét sai, dẫn đến việc ban hành quyết định giao nền không đúng đối tượng ưu tiên cho 102 trường hợp. Trong danh sách này có 23 hồ sơ là hộ nghèo, khó khăn về nhà ở, gia đình chính sách, cựu chiến binh; 8 hồ sơ là thành viên hộ hoặc tách hộ cùng thời điểm bình xét; 27 hồ sơ là cán bộ, công chức, viên chức; 44 hồ sơ là nhà ở không nằm ven sông, kênh, rạch, trên ruộng, ngập úng.
Lý giải về những sai lệch này, cơ quan thanh tra cho biết, hội đồng bình xét các cấp của thành phố Ngã Bảy (cũ) đã không nắm vững các quy định pháp luật. Bên cạnh đó, một nguyên nhân khách quan được đưa ra là sau khi dự án hoàn thành, nhiều đối tượng thuộc diện ưu tiên thật sự lại từ chối vào ở do khu dân cư thiếu sinh kế bền vững.
Để lấp đầy dự án, hội đồng bình xét đã tự ý mở rộng đối tượng khi chưa được sự chấp thuận của Ban chỉ đạo và UBND tỉnh Hậu Giang (cũ). Hành vi tự "xé rào" này không chỉ gây mất công bằng xã hội, mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến uy tín của chính quyền địa phương trong việc thực hiện các chính sách an sinh xã hội.
Từ cơ sở này, Thanh tra thành phố Cần Thơ kiến nghị Chủ tịch UBND thành phố chỉ đạo xử lý, kiểm điểm làm rõ trách nhiệm đối với hội đồng bình xét các xã, phường và thành phố Ngã Bảy (cũ) có liên quan đến tuyến dân cư vượt lũ Cái Côn.
Đại thủy nông Bắc Hưng Hải - hệ thống từng cung cấp nước tưới cho 130.000 ha đất nông nghiệp vùng đồng bằng Bắc Bộ, đang bị ô nhiễm nghiêm trọng, ảnh hưởng đến hàng chục triệu dân. Phải làm gì để hồi sinh hệ thống là câu hỏi khiến cả nhà quản lý và chuyên gia sông ngòi phải tính toán thấu đáo.
Tổng điều tra và đánh giá lại toàn bộ hệ thống
Bắc Hưng Hải gồm hơn 230 km kênh trục chính, hàng nghìn km kênh mương nội đồng cùng khoảng 1.900 cống, trạm bơm. Với mạng lưới quy mô lớn, trải dài qua Hà Nội, Hưng Yên, Bắc Ninh và Hải Phòng, PGS.TS Đào Trọng Tứ, Trưởng ban điều hành Mạng lưới sông ngòi Việt Nam, cho rằng muốn cải tạo phải bắt đầu từ tổng điều tra và đánh giá lại toàn bộ hệ thống.
Bắc Hưng Hải được thiết kế trong bối cảnh cơ cấu sử dụng đất, nhu cầu nước tưới rất khác so với hiện nay. Nhiều năm qua, một phần lớn diện tích đất nông nghiệp trong lưu vực đã được chuyển đổi sang đô thị, khu công nghiệp hoặc các loại hình sử dụng đất khác. Điều này khiến nhu cầu cấp nước và tiêu thoát nước của hệ thống thay đổi đáng kể so với thiết kế chỉ phục vụ tưới tiêu ban đầu.
"Cần xem lại năng lực tưới tiêu thực tế của hệ thống hiện nay đã thay đổi như thế nào, diện tích đất nông nghiệp còn bao nhiêu và nhu cầu cấp nước ra sao. Trên cơ sở đó mới có thể tính toán phương án cải tạo phù hợp", ông Tứ nói và nhận định việc đánh giá lại toàn bộ hiện trạng hệ thống là bước quan trọng để xác định quy mô đầu tư hợp lý, bảo đảm hiệu quả lâu dài của dự án cải tạo.
Cấp bách kiểm soát nguồn thải
Sau bước đánh giá toàn bộ hệ thống Bắc Hưng Hải, ông Nguyễn Tùng Phong, Cục trưởng Quản lý và Xây dựng công trình thủy lợi, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, cho rằng phải cấp bách kiểm soát nguồn thải. Cùng với quá trình đô thị hóa và phát triển công nghiệp nhanh của khu vực, lượng nước thải từ các khu công nghiệp, làng nghề và khu dân cư đổ vào Bắc Hưng Hải ngày càng tăng, tạo áp lực lớn đối với chất lượng nước.
Theo tính toán, hiện tổng lượng nước thải xả vào Bắc Hưng Hải khoảng 538.838 m3 mỗi ngày đêm, phân bố rộng khắp trên toàn lưu vực. Trong đó, Hưng Yên chiếm tỷ lệ lớn nhất 31%, tiếp đến là Hải Phòng 21%, Hà Nội 13%, Bắc Ninh hơn 9%. Nhiều nguồn xả thải vẫn chưa được kiểm soát hoặc xử lý đạt yêu cầu khiến nhiều đoạn kênh rơi vào tình trạng ô nhiễm kéo dài.
Cũng cho rằng phải kiểm soát nguồn thải, ông Lương Xuân Chính, Phó giám đốc Công ty TNHH MTV Khai thác công trình thủy lợi Bắc Hưng Hải, phân tích khả năng tự làm sạch của kênh chỉ tồn tại trong giới hạn nhất định. Khi lượng nước thải vượt quá khả năng chịu tải, chất lượng nước sẽ suy giảm nhanh.
"Bổ sung nguồn nước chỉ giúp pha loãng ô nhiễm trong một số thời điểm, còn muốn xử lý tận gốc thì phải kiểm soát được nguồn thải", ông Chính nói.
Tuy nhiên, kiểm soát nguồn thải trên mạng lưới như Bắc Hưng Hải là bài toán rất tốn kém, có thể vượt quá nguồn lực của địa phương, theo GS.TS Trần Đức Hạ, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Cấp thoát nước và Môi trường. Bởi chi phí xây dựng và vận hành các nhà máy xử lý nước thải đạt tiêu chuẩn cao rất lớn, trong khi nhiều địa phương chưa hoàn thiện hệ thống thu gom nước thải đô thị.
"Cần kết hợp nhiều biện pháp, từ kiểm soát nguồn thải, điều tiết dòng chảy đến tận dụng khả năng tự làm sạch của hệ thống sông kênh", ông Hạ đề xuất.
Phối hợp liên tỉnh
So sánh với việc cải tạo sông Tô Lịch, PGS.TS Đào Trọng Tứ cho rằng bài toán của Bắc Hưng Hải phức tạp hơn nhiều. Tô Lịch nằm hoàn toàn trong phạm vi Hà Nội, hệ thống Bắc Hưng Hải lại trải dài qua nhiều tỉnh với hàng loạt nguồn thải. Nếu mỗi địa phương làm một kiểu, không có cơ chế điều phối thống nhất thì rất khó đảm bảo các hạng mục cải tạo được triển khai đồng bộ và phát huy hiệu quả.
TS Trần Đức Hạ cũng cho rằng thách thức lớn nhất hiện nay là làm sao thiết lập được cơ chế quản lý thống nhất cho toàn hệ thống Bắc Hưng Hải. Nếu không có cơ chế điều phối đủ mạnh ở cấp vùng, việc xử lý ô nhiễm hay cải tạo hạ tầng sẽ khó đạt hiệu quả lâu dài.
Bởi Bắc Hưng Hải không chỉ là công trình thủy lợi phục vụ nông nghiệp như trước đây. Nó đang phải gánh thêm nhiều chức năng mới như tiêu thoát nước cho đô thị, khu dân cư và khu công nghiệp; tiếp nhận nước thải và là khung sinh thái cảnh quan cho khu vực.
"Cần có cơ quan đầu mối đủ thẩm quyền để điều phối chung toàn bộ hệ thống, từ đầu tư hạ tầng đến kiểm soát nguồn thải", ông Hạ kiến nghị.
Chờ đề án cải tạo quy mô lớn
Bộ Nông nghiệp và Môi trường đang xây dựng đề án xử lý ô nhiễm và phát triển tổng thể hệ thống Bắc Hưng Hải, mục tiêu từng bước phục hồi chất lượng nước, nâng cao năng lực tưới tiêu và điều tiết nước, đồng thời thích ứng với quá trình đô thị hóa nhanh trong lưu vực.
Đề án tập trung vào ba nhóm giải pháp chính. Đầu tiên là nâng cấp và hiện đại hóa hệ thống công trình thủy lợi, cải tạo các công trình đầu mối, nạo vét tuyến kênh trục và kênh nhánh, đồng thời lắp đặt trạm quan trắc tự động để theo dõi chất lượng nước và điều tiết dòng chảy.
Nhóm giải pháp thứ hai là kiểm soát ô nhiễm và quản lý chất lượng nước, thông qua việc xây dựng các công trình kiểm soát nguồn thải tại vị trí xả lớn, từng bước thu gom và xử lý nước thải trước khi đổ vào hệ thống. Cuối cùng là khai thác tổng hợp không gian hai bên kênh, kết hợp chỉnh trang cảnh quan, phát triển các tuyến đô thị sinh thái và dịch vụ.
Bộ Nông nghiệp và Môi trường tính toán tổng kinh phí dự kiến để cải tạo toàn diện hệ thống khoảng 38.500 tỷ đồng. Trong đó, khoảng 6.000 tỷ đồng vốn đầu tư công để hoàn thiện hạng mục chính của hệ thống, gồm 4.505 tỷ nâng cấp hạ tầng thủy lợi, 100 tỷ hiện đại hóa công tác quản lý vận hành và khoảng 1.394 tỷ cải tạo các tuyến kênh trục. Các địa phương tham gia đầu tư nhiều hạng mục liên quan kiểm soát ô nhiễm và chỉnh trang hệ thống kênh.
Với quy mô lớn và lịch sử vận hành hơn nửa thế kỷ, chuyên gia và nhà quản lý cho rằng việc hồi sinh Bắc Hưng Hải không chỉ là chuyện cải tạo hệ thống thủy lợi mà là bài toán quản lý tổng hợp cả lưu vực rộng lớn. Nó đòi hỏi sự chung sức của nhiều địa phương, bộ ngành và người dân trong lưu vực.