Đây là thông tin được chia sẻ tại hội thảo khoa học với chủ đề “Kỷ nguyên mới trong điều trị lupus ban đỏ hệ thống”, do Hội Thấp khớp học Việt Nam phối hợp tổ chức ngày 11 và 12-4 tại Hà Nội và TP.HCM.
Sự kiện có sự tham gia của nhiều chuyên gia đầu ngành trong nước và quốc tế cập nhật các thông tin về nhận thức, chẩn đoán và điều trị căn bệnh tự miễn phức tạp này.
Chia sẻ tại hội thảo, PGS.TS Nguyễn Văn Hùng, Giám đốc Trung tâm Cơ xương khớp, Bệnh viện Bạch Mai, cho hay lupus ban đỏ hệ thống là bệnh tự miễn mạn tính, có thể gây viêm và tổn thương nhiều cơ quan trong cơ thể, từ da, khớp đến thận, thần kinh, tim mạch… với nguy cơ đe dọa tính mạng.
Tỉ lệ mắc bệnh ở phụ nữ cao gấp 9 lần nam giới, đặc biệt trong độ tuổi từ 15 – 45. Bác sĩ Hùng cho hay trong vài thập niên qua, điều trị lupus đã có nhiều tiến bộ, giúp giảm tỉ lệ tử vong và cải thiện thời gian sống. Tuy nhiên, việc quản lý và điều trị bệnh vẫn còn không ít khó khăn.
Một trong những rào cản lớn nhất là triệu chứng của lupus rất đa dạng, không điển hình và dễ nhầm lẫn với các bệnh lý khác. Người bệnh có thể khởi phát với những biểu hiện mơ hồ như mệt mỏi, đau khớp, nổi ban da… nên thường đi khám ở nhiều chuyên khoa khác nhau trước khi được chẩn đoán chính xác.
Hành trình của một bệnh nhân lupus thường kéo dài, đi qua nhiều tuyến khám chữa bệnh trước khi đến được cơ sở chuyên sâu. Trong giai đoạn đầu, bệnh nhân có thể gặp bác sĩ nội khoa, da liễu, thần kinh, tim mạch, hô hấp… và chỉ một tỉ lệ nhỏ (dưới 10%) được chẩn đoán sớm ngay từ đầu.
“Có những trường hợp mất vài tháng, thậm chí vài năm mới được xác định bệnh. Trong khi đó, chỉ cần chậm trễ khoảng 6 tháng, lupus đã có thể gây ra những tổn thương nghiêm trọng, khó hồi phục”, bác sĩ Hùng cho biết.
Bác sĩ Hùng cũng cho hay hiện có tình trạng lạm dụng xét nghiệm miễn dịch trong chẩn đoán lupus. Thực tế, xét nghiệm đóng vai trò quan trọng nhưng không thể là yếu tố duy nhất để kết luận bệnh. Việc chỉ định tràn lan các xét nghiệm kháng thể tự miễn không chỉ gây tốn kém cho người bệnh mà còn tạo áp lực lên hệ thống bảo hiểm y tế.
“Để kiểm soát tốt lupus ban đỏ hệ thống, cần một chiến lược toàn diện, bao gồm chẩn đoán sớm, điều trị hiệu quả, quản lý lâu dài và phối hợp đa chuyên khoa”, bác sĩ Hùng nhận định.
Chia sẻ tại hội thảo, PGS.TS Nguyễn Thị Ngọc Lan, Chủ tịch Hội Thấp khớp học Việt Nam, cho biết lupus là bệnh lý có thể ảnh hưởng đến hầu hết các cơ quan trong cơ thể, làm tăng nguy cơ tử vong nếu không được kiểm soát tốt.
Trước đây, điều trị lupus chủ yếu dựa vào các thuốc ức chế miễn dịch, trong khi lựa chọn điều trị mới còn hạn chế.
“Tuy nhiên mới đây đã có thuốc sinh học đầu tiên được Bộ Y tế Việt Nam phê duyệt trong điều trị lupus ban đỏ hệ thống. Việc bổ sung liệu pháp mới này mở ra cơ hội điều trị theo hướng cá thể hóa, giúp kiểm soát hoạt động bệnh tốt hơn, giảm tổn thương cơ quan và hướng tới mục tiêu lui bệnh.
Điều quan trọng là chúng ta cần cập nhật kiến thức, áp dụng các tiến bộ mới và đặt người bệnh ở trung tâm của quá trình điều trị”, PGS.TS Lan nhấn mạnh.
Theo đó, dự án sẽ được thực hiện ở phường Ninh Thạnh, với quy mô đầu tư xây dựng mới Bệnh viện Đa khoa tỉnh Tây Ninh theo tiêu chuẩn bệnh viện đa khoa hạng I, có môi trường y tế trình độ cao, hiện đại, khắc phục tình trạng quá tải trong khám, chữa bệnh hiện nay.
Đồng thời đây cũng sẽ là đầu mối thực hiện các chức năng của bệnh viện đa khoa cấp tỉnh như đào tạo cán bộ y tế, nghiên cứu khoa học về y học, chỉ đạo tuyến dưới về chuyên môn kỹ thuật, phòng bệnh và hợp tác quốc tế.
Dự án có quy mô 1.000 giường bệnh nội trú, với tổng diện tích sàn xây dựng khoảng 16.920m2 mặt bằng. Diện tích bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, giải phóng mặt bằng khoảng 1,4786ha.
Các trang thiết bị từ Bệnh viện Đa khoa Tây Ninh hiện hữu (phường Tân Ninh) sẽ được di dời sang bệnh viện mới khi xây xong.
Tổng mức đầu tư dự án là hơn 2.372 tỉ đồng, nguồn vốn từ ngân sách tỉnh.
Thời gian thực hiện dự án trong giai đoạn 2026-2032, cụ thể trong năm 2026 chuẩn bị đầu tư và sẽ bố trí thực hiện từ năm 2027.
Theo báo cáo nghiên cứu tiền khả thi, dự án sẽ phân chia thành 3 dự án thành phần. Gồm dự án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, giải phóng mặt bằng khoảng 95,477 tỉ đồng do UBND phường Ninh Thạnh làm chủ đầu tư.
Dự án xây dựng khoảng hơn 2.256 tỉ đồng do Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình dân dụng tỉnh Tây Ninh làm chủ đầu tư. Và dự án di dời trang thiết bị từ Bệnh viện Đa khoa tỉnh Tây Ninh hiện hữu sang bệnh viện mới khoảng 20 tỉ đồng, do Bệnh viện Đa khoa tỉnh Tây Ninh làm chủ đầu tư.
Đeo bao cao su giúp giảm nguy cơ lây bệnh tình dục, nhưng không phải bảo vệ 100%. Bao cao su che phủ dương vật nhưng không che toàn bộ vùng da sinh dục. Nếu tổn thương nằm ở gốc dương vật, bìu, vùng mu, môi lớn..., nam giới vẫn có nguy cơ tiếp xúc và lây.
Một số bệnh lây qua tiếp xúc da – da, không chỉ qua tinh dịch hay dịch tiết. Ví dụ như sùi mào gà vẫn có thể lây nếu nốt sùi ở vùng không được bao che. Herpes sinh dục có thể lây từ vùng da có tổn thương hoặc thậm chí giai đoạn thải virus. Nếu vết loét nằm ngoài vùng được bao che vẫn có nguy cơ mắc giang mai.
Lưu ý oral sex cũng nên dùng bao cao su hoặc màng chắn miệng nếu quan hệ với người chưa rõ tình trạng sức khỏe.
Cách tốt nhất để tránh mắc các bệnh tình dục ở cả hai giới là quan hệ chung thủy, tránh những đối tượng có nguy cơ cao như người có nhiều bạn tình, gái mại dâm. Đặc biệt, khi có biểu hiện bất thường ở vùng sinh dục, bệnh nhân cần đi khám để được điều trị kịp thời.
Theo Nghị định 168/2026, lao động nữ sinh con thứ hai, lao động nam khi vợ sinh con thứ hai đủ điều kiện hưởng chế độ thai sản theo quy định của pháp luật về BHXH và được hưởng chế độ nghỉ thai sản khi sinh con thứ hai quy định tại điểm a khoản 1 điều 14 luật Dân số thuộc các trường hợp sau: lao động nữ khi sinh con mà tại thời điểm sinh có một con đẻ còn sống; lao động nam khi vợ sinh con mà tại thời điểm sinh, người vợ có một con đẻ còn sống.
Thủ tục hưởng chế độ nghỉ thai sản khi sinh con thứ hai thực hiện theo pháp luật về BHXH. Người kê khai chịu trách nhiệm toàn diện trước pháp luật về tính chính xác, trung thực của nội dung kê khai đề nghị hưởng chế độ quy định ở trên.
Nghị định 168/2026 quy định mức hỗ trợ tài chính tối thiểu là 2 triệu đồng/phụ nữ khi sinh con thuộc các trường hợp sau:
a. Phụ nữ dân tộc thiểu số rất ít người.
b. Phụ nữ ở tỉnh, thành phố có mức sinh dưới mức sinh thay thế.
c. Phụ nữ sinh đủ 2 con trước 35 tuổi.
Phụ nữ khi sinh con đồng thời thuộc các trường hợp a, b, c ở trên thì được hưởng một mức hỗ trợ.
Về thủ tục thực hiện hỗ trợ kinh phí khi sinh con, Chủ tịch UBND xã, phường, đặc khu (gọi chung là UBND cấp xã) căn cứ thông tin từ hệ thống liên thông thủ tục đăng ký khai sinh, cơ sở dữ liệu quốc gia dân cư, ứng dụng định danh quốc gia (VNeID) và các cơ sở dữ liệu có sẵn để quyết định hỗ trợ kinh phí và thực hiện chi trả cho phụ nữ sinh con theo quy định trên cùng với thời điểm đăng ký khai sinh.
Các quy định trên có hiệu lực từ ngày 1.7.2026. Riêng trường hợp quy định tại b, c có hiệu lực thi hành từ ngày 1.1.2027. Kinh phí hỗ trợ tài chính do ngân sách địa phương bảo đảm.
Nghị định 168/2026 cũng quy định cụ thể phạm vi, đối tượng khám sàng lọc một số bệnh bẩm sinh trước sinh và sơ sinh.
Theo đó, phụ nữ mang thai được khám và thực hiện các phương pháp sàng lọc trước sinh đủ 4 bệnh cơ bản: hội chứng Down, hội chứng Edwards, hội chứng Patau, bệnh Thalassemia (tan máu bẩm sinh).
Trẻ sơ sinh được khám và thực hiện các phương pháp sàng lọc sơ sinh 5 bệnh cơ bản: suy giáp trạng bẩm sinh, thiếu men G6PD, tăng sản thượng thận bẩm sinh, khiếm thính bẩm sinh, bất thường tim bẩm sinh nặng (gói dịch vụ sàng lọc sơ sinh).
Mức hỗ trợ khám sàng lọc các bệnh bẩm sinh trước sinh được thanh toán theo thực tế nhưng tối đa không vượt quá 900.000 đồng/trường hợp; và các bệnh bẩm sinh sơ sinh được thanh toán theo thực tế nhưng tối đa không vượt quá 600.000 đồng/trường hợp. Trường hợp cơ quan có thẩm quyền phê duyệt giá gói dịch vụ thì thực hiện mức hỗ trợ tài chính theo giá gói dịch vụ được phê duyệt.
Mức hỗ trợ trên được chi trả trực tiếp cho cơ sở y tế thu thập mẫu và cơ sở y tế thực hiện các kỹ thuật sàng lọc.
Lộ trình ưu tiên: Từ ngày 1.7 - 31.12.2026, phụ nữ mang thai và trẻ sơ sinh thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo, bảo trợ xã hội; người dân tại thôn đặc biệt khó khăn, xã thuộc vùng dân tộc thiểu số và miền núi, biên giới, hải đảo được sử dụng miễn phí gói dịch vụ khám sàng lọc và mức hỗ trợ khám sàng lọc từ nguồn ngân sách nhà nước.
Từ ngày 1.1.2027, tất cả phụ nữ mang thai và trẻ sơ sinh được hưởng hỗ trợ gói dịch vụ khám sàng lọc và mức hỗ trợ khám sàng lọc từ ngân sách nhà nước của Chương trình mục tiêu quốc gia về chăm sóc sức khỏe, dân số và phát triển giai đoạn 2026 - 2035, đến khi danh mục các bệnh khám sàng lọc trước sinh và sơ sinh được cấp có thẩm quyền quy định trong danh mục bệnh được hưởng BHYT theo lộ trình tăng mức đóng BHYT và khả năng cân đối quỹ BHYT.