Tôi mua căn chung cư đầu tiên vào đúng lúc lãi suất vay ngân hàng tăng vọt lên khoảng 11% một năm. Khi đó, giá căn hộ tôi mua là hơn 3 tỷ đồng, vợ chồng tôi có sẵn một phần, còn lại vay ngân hàng trong thời hạn 10 năm.
Những tháng đầu tiên thực sự rất áp lực. Cả tiền gốc và lãi, mỗi tháng chúng tôi phải trả khoảng 30 triệu đồng. Với mức thu nhập khi ấy, đó là con số rất lớn. Hai vợ chồng gần như cắt hết những khoản chi không cần thiết: không du lịch, hạn chế ăn ngoài, mua sắm cũng cân nhắc từng chút. Mỗi đồng kiếm được đều ưu tiên cho việc trả nợ.
Có những lúc nhìn bạn bè thoải mái chi tiêu, tôi cũng thèm thuồng. Nhưng rồi nghĩ lại, mình đang “mua” sự ổn định lâu dài, nên lại tự nhủ phải kiên trì. Chúng tôi đặt mục tiêu rõ ràng: cố gắng trả nợ nhanh nhất có thể, không để kéo dài áp lực quá lâu.
May mắn là công việc của cả hai dần ổn định hơn, thu nhập tăng theo thời gian. Sau hai năm đầu tiên, chúng tôi đã trả được khoảng 50% khoản vay – một cột mốc mà chính mình trước đó cũng không nghĩ sẽ đạt được sớm như vậy.
Hết thời gian ưu đãi, lãi suất chuyển sang thả nổi. Áp lực vẫn còn, nhưng lúc này chúng tôi không còn bị động. Kỷ luật tài chính đã thành thói quen, thu nhập cũng tốt hơn, nên kế hoạch trả nợ gần như không bị đảo lộn. Từng khoản nợ giảm dần, cảm giác nhẹ nhõm cũng lớn dần theo thời gian.
Giờ nhìn lại, tôi nghĩ quyết định mua nhà khi lãi suất cao là một “canh bạc” có tính toán. Nếu khi đó chần chừ, giữ tiền mặt trong tay, thì với đà tăng của giá bất động sản những năm sau, có lẽ số tiền vài tỷ ấy cũng khó mua được căn hộ tương tự ở Sài Gòn.
Nhiều người hỏi tôi có hối hận vì đã đánh đổi thanh xuân để “liều” mua nhà không? Câu trả lời là không. Vì điều quan trọng không chỉ là căn nhà, mà là cách chúng tôi đi qua giai đoạn khó khăn đó. Nó buộc vợ chồng tôi phải kỷ luật hơn, thực tế hơn với tài chính, và hiểu rõ mình thực sự cần ưu tiên gì?
Mỗi người một hoàn cảnh, một mức chịu đựng rủi ro khác nhau. Nhưng với tôi, nếu đã tính toán được dòng tiền, sẵn sàng siết chặt chi tiêu và có kế hoạch rõ ràng, thì đôi khi “mua trong lúc khó” lại là cách để không bở lỡ cơ hội. Ít nhất, với căn chung cư đó, chúng tôi không chỉ có một nơi để ở, mà còn có được sự yên tâm cho tương lai.
Mỗi khi Hà Nội bước vào những đợt nắng nóng gay gắt, câu hỏi thường được đặt ra là làm thế nào để thành phố có thêm cây xanh, mặt nước và không gian mở để giảm nhiệt.
Tuy nhiên, có lẽ ít người để ý rằng ngay phía tây thủ đô đang tồn tại một không gian tự nhiên rất lớn mà nếu được quy hoạch hợp lý, có thể đồng thời giải quyết nhiều vấn đề của Hà Nội trong tương lai. Đó là lưu vực sông Đáy.
Trong nhiều năm qua, sông Đáy chủ yếu được nhìn nhận như một tuyến tiêu thoát nước hoặc hành lang phân lũ khi cần thiết. Nhưng khi các dự án đập dâng trên sông Hồng được triển khai, dòng sông này có cơ hội được hồi sinh với nguồn nước ổn định hơn quanh năm.
Đây cũng là thời điểm thích hợp để nhìn sông Đáy theo một cách khác: Là hạ tầng sinh thái chiến lược của vùng Thủ đô Hà Nội.
Hãy hình dung chỉ cách trung tâm Hà Nội khoảng 30-40 phút di chuyển là một vùng đô thị sông nước rộng lớn. Dọc hai bên sông Đáy là những khu dân cư ven nước được xây dựng trên nền đất cao, kết nối với nhau bằng các tuyến đường ven sông, quảng trường công cộng, công viên và ga tàu điện. Xen giữa các khu dân cư là hồ sinh thái, đầm nước, công viên ngập nước và các hành lang cây xanh kéo dài hàng chục kilomet.
Người dân có thể đi bộ dọc bờ sông vào mỗi buổi chiều, đạp xe dưới những hàng cây, chèo thuyền trên các tuyến kênh kết nối với sông Đáy hoặc đơn giản là tận hưởng một không gian thoáng đãng mà ngày càng khó tìm thấy trong nội đô Hà Nội.
Thay vì những khu đô thị bê tông hóa dày đặc, lưu vực sông Đáy có thể phát triển theo mô hình các "Cù lao đô thị sinh thái". Mỗi khu dân cư được xây dựng trên nền đất cao hơn mực nước lũ thiết kế, trong khi phần lớn diện tích xung quanh vẫn được dành cho mặt nước, hồ điều hòa và cây xanh. Cách làm này không chỉ tạo ra môi trường sống hấp dẫn mà còn cho phép thành phố giữ lại không gian cho nước.
Đây chính là điểm quan trọng để Hà Nội có thể tận dụng lưu vực sông Đáy như một vùng trữ nước tự nhiên quy mô lớn. Khi mưa lớn, nước từ hệ thống sông Nhuệ và các khu vực đô thị có thể được điều tiết về đây. Khi mùa khô đến, lượng nước được giữ lại sẽ góp phần duy trì dòng chảy cho toàn bộ lưu vực từ Hà Nội xuống Hà Nam và Ninh Bình.
Hàng trăm triệu mét khối nước khu vực này cũng có thể đóng vai trò như một "Máy điều hòa tự nhiên" cho phía tây thủ đô bằng việc cung cấp độ ẩm cho các luồng gió Tây Nam khô nóng làm hạ bớt nhiệt trước khi thổi tới nội đô. Trong bối cảnh các đợt nắng nóng cực đoan xuất hiện ngày càng nhiều, giá trị của những vùng mặt nước và đất ngập nước sẽ ngày càng trở nên quan trọng.
Điều đáng chú ý là mô hình này không làm mất đi cơ hội phát triển kinh tế. Ngược lại, những khu đô thị ven nước thường có sức hấp dẫn lớn đối với người dân, nhà đầu tư và du khách. Các hoạt động du lịch sinh thái, dịch vụ, thương mại, thể thao dưới nước, nghỉ dưỡng hay nông nghiệp công nghệ cao hoàn toàn có thể phát triển song song với mục tiêu bảo tồn môi trường.
"Bản thân tôi là người theo học ngành kỹ thuật ở đại học Bách khoa Hà Nội. Sau đó, tôi ra nước ngoài du học Thạc sĩ và ở lại làm việc. Nhưng thú thực, tôi hoàn toàn không có đam mê gì với các ngành kỹ thuật, nên cuộc sống của tôi cứ tàng tàng vậy thôi chứ không có gì gọi là bứt phá.
Từ hồi năm hai đại học, tôi đã biết mình không muốn làm kỹ thuật và nói với một giảng viên tôi tin tưởng về ý định muốn bỏ ngang. Khi ấy, cô chỉ nói với tôi một câu: 'Nếu bỏ học, em định làm gì?'. Tôi không trả lời được câu hỏi đó, vì trước giờ cũng chỉ nghe bố mẹ định hướng học ngành này cho dễ xin việc, dễ kiếm tiền, chứ bản thân đã thử cái gì đâu mà biết mình thích làm cái này hay cái kia? Thế nên, cuối cùng tôi lại tiếp tục đi học.
Đến tận bây giờ, tôi vẫn chưa trả lời được câu hỏi đó nên vẫn chấp nhận làm một ông kỹ sư sáng cắp cặp đi, tối cắp cặp về. Đúng là tôi xin việc rất dễ, thu nhập cũng khá, lại an toàn, nhưng chắc chắn tôi không thể bằng được những người có đam mê, sẵn sàng mày mò nghiên cứu trong thời gian rảnh của họ dù không được trả tiền công. Vì xét cho cùng, đây không phải đam mê của tôi.
>> Tôi đầu tư 600 triệu cho con học đại học đáng giá từng đồng
Tôi luôn cảm thấy bản thân mệt mỏi vì phải gồng tám tiếng một ngày để làm công việc mà mình không thích. Nhưng tôi cũng không có can đảm bỏ hết lại những phúc lợi và sự an toàn hiện tại để bước chân vào khoảng không vô định. Vậy nên tôi vẫn không biết mình thích hay giỏi cái gì, chẳng khác nào một vòng tròn luẩn quẩn".
Đó là chia sẻ của độc giả Tentruycap xung quanh câu hỏi "chọn trường đại học theo đam mê hay ưu tiên ngành dễ xin việc, thu nhập cao?". Mỗi mùa tuyển sinh, hàng trăm nghìn học sinh lại đứng trước một lựa chọn khó giữa một bên là đam mê và cảm giác được sống với điều mình thích, còn bên kia là áp lực cơm áo, kỳ vọng gia đình và nỗi lo thất nghiệp sau tốt nghiệp. Trong bối cảnh thị trường lao động biến động nhanh, nhiều ngành "hot" hôm nay có thể bão hòa chỉ sau vài năm, còn những ngành từng bị xem là ít triển vọng lại bất ngờ khát nhân lực. Vì thế, câu chuyện chọn trường, chọn ngành vẫn là cuộc tranh luận chưa có lời giải chung cho tất cả.
Cũng chọn đại học theo định hướng của cha mẹ, bạn đọc Hố Đen lại có cách tìm ra điểm cân bằng với đam mê của bản thân: Bố mẹ tôi là giáo viên nên khi thi đại học, tôi cũng chọn trường Sư phạm dù bản thân không có ưu thế gì về ngành này. Tôi nói chuyện rất kém trước đám đông, thích ngồi chế tạo hơn là giao tiếp với nhiều người, cũng không phải người thích làm việc theo khuôn mẫu.
Khi ra trường, bố mẹ xin cho tôi vào dạy tại một ngôi trường ở quê. Tuy nhiên, sau một thời gian tôi quyết định nhảy ra ngoài, xin sang làm thử các ngành khác với tâm lý là chấp nhận rủi ro. Và rồi tôi nhận ra mình có thể tìm ra được một mảng công việc yêu thích ngay trong nghề dạy học, nên tôi quay lại.
Tôi thấy không ai thích hẳn một nghề nào đó mà thường chỉ yêu thích một mảng việc trong một nghề mà thôi. Tôi thích việc phân tích, tự thiết kế đồ dùng, sử dụng tin học, nên chọn mảng xây dựng hệ thống tin học, hỗ trợ các giáo viên khác và trung tâm dạy học của bản thân. Tôi tự thiết kế các đồ dùng, thiết bị hỗ trợ học sinh và giáo viên...
Vậy là tôi vẫn làm tiếp nghề mà tôi bị ép vào, nhưng vẫn có thể làm công việc mà mình yêu thích. Giờ tôi trở thành phụ trách mảng kỹ thuật, đánh giá chất lượng dạy và học của công ty giáo dục do mình và vợ lập nên. Như vậy có gọi là thành công?".
Tôi vẫn nhớ ngày ba mẹ quyết định bán căn nhà nhỏ ở quê. Giá lúc đó 1,5 tỷ đồng. Với gia đình tôi, đó là tài sản lớn nhất tích góp cả đời ba mẹ. Ba mẹ nói: "Bán nhà cho hai anh em ăn học, sau này có nghề nghiệp ổn định là được". Ai cũng nói học đại học là con đường đổi đời, là cách chắc chắn nhất để có tương lai tốt hơn.
Hai anh em tôi lên thành phố, học những ngành được cho là "có triển vọng". Những năm đại học trôi qua với học phí, tiền trọ, sinh hoạt... tất cả đều từ số tiền bán nhà đó. Tôi chưa từng nghĩ sâu về chi phí, vì trong đầu luôn mặc định: học xong rồi sẽ kiếm lại được.
Nhưng cuộc sống sau khi ra trường không diễn ra như cách tôi từng hình dung. Tôi đi làm với mức lương khởi điểm 6 triệu, rồi tăng dần lên 8 triệu, 10 triệu một tháng. Sau vài năm, thu nhập có nhích lên, nhưng không đáng kể so với chi phí sống ở thành phố. Tiền thuê nhà, ăn uống, đi lại... mỗi tháng gần như tiêu hết phần lớn thu nhập của tôi. Tiết kiệm được một khoản nhỏ đã là cả một sự cố gắng.
Vừa rồi, tôi về quê cũ, đi ngang qua khu đất ngày xưa là nhà mình, mới biết căn nhà đó giờ đã được bán lại với giá gần 5 tỷ đồng. Nếu ngày đó ba mẹ không bán, tài sản gia đình giờ đã tăng gấp ba lần. Còn hiện tại, sau nhiều năm học đại học và đi làm, thu nhập của tôi vẫn chỉ ở mức đủ sống. Tôi bắt đầu tự hỏi: liệu "khoản đầu tư" năm xưa có thực sự hiệu quả?
Tôi không phủ nhận giá trị của việc học. Đại học cho tôi kiến thức, trải nghiệm, các mối quan hệ. Nhưng nếu nhìn thuần túy dưới góc độ tài chính, bài toán lại không đơn giản. Thu nhập của tôi, sau tất cả thời gian và chi phí bỏ ra, vẫn chưa tạo ra được một giá trị tương đương, chứ chưa nói đến việc "gỡ vốn".
>> 'Đầu tư 1,2 tỷ học đại học nhưng ra trường lương 8 triệu đồng'
Tôi thử làm một phép tính đơn giản. Với mức tiết kiệm lạc quan khoảng 3 triệu mỗi tháng, một năm tôi dành dụm được 36 triệu. Để tích lũy được 1,5 tỷ, tôi cần hơn 40 năm, chưa kể lạm phát hay biến động cuộc sống. Còn khoảng chênh lệch do giá nhà tăng thêm, gần như là một khoảng cách quá xa.
Cảm giác này trong tôi không phải là hối hận, mà là một sự chênh vênh. Chúng ta luôn được dạy rằng học đại học là con đường an toàn. Nhưng ít khi ai đặt câu hỏi: cái giá phải trả là gì, và lợi ích thu về có tương xứng hay không? Đặc biệt trong bối cảnh giá bất động sản tăng nhanh, còn thu nhập của người lao động trẻ lại tăng chậm.
Rất nhiều gia đình sẵn sàng bán tài sản lớn để đầu tư cho con cái học hành, với kỳ vọng "đổi đời". Nhưng thực tế thị trường lao động hiện nay không còn đảm bảo một tấm bằng sẽ mang lại thu nhập cao như trước. Nếu coi việc học là một khoản đầu tư, thì nó cũng cần được cân nhắc như bất kỳ khoản đầu tư nào khác: chi phí, lợi ích, rủi ro, và thời gian hoàn vốn.
Đến giờ, tôi vẫn đang đi làm, vẫn cố gắng tiết kiệm, vẫn tin rằng mình có thể xây dựng lại từ đầu. Nhưng mỗi lần nghĩ đến căn nhà năm xưa, tôi lại tự hỏi: nếu được lựa chọn lại, liệu gia đình tôi có quyết định khác đi không? Tôi không có câu trả lời chắc chắn. Nhưng tôi nghĩ, đó là câu hỏi mà nhiều người nên tự đặt ra trước khi đánh đổi một tài sản lớn cho một kỳ vọng chưa rõ ràng.