Sếp của tôi có một thói quen mà có lẽ không ít người đi làm cũng từng gặp phải: nhắn tin, gọi điện, gửi email giao việc ngoài giờ hành chính. Hôm thì sếp yêu cầu làm gấp một bản báo cáo, hôm thì chỉnh sửa kế hoạch, hôm khác lại đòi cập nhật số liệu ngay trong buổi tối. Nếu tôi không trả lời hoặc chưa nhận việc ngay, điều đầu tiên tôi nhận được vào sáng hôm sau là lời khiển trách vì “thiếu tinh thần trách nhiệm”.
Điều khiến tôi băn khoăn là những công việc đó phần lớn không hề cấp bách. Chúng không phải tình huống khẩn cấp có thể gây thiệt hại cho công ty nếu chậm vài tiếng đồng hồ.
Đơn giản là sếp rảnh lúc nào thì muốn nhân viên làm việc lúc đó.
Đúng là công ty tôi có cơ chế trả thưởng khi làm việc ngoài giờ. Nhưng chưa bao giờ có ai hỏi rằng tôi có muốn kiếm thêm tiền bằng cách đánh đổi thời gian riêng tư của mình hay không?
Tôi không có nhu cầu đó. Tôi muốn được cống hiến hết khả năng của mình trong tám tiếng làm việc theo quy định. Trong khoảng thời gian ấy, tôi sẵn sàng tập trung, chịu trách nhiệm với công việc và hoàn thành những gì được giao. Nếu chưa làm xong việc, tôi sẵn sàng ở lại muộn để làm cho xong. Nhưng khi kết thúc công việc, tôi muốn được trở về với cuộc sống của mình, dành thời gian cho gia đình, nghỉ ngơi, đọc sách, đi dạo… Đó là nhu cầu rất bình thường của một người lao động.
Tôi hiểu rằng trong bất kỳ công việc nào cũng sẽ có những thời điểm cần sự linh hoạt. Điều tôi không chấp nhận được là việc làm ngoài giờ dần bị xem như một nghĩa vụ mặc định của nhân viên. Hết giờ làm, tôi đi đâu cũng phải mang theo laptop để đề phòng công việc đột xuất. Trớ trêu ở chỗ, tối nào cũng có “việc đột xuất”.
>> Lương 18 triệu nhưng 9 giờ tối vẫn bị sếp giao việc bất ngờ
Điều đáng nói là chiếc laptop ấy là tài sản cá nhân của tôi. Điện thoại dùng để nhận tin nhắn công việc cũng là tiền tôi bỏ ra mua và tự chi trả cước phí. Công ty không cấp thiết bị làm việc riêng, nhưng lại mặc nhiên xem nhân viên luôn trong trạng thái “sẵn sàng trực tuyến” mọi lúc, mọi nơi.
Trong khi đó, quyền được nghỉ ngơi sau giờ làm việc cũng cần được tôn trọng như quyền được làm việc trong giờ hành chính.
Có một thực tế mà nhiều người đi làm đang phải chấp nhận: văn hóa làm việc ngoài giờ đôi khi được ngụy trang bằng những cụm từ rất đẹp như “tinh thần trách nhiệm”, “sự tận tâm” hay “máu lửa với công việc”. Nhưng nếu một nhân viên hoàn thành tốt công việc trong tám tiếng mỗi ngày mà vẫn bị đánh giá thấp chỉ vì không trả lời email lúc 9-10 giờ tối, thì có lẽ vấn đề không nằm ở tinh thần trách nhiệm nữa.
Làm việc ngoài giờ nên là sự tự nguyện hoặc xuất phát từ những tình huống thực sự khẩn cấp, chứ không thể trở thành tiêu chuẩn để đánh giá mức độ cống hiến của một người lao động.
Tôi không phản đối tăng ca. Tôi cũng không phản đối việc kiếm thêm thu nhập ngoài giờ nếu ai đó mong muốn. Nhưng tôi phản đối việc biến thời gian cá nhân của nhân viên thành “ca làm việc thứ hai” mà không có sự lựa chọn.
Chúng ta vẫn thường nói về cân bằng giữa công việc và cuộc sống. Nhưng sẽ không có sự cân bằng nào nếu nhân viên phải mang công việc theo mình suốt 24 giờ mỗi ngày. Một công ty có thể mua thời gian làm việc của nhân viên trong hợp đồng lao động, nhưng không thể mặc nhiên mua luôn cả buổi tối, cuối tuần và thời gian riêng của họ.
Tôi đọc nhiều bài viết trên diễn dàn này về các vấn đề liên quan đến văn hóa, thói quen (tiêu cực) thường gặp trên bàn tiệc như gắp thức ăn cho nhau, nhiều người cùng ngoáy đũa vào nồi lẩu hay nói chuyện to tiếng khi mồm còn thức ăn...
Riêng tôi lại gặp trường hợp "khó đỡ" hơn. Tôi dự đám cưới với vai trò là thợ nhiếp ảnh, vì thế, chủ nhà mời tôi ngồi vào bàn tiệc cuối cùng nên khi ấy, rất nhiều người xung quanh đã chếnh choáng hơi men.
Bàn tiệc của tôi ngồi lúc nào cũng có hai, ba người nghiêng ngả đứng xung quanh để mời rượu, gắp thức ăn, ép ăn. Do đứng không còn vững, họ lại tì vào vai, dựa vào người đang ngồi khiến thực khách có muốn gắp món gì đó cũng rất khó khăn.
Nhưng khó chịu nhất là mùi cơ thể của họ tỏa ra giữa không khí nóng nực khi họ với tay chồm vào bàn. Tư thế đo khiến người ngồi lãnh đủ, chưa kể hơi men, được phà thẳng vào mặt thực khách.
Trời ơi, thật kinh khủng. Họ mời rượu tới tấp, có khi chúng tôi (hầu hết trong bàn) chưa ăn xong miếng thức ăn thì họ đã "cưa" xong 50% ly rượu, phần còn lại đã đặt trước mặt và hối thúc chúng tôi uống ly rượu nổi đầy váng dầu mỡ.
Thật khủng khiếp. Thấy khó chịu quá, có người trong bàn kéo ghế, khéo léo mời ngồi nhưng những người đó nhất định từ chối.
Tôi thấy có nhiều ý kiến cho là "phải hòa nhập" hay "khó quá thì đùng đi tiệc"... Theo tôi, cái gì quá mức bình thường là bất thường nên mọi người có hiếu khách thì nên nhìn thái độ của khách, nhất là trong việc ăn uống.
Chỉ cần một câu nói, hành động gây ra tâm lý ghê rợn thì bữa tiệc đó trở thành sự tra tấn.
Tôi có thói quen bắt đầu bữa sáng bằng một bát phở nóng giá 40 nghìn đồng, nhất là những buổi sáng cuối năm trời chớm lạnh, ăn phở nóng thì còn gì bằng.
Nhiều người thắc mắc vì sao xăng dầu giảm giá nhưng hàng quán không giảm. Tôi không thắc mắc cùng vì hàng phở tôi hay ăn không tăng giá. Nhưng gần đây tôi cũng không nuốt nổi. Quán không tăng giá nhưng thịt ít đi, trong bát chỉ vài lát thịt, lõng bõng nước, đôi khi phải gọi thêm một bát trứng chần.
Tôi giận quá nên tự nấu ăn sáng ở nhà. Sáng đi mua một ổ bánh mì không hoặc bánh mì mềm ở cửa hàng tiện lợi, ốp la thêm trứng, hoặc làm bánh mì chảo. Tính ra, một bữa sáng như vậy chưa đến 20 nghìn đồng.
Tôi hiểu giá thịt bò tăng, xương tăng, hành ngò, rau thơm, gas, điện, tiền thuê mặt bằng, lương nhân viên... đều tăng. Một bát phở không thể giữ mãi mức giá của vài năm trước nếu chi phí đầu vào đã thay đổi. Nhưng thay vì nói với khách rằng quán phải tăng lên 45 hay 50 nghìn đồng, nhiều nơi lại chọn cách giữ nguyên bảng giá rồi âm thầm giảm chất lượng. Đó mới là điều khiến khách hàng khó chấp nhận vì nhìn bát phở "mỏng" hơn so với lúc trước.
Tôi cho rằng cảm giác hụt hẫng ấy khiến nhiều người mất thiện cảm với quán hơn là việc phải trả thêm tiền.
Tôi nghĩ rằng khách hàng thường không phản ứng với việc tăng giá nếu họ thấy giá trị nhận lại vẫn tương xứng. Một bát phở đầy đặn, nước dùng ngon, thịt nhiều hơn, phục vụ tử tế với giá 45-50 nghìn đồng đôi khi vẫn được chấp nhận dễ dàng hơn một bát 40 nghìn đồng nhưng ngày càng ít thịt.
Tôi vẫn thích cảm giác ngồi ở quán phở buổi sáng, húp một bát nước dùng nóng rồi bắt đầu ngày mới. Nếu quán quen bán bát phở 50 nghìn đồng nhưng đầy đặn và ngon như trước, tôi vẫn sẵn sàng quay lại.
Mẹ tôi năm nay 68 tuổi. Sau khi gia đình bán mảnh đất lớn nhất để anh trai có vốn mua nhà lập nghiệp ở xa, số tiền còn lại khoảng 3 tỷ đồng được thống nhất để mẹ giữ làm khoản dưỡng già. Phần tôi là căn nhà và mảnh đất đang ở cùng mẹ.
Lúc mới nhận tiền, ai cũng nghĩ như vậy là hợp lý. Người già có một khoản dự phòng để an tâm tuổi già, con cái cũng bớt áp lực nếu chẳng may xảy ra bệnh tật, tai nạn hay những biến cố ngoài ý muốn.
Nhưng vài năm trôi qua, anh em tôi không biết rõ số tiền đó còn bao nhiêu, vì mỗi lần hỏi là bà mắng.
Mẹ tôi vẫn khỏe mạnh, minh mẫn, sử dụng điện thoại thành thạo. Bà thường xuyên đi du lịch cùng bạn bè, mua sắm nhiều hơn trước. Điều đó tự nó không có gì sai. Sau cả đời vất vả, người già có quyền tận hưởng cuộc sống bằng chính đồng tiền của mình.
Vấn đề là gia đình hoàn toàn không nắm được tình hình tài chính của mẹ như thế nào. Bà không bao giờ nhắc đến số tiền còn lại bao nhiêu, gửi ngân hàng hay đầu tư ở đâu hay có còn trong két sắt trong phòng riêng của bà hay không?
Nhiều người lớn tuổi xem việc giữ tiền là giữ quyền tự chủ. Họ sợ khi tiết lộ tài sản sẽ bị con cái quản lý, can thiệp hoặc thậm chí nhòm ngó. Điều khiến tôi bất an hơn cả là thực tế hiện nay người cao tuổi đang trở thành mục tiêu của vô số chiêu trò lừa đảo.
Chỉ cần một cuộc gọi giả danh, một lời mời đầu tư lợi nhuận cao, hay một đường link được gửi qua điện thoại, người già có thể mất hàng trăm triệu đồng, thậm chí toàn bộ số tiền tích cóp cả đời. Nhiều nạn nhân trước đó cũng từng rất tự tin rằng mình đủ tỉnh táo để không bị lừa. Đáng tiếc là khi sự việc xảy ra, con cái thường là những người biết cuối cùng.
Tôi từng nghe không ít câu chuyện về những gia đình chỉ phát hiện cha mẹ mất tiền khi tài khoản gần như đã cạn sạch. Có người vì xấu hổ nên giấu con. Có người sợ bị trách mắng nên không dám nói. Đến lúc sự thật lộ ra thì đã quá muộn.
Trong nhiều gia đình Việt Nam, tiền bạc vẫn là chủ đề nhạy cảm. Nhưng điều đáng sợ là đến một ngày nào đó, mọi người mới phát hiện nó đã biến mất từ lúc nào mà không ai hay biết. Vậy chúng ta sẽ có cơ chế gì để bảo vệ tài chính của người già?