Hôm nay, Công an TP Hải Phòng thông tin, từ tháng 4/2025, trong lúc anh Đoàn Văn Kiên (50 tuổi, trú tại huyện Tiên Lãng) tôn nền trang trại nuôi gà, Trần Trung Khanh (42 tuổi, trú xã Tiên La, tỉnh Hưng Yên) và Nguyễn Văn Phái (35 tuổi, xã Nguyễn Bỉnh Khiêm, Hải Phòng) xuất hiện, tự giới thiệu là “nhà báo pháp luật” khẳng định việc san lấp mặt bằng là trái quy định.
Hai người chủ động lấy số điện thoại của anh Kiên và giữ liên lạc.
Cuối tháng 12/2025, khi thấy anh Kiên tiếp tục thi công, nhóm này quay lại, lấy cớ “cuối năm rồi, làm nhiều thì phải đồng hành với anh em một tí”. Khanh và Phái liên tục đe dọa báo chính quyền thu máy xúc nếu anh Kiên không chi tiền.
Sợ bị đình chỉ công việc và mất phương tiện làm ăn, anh Kiên đưa 3 triệu đồng. Nhưng Khanh yêu cầu đủ 6 triệu đồng, hẹn vài ngày sau quay lại lấy nốt phần.
Ngày 31/12/2025, hai người này tìm đến “đòi nợ” và vợ anh Kiên đã đưa thêm 3 triệu đồng. Sự việc đã được một người ở gần đó quay lại.
Video sau đó được đăng tải lên mạng xã hội Facebook, gây xôn xao dư luận và trở thành bằng chứng quan trọng để cơ quan công an vào cuộc.
Ngày 10/3, Công an TP Hải Phòng khởi tố vụ án hình sự, xác định Khanh và Phái giả danh nhà báo để tống tiền. Đến ngày 14/4, lệnh bắt tạm giam được thi hành.
Cơ quan chức năng đang tiếp tục mở rộng điều tra, làm rõ còn có các nạn nhân tương tự hay không.
Tin Gốc: Vnexpress

Quyền được Nhà nước bồi thường là quyền có tính chất hiến định, được ghi nhận xuyên suốt trong các bản Hiến pháp của Việt Nam và tiếp tục được khẳng định tại Hiến pháp năm 2013.
Thể chế hóa nguyên tắc này, Nhà nước đã từng bước hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm bồi thường, từ Nghị định số 47-CP năm 1997, Nghị quyết số 388/2003/NQ-UBTVQH11 đến Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2009 và Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017.
Sau gần 8 năm thi hành, Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017 đã trở thành công cụ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức bị thiệt hại do hoạt động công vụ gây ra; đồng thời khẳng định trách nhiệm của Nhà nước trước Nhân dân và góp phần củng cố niềm tin vào pháp luật.
Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng luật này cho thấy một số khoảng trống cần tiếp tục nghiên cứu sửa đổi.
Thứ nhất, về căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường
Từ Điều 8 đến Điều 12 của luật hiện hành quy định tương đối đầy đủ các văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường.
Tuy nhiên thực tế xuất hiện trường hợp người bị thiệt hại đã có kết luận tố cáo đúng hoặc kết luận thanh tra xác định rõ hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ, nhưng cá nhân vi phạm không bị xử lý kỷ luật hoặc xử lý hành chính do hết thời hiệu hoặc chưa đến mức xử lý.
Hệ quả là người bị thiệt hại không có văn bản thuộc diện luật quy định để làm căn cứ yêu cầu bồi thường. Do đó, cần nghiên cứu bổ sung kết luận giải quyết tố cáo hoặc kết luận thanh tra theo quy định pháp luật xác định rõ hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ là một trong các căn cứ phát sinh quyền yêu cầu bồi thường.
Thứ hai, về phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước
Các Điều 17 đến Điều 21 luật hiện hành quy định phạm vi trách nhiệm bồi thường theo hướng liệt kê. Tuy nhiên thực tiễn phát sinh nhiều trường hợp có hành vi trái pháp luật và có thiệt hại thực tế nhưng không thuộc diện được bồi thường.
Ví dụ: Luật quy định trách nhiệm bồi thường đối với việc cấp hoặc thu hồi giấy phép trái pháp luật, nhưng chưa quy định trường hợp hủy bỏ giấy phép trái pháp luật; hoặc quy định trách nhiệm đối với cấp, thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trái pháp luật nhưng chưa điều chỉnh trường hợp không cấp giấy chứng nhận trái pháp luật.
Đặc biệt, cần nghiên cứu bổ sung cơ chế bồi thường trong trường hợp đặc biệt khi công lý không còn khả năng được thực hiện do hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự.
Thực tiễn đặt ra những vụ việc mà người bị hại hoặc thân nhân chịu thiệt hại đặc biệt nghiêm trọng nhưng cuối cùng không thể xử lý hình sự vì hết thời hiệu, trong khi quá trình giải quyết kéo dài có dấu hiệu gắn với trách nhiệm của cơ quan bảo vệ pháp luật.
Trường hợp ông Đỗ Thanh An tại Bình Thuận (nay thuộc tỉnh Lâm Đồng) mà báo Tuổi Trẻ nhiều lần phản ánh, là một ví dụ được dư luận quan tâm. Theo thông tin được báo phản ánh, gia đình nạn nhân nhiều năm cung cấp tài liệu, liên tục kiến nghị làm rõ cái chết của người mẹ. Tuy nhiên vụ việc kéo dài qua nhiều giai đoạn, đến khi xác định được đối tượng thì phát sinh vấn đề hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự.
Từ thực tiễn đó, câu hỏi pháp lý được đặt ra không chỉ là còn hay không còn thời hiệu xử lý hình sự, mà còn là: Ai chịu trách nhiệm đối với những tổn thất vật chất và tinh thần kéo dài của gia đình người bị hại khi công lý không thể thực hiện được bằng bản án?
Trong khi đó, Hiến pháp năm 2013 quy định Nhà nước có trách nhiệm công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân; quyền sống được pháp luật bảo hộ. Vì vậy, bảo vệ quyền tiếp cận công lý không chỉ dừng lại ở việc thiết lập chế tài hình sự mà còn cần cơ chế khắc phục khi quyền đó không được bảo vệ hữu hiệu.
Đề xuất này không đồng nghĩa mở rộng vô hạn trách nhiệm bồi thường của Nhà nước. Cơ chế đặc biệt chỉ nên áp dụng khi đồng thời đáp ứng các điều kiện: thiệt hại đặc biệt nghiêm trọng; có căn cứ cho thấy quá trình giải quyết vụ án kéo dài bất hợp lý hoặc có phần trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng; việc hết thời hiệu làm mất cơ hội phục hồi quyền lợi chính đáng của người bị hại.
Trong quá trình thảo luận chính sách sửa đổi Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, Bộ trưởng Bộ Tư pháp nhấn mạnh yêu cầu bảo đảm tính ổn định của hệ thống pháp luật, nhưng đồng thời khẳng định Quốc hội vẫn là cơ quan có thẩm quyền quyết định cuối cùng đối với những trường hợp đặc biệt phát sinh từ thực tiễn. Đó là một gợi mở đáng suy ngẫm: Pháp luật cần ổn định nhưng không nên khép kín trước những hoàn cảnh đặc biệt của đời sống.
Vì vậy, luật sửa đổi nên bổ sung trường hợp đặc biệt: Nhà nước có trách nhiệm bồi thường cho thân nhân người bị thiệt hại trong vụ án hình sự bị đình chỉ do hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người thực hiện hành vi phạm tội như vụ án ông Đỗ Thanh An cả đời đi tìm công lý sau cái chết của mẹ.
Tin Gốc: Tuổi Trẻ

Bà Nhàn (58 tuổi, Giám đốc Công ty TNHH Triều Châu) vừa bị TAND TP HCM xét xử về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
Trong vụ án có 3 người được xác định là bị hại với số tiền chiếm đoạt 16,4 tỷ đồng. Nhiều người cũng được xác định có quyền, nghĩa vụ liên quan nhưng phần lớn vắng mặt.
Ai đứng sau việc huy động vốn?
Dự án Bệnh viện đa khoa quốc tế Triều Châu quy mô 300-500 giường tại Sóc Trăng (nay thuộc TP Cần Thơ) được cấp giấy chứng nhận đầu tư năm 2007 nhưng đã bị thu hồi, chấm dứt hoạt động từ năm 2013. Tuy nhiên, nhiều năm sau đó dự án này vẫn được sử dụng để kêu gọi các nhà đầu tư góp vốn.
Theo cáo trạng, từ năm 2020 đến 2022, bà Nhàn thuyết phục ông Mã Thuận - người đại diện Công ty TNHH Triều Châu - ký hợp đồng ủy thác quản lý, triển khai dự án. Sau đó, bị cáo đưa ra thông tin không đúng sự thật về khả năng triển khai bệnh viện để huy động vốn, chiếm đoạt hơn 16,4 tỷ đồng.
Cơ quan công tố xác định Nhàn cùng Hoàng Hương Hiệp giới thiệu với các nhà đầu tư rằng Hiệp đang làm Trưởng Thanh tra Quỹ Môi trường Thế giới châu Á - Thái Bình Dương thuộc Quỹ Môi trường Toàn cầu tại Việt Nam và đang làm thủ tục đưa khoảng 20.000 tỷ đồng vốn nước ngoài về đầu tư dự án.
Hai người còn cam kết những ai tham gia các gói thầu của dự án sẽ được ngân hàng giải ngân hàng trăm tỷ đồng nếu nộp tiền đối ứng.
Tin những thông tin này, tổng giám đốc một công ty tại Bắc Giang, người phụ trách tài chính của doanh nghiệp và một nữ doanh nhân ở Hà Nội nhiều lần chuyển tiền vào tài khoản của Nhàn và tài khoản người thân do Hiệp chỉ định.
Nhiều tháng sau vẫn không nhận được nguồn vốn như cam kết, họ phát hiện dự án đã bị thu hồi từ nhiều năm trước và làm đơn tố cáo.
Cáo trạng xác định bà Nhàn phải chịu trách nhiệm đối với toàn bộ số tiền đã chiếm đoạt.
Bị cáo khai chỉ làm theo chỉ đạo
Suốt quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bà Nhàn nhiều lần khai bản thân chỉ làm theo chỉ đạo của Hoàng Hương Hiệp.
Theo lời khai, ban đầu bị cáo cũng là người có nhu cầu vay vốn từ quỹ do Hiệp giới thiệu để phục vụ hoạt động kinh doanh ôtô của công ty. Sau khi cầm cố nhà, nộp tiền đối ứng nhưng không được giải ngân, bà tiếp tục làm theo hướng dẫn của Hiệp với hy vọng lấy lại số tiền đã bỏ ra.
Nhàn khai chính Hiệp đề nghị mình đứng tên điều hành Công ty Triều Châu, mở tài khoản ngân hàng và tiếp nhận tiền từ các nhà đầu tư. Sau khi tiền được chuyển vào tài khoản, bị cáo tiếp tục chuyển cho những người theo chỉ định của Hiệp.
Liên tục khóc tại tòa, Nhàn thừa nhận việc nhận tiền của các bị hại là sai nhưng khẳng định không sử dụng cho mục đích cá nhân. Theo lời khai, toàn bộ số tiền đều được chuyển cho những người do Hiệp chỉ định.
Quá trình xét hỏi, đại diện VKS đề nghị Nhàn làm rõ bản chất của 10 giấy xác nhận nợ tổng giá trị hơn 23 tỷ đồng giữa bị cáo và Nguyễn Minh Thịnh - con nuôi của Hiệp.
Nhàn khai những giấy tờ này được lập nhằm hợp thức hóa dòng tiền đã nhận từ các nhà đầu tư rồi chuyển tiếp cho Thịnh.
Trong khi đó, theo cáo trạng, Hoàng Hương Hiệp phủ nhận toàn bộ nội dung liên quan đến việc chỉ đạo Nhàn huy động vốn hoặc nhận tiền của các bị hại. Hiệp cũng khẳng định không ký bất kỳ tài liệu nào liên quan đến việc góp vốn dự án và không trực tiếp nhận tiền.
Theo VKS, chưa có chứng cứ chứng minh Hiệp, Thịnh và những người khác câu kết với Nhàn thực hiện hành vi lừa đảo. Vì vậy, cơ quan điều tra đã tách vụ án để tiếp tục xác minh đối với Hiệp và những người liên quan.
Dòng tiền hơn 55 tỷ đồng chưa được làm rõ
Ngoài 3 bị hại trong cáo trạng, phiên tòa còn phát sinh tranh cãi liên quan khoản tiền hơn 55 tỷ đồng mà bà Nguyễn Thị Thảo Phương và gia đình cho rằng đã bị chiếm đoạt.
Theo bà Phương, bà quen Hiệp từ năm 2019, sau đó được giới thiệu gặp Nhàn. Cả hai nhiều lần giới thiệu dự án Bệnh viện Triều Châu đang được triển khai bằng nguồn vốn nước ngoài, đồng thời cung cấp nhiều tài liệu về doanh nghiệp và dự án để tạo niềm tin.
Tin tưởng những thông tin này, bà Phương cùng người thân đã nhiều lần chuyển hơn 55 tỷ đồng vào 45 tài khoản do Nhàn, Hiệp, Nguyễn Minh Thịnh và những người liên quan chỉ định.
Đối với dòng tiền đi qua tài khoản của mình, bà Phương cho biết toàn bộ đều thực hiện theo yêu cầu của Nhàn và chỉ đạo của Hiệp cùng những người liên quan. Bà khẳng định không hưởng lợi từ số tiền của các bị hại và cũng không biết dự án đã bị thu hồi từ năm 2013.
Bà Phương cho biết đã gửi đơn tố giác từ đầu năm 2024. Sau đó, cơ quan điều tra thông báo nhập nội dung tố giác liên quan khoản tiền hơn 55 tỷ đồng vào vụ án đang giải quyết.
Hồ sơ cũng thể hiện Nhàn đã viết giấy xác nhận nhận hơn 13 tỷ đồng của mẹ bà Phương và cam kết hoàn trả. Tuy nhiên, nội dung này chưa được đưa vào phạm vi truy tố và mẹ bà Phương cũng chưa được xác định là bị hại.
Trong phần xét hỏi, HĐXX dành nhiều thời gian làm rõ các lời khai và chứng cứ do bà Phương cung cấp. Một thành viên HĐXX nhận định vụ án còn nhiều vấn đề "uẩn khúc" cần tiếp tục xác minh và đề nghị bà Phương bổ sung thêm chứng cứ.
Luật sư đề nghị điều tra thêm nhiều mắt xích
Luật sư bào chữa cho bà Nhàn cho rằng hồ sơ vụ án còn nhiều vấn đề chưa được làm rõ, đặc biệt là vai trò của Hoàng Hương Hiệp trong quá trình giới thiệu dự án, kết nối nhà đầu tư và đích đến của dòng tiền nhận từ các bị hại. Luật sư đề nghị HĐXX trả hồ sơ điều tra bổ sung để giải quyết toàn diện vụ án.
Theo luật sư, tiền của các bị hại không chỉ chuyển vào tài khoản của Nhàn mà còn đi qua nhiều tài khoản của người thân và người quen của Hiệp. Việc xác định ai là người thực sự quản lý, sử dụng hoặc hưởng lợi từ các khoản tiền này có ý nghĩa quan trọng trong việc giải quyết vụ án.
Luật sư cũng đề nghị làm rõ bản chất 10 giấy xác nhận nợ trị giá hơn 23 tỷ đồng giữa Nhàn và Nguyễn Minh Thịnh; xác minh nguồn gốc căn nhà trên đường Đào Duy Anh (quận Phú Nhuận) do có căn cứ cho rằng tài sản này có thể được hình thành từ tiền chiếm đoạt nhưng chưa được kê biên.
Ngoài ra, luật sư cho rằng khoản tiền hơn 55 tỷ đồng mà bà Phương và gia đình khai đã chuyển cho những người liên quan đến dự án, được Nhàn xác nhận, nhưng chưa được đưa vào nội dung truy tố. Theo luật sư, các nội dung này trước đây VKS nhiều lần yêu cầu điều tra bổ sung nhưng sau đó được tách thành vụ án khác, có thể ảnh hưởng đến việc làm rõ sự thật khách quan của vụ án.
Sau nhiều giờ xét hỏi và hội ý, HĐXX nhận định phiên tòa phát sinh nhiều tình tiết mới cần tiếp tục làm rõ nên quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung.
Tin Gốc: Vnexpress
Pháp Luật
Mở dịch vụ làm giả giấy tờ bằng cách chỉnh sửa qua Photoshop, 5 người bị khởi tố

Ngày 17-6, Công an tỉnh Hưng Yên thông tin về vụ án làm giả giấy tờ bằng phần mềm Photoshop.
Theo kết quả điều tra ban đầu, khoảng đầu năm 2025, Tô Văn Hùng (sinh năm 1999, trú tại thôn Thống Nhất, xã Hải Lạng, tỉnh Quảng Ninh) nhận thấy có nhiều người muốn có bằng cấp, chứng chỉ và các loại giấy tờ, tài liệu để hợp thức hóa hồ sơ (xin việc, vay vốn, xuất cảnh, thanh toán tiền bảo hiểm…).
Hùng đã tổ chức và điều hành đường dây làm giả giấy tờ, tài liệu của cơ quan, tổ chức thông qua hình thức nhận chỉnh sửa ảnh tài liệu qua các phần mềm Photoshop.
Tô Văn Hùng không biết sử dụng các phần mềm Photoshop để chỉnh sửa nên đã tạo các bài viết quảng cáo, tìm kiếm những người có chuyên môn để tham gia đường dây cùng mình.
Tô Văn Hùng tuyển chọn được Hoàng Quốc Cường (sinh năm 1999, ở xã Ea Rốk, tỉnh Đắk Lắk) và Trương Công Phi (sinh năm 1998, ở phường Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk). Hai người này là những thợ chỉnh sửa ảnh có chuyên môn, sử dụng thành thạo các phần mềm Photoshop.
Ngoài ra còn có các cộng tác viên gồm: Nguyễn Thị Yến Nhi (sinh năm 1998) và Nguyễn Thị Thắm (sinh năm 2002) để tìm kiếm khách hàng có nhu cầu.
Nhóm này tiến hành chỉnh sửa, làm giả hàng trăm loại tài liệu của cơ quan, tổ chức cho nhiều "khách hàng" trên cả nước. Khám xét khẩn cấp nơi ở của các nghi can, cơ quan điều tra thu giữ 3 bộ máy vi tính, 10 điện thoại di động là công cụ, phương tiện thực hiện hành vi phạm tội.
Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Hưng Yên đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can, ra lệnh bắt bị can để tạm giam đối với Tô Văn Hùng, Hoàng Quốc Cường, Trương Công Phi. Ba người này bị khởi tố về tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức quy định tại khoản 2 Điều 341 Bộ luật Hình sự.
Đồng thời cơ quan điều tra cũng khởi tố bị can, ra lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú đối với Nguyễn Thị Yến Nhi, Nguyễn Thị Thắm với cùng tội danh trên.
Hiện vụ án đang được Công an tỉnh Hưng Yên tiếp tục mở rộng điều tra.
Tin Gốc: Tuổi Trẻ

