Ngày 17.4, Tập đoàn Gemadept cùng hãng tàu CMA CGM (Pháp) chính thức tổ chức lễ động thổ dự án cảng nước sâu Gemalink giai đoạn 2 tại cụm cảng Cái Mép – Thị Vải (phường Tân Phước, TP.HCM).
Theo Tập đoàn Gemadept, dự án cảng nước sâu Gemalink giai đoạn 2 sau khi hoàn thành sẽ đưa công suất của cảng đạt hơn 3 triệu TEU/năm đáp ứng nhu cầu tăng trưởng hàng hóa và tiếp nhận tàu lớn thông qua cụm cảng nước sâu Cái Mép – Thị Vải.
Việc mở rộng Gemalink giai đoạn 2 cùng đối tác CMA CGM nằm trong lộ trình chiến lược 2026 – 2030 của Tập đoàn Gemadept, xoay quanh các trụ cột cốt lõi: khai thác cảng, port-logistics và vận tải thủy – biển.
Cảng Gemalink đóng vai trò quan trọng trong hệ sinh thái cảng – logistics của Tập đoàn Gemadept và đối tác CMA-CGM, là một trong 19 cảng trên thế giới có thể tiếp nhận tàu container tải trọng lớn nhất hiện nay lên đến 250.000 tấn (tương đương 24.000 TEU).
Sau 5 năm đưa vào khai thác (2021 – 2025), tổng số chuyến tàu qua cảng Gemalink là hơn 2.000 chuyến, trong đó có gần 70% số chuyến tàu có tải trọng lớn từ 160.000 – 232.606 tấn. Cảng đã đạt sản lượng thông qua là 6,5 triệu TEU với mức tăng trưởng mỗi năm đều đạt 2 con số.
Với lợi thế là cảng nước sâu duy nhất tại khu vực Cái Mép đón được các tàu có tải trọng lớn nhất hiện nay, cảng Gemalink sẽ đóng vai trò quan trọng cửa ngõ của khu vực phía Nam trên tuyến hàng hải thế giới.
Trước đó, năm 2019, giai đoạn 1 cảng nước sâu Gemalink đã được khởi công. Giai đoạn 1, cảng này có cầu bến chính dài 800m. Cầu tàu được nối với bờ bằng 3 cầu dẫn. Năng lực xếp dỡ của giai đoạn 1 là 1,5 triệu TEU/năm.
Ở giai đoạn 2, cầu cảng chính dài 285m, tiếp nhận cỡ tàu 250.000DWT, cầu cảng thượng lưu dài 359m tiếp nhận cỡ tàu 150.000DWT, cầu cảng sà lan dài 390m tiếp nhận tàu/sà lan 5.661DWT.
Như vậy, toàn bộ dự án cảng nước sâu Gemalink có quy mô 1.150m cầu cảng bến chính, tổng diện tích 93ha.
Là cảng nước sâu duy nhất trong khu vực Cái Mép – Thị Vải có thể đầu tư mở rộng trong 5 năm tới cùng với sự đồng hành của CMA CGM, hãng tàu lớn thứ 3 thế giới, cảng Gemalink cả 2 giai đoạn sẽ đủ năng lực đáp ứng lượng hàng hóa tăng trưởng và đón nhận dòng hàng hóa trung chuyển từ các quốc gia trong khu vực, đưa cảng trở thành 1 trung tâm trung chuyển hàng đầu khu vực và duy trì vị thế là cảng nước sâu lớn nhất của cả nước.
Tin Gốc: Thanh Niên

Đây là lần đầu tiên, IDM đưa VN vào bảng xếp hạng với năng lực cạnh tranh xếp ở vị trí 27/70 nền kinh tế lớn của thế giới. Bảng xếp hạng dựa trên bốn lĩnh vực chính, gồm hiệu quả kinh tế, hiệu quả quản lý nhà nước, hiệu quả kinh doanh và cơ sở hạ tầng. IMD sử dụng 172 chỉ số thống kê và 92 chỉ số từ khảo sát ý kiến của giới lãnh đạo, tổng cộng 264 chỉ số để cho kết quả của bảng xếp hạng. Đáng chú ý, một số lĩnh vực của VN được đánh giá cao và thậm chí vào top đầu thế giới như hiệu quả kinh tế xếp hạng 19; hiệu quả kinh doanh xếp hạng 19; kinh tế trong nước hạng 16; thương mại quốc tế hạng 6; việc làm hạng 11…
Một tuần trước đó, Báo cáo Chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu (Global Innovation Index - GII) 2025 do Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO) công bố, VN được xếp hạng 44/139 quốc gia, nền kinh tế, duy trì thứ hạng năm 2024. Trong đó, VN tiếp tục có sự cải thiện thứ hạng đầu vào đổi mới sáng tạo, tăng 3 bậc so với năm 2023, từ vị trí 53 lên 50 (đầu vào đổi mới sáng tạo gồm 5 trụ cột: Thể chế, Nguồn nhân lực và nghiên cứu, Cơ sở hạ tầng, Trình độ phát triển của thị trường, Trình độ phát triển của doanh nghiệp). Báo cáo cũng ghi nhận VN là một trong 9 quốc gia thu nhập trung bình cải thiện thứ hạng nhanh nhất tính từ năm 2013; cũng là một trong 2 quốc gia giữ kỷ lục có thành tích vượt trội so với mức độ phát triển trong 15 năm liên tiếp gồm Ấn Độ (nền kinh tế lớn thứ 5 thế giới với GDP đạt khoảng 3.900 tỉ USD, theo IMF) và VN. Trong 15 năm liền, VN luôn có kết quả đổi mới sáng tạo cao hơn so với mức độ phát triển, cho thấy hiệu quả trong việc chuyển các nguồn lực đầu vào thành kết quả đầu ra đổi mới sáng tạo…
Khá bất ngờ với "màn chào sân" đầy ấn tượng của VN trên bảng xếp hạng của IMD, TS Nguyễn Văn Điển, Trưởng khoa Kinh tế chính trị, Học viện Chính trị khu vực II, cho rằng thứ hạng 27/70 về năng lực cạnh tranh thực sự có nền tảng. Sau 40 năm đổi mới phát triển, VN đã thể hiện là một quốc gia luôn có sự ổn định chính trị xã hội về mặt vĩ mô. Chính sự ổn định vĩ mô này đã tạo tiền đề cho một môi trường kinh doanh thuận lợi, từ đó đất nước phát triển một cách bền vững. Bên cạnh đó, 17 hiệp định thương mại thế hệ mới tạo cho VN cơ hội tham gia vào 17 "chợ" thế giới, thâm nhập thị trường quốc tế tốt hơn, hiệu quả hơn. Đây là yếu tố giúp độ mở kinh tế của VN rất mạnh, đạt tỷ lệ gần 200%. Cụ thể, năm 2025, tổng giá trị GDP của cả nước là 514 tỉ USD, còn tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đạt tới 930 tỉ USD. Giá trị giao thương dòng tiền ra/vào từ quốc tế lớn gần gấp đôi tổng quy mô nền kinh tế nội địa, chứng tỏ VN là một nền kinh tế cực kỳ hội nhập, liên kết chặt chẽ với dòng chảy thương mại toàn cầu.
Về hiệu quả quản lý nhà nước, VN hiện đã chuyển từ quản lý hành chính "xin - cho" sang tư duy quản trị quốc gia hiệu quả và kiến tạo phát triển. Tiêu biểu là Hiến pháp 2025 sửa đổi, luật Đất đai 2024, luật Tổ chức chính quyền địa phương đang sửa đổi theo hướng rất tích cực và tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế, cho mọi người dân được tự do kinh doanh, làm giàu theo Hiến pháp, pháp luật. Đi cùng với đó là hàng loạt "chiến dịch" cắt giảm thủ tục hành chính (TTHC), thực hiện TTHC công trực tuyến toàn trình cấp độ 4. Tất cả đang được triển khai rất hiệu quả và kiên trì thực hiện. Về hiệu quả kinh doanh, chính nền tảng VN có nhiều doanh nghiệp (DN) nhỏ và vừa, cùng hộ kinh doanh nên các thành phần này ứng phó rất nhanh với các cú sốc cung - cầu quốc tế. Đơn cử như giữa xung đột Nga - Ukraine, hay mới nhất là cơn bão giá dầu ảnh hưởng do chiến sự Trung Đông, chúng ta thấy rõ những bước chuyển đổi linh hoạt, ứng phó. Chính điều này giúp nền kinh tế VN có hiệu quả kinh doanh tốt hơn trong những biến động địa chính trị thế giới.
Theo TS Nguyễn Văn Điển, khi có chỉ số thương mại quốc tế xếp hạng thứ 6, VN sẽ có lợi thế rất lớn để thu hút đầu tư nước ngoài (FDI). Đây là bảo chứng cho việc các tập đoàn lớn, các "cá mập", "đại bàng" đang đầu tư vào VN rất tốt. Tuy nhiên, việc IDM lại xếp VN ở hạng 53 về đầu tư quốc tế cho thấy khả năng hấp thụ dòng vốn FDI vẫn hạn chế. Cảnh báo này cho thấy VN cần phải tạo điều kiện cho những dòng vốn FDI thế hệ mới là những nhà đầu tư nước ngoài lớn và họ sẵn sàng chia sẻ công nghệ với DN trong nước, chuyển giao công nghệ cho VN. Đồng thời, chúng ta cũng sẽ xây dựng những trung tâm nghiên cứu phát triển để thu hút và hấp thụ nguồn vốn cùng công nghệ tốt hơn từ nước ngoài.
"Đây là một lợi thế rất lớn về địa kinh tế. Các quốc gia sẽ đầu tư vào đây nhiều hơn, giao thương với VN nhiều hơn và các nguồn vốn từ vốn FDI cho tới vốn của các thành phần kinh tế khác cũng dẫn vào quốc gia chúng ta nhiều hơn. Mặt khác, với một nền tảng mạng lưới "chợ" quốc tế lớn, các ngành sản xuất trong nước cũng sẽ có động lực để sản xuất nhiều hàng hóa hơn. Đó chính là hai căn cứ rất quan trọng để VN có thứ hạng cao về cạnh tranh quốc gia", TS Nguyễn Văn Điển nhận định. Để thu hút vốn FDI tốt hơn, ông Điển cho rằng VN cần tăng quy mô đào tạo STEM từ các cấp phổ thông; đào tạo kỹ sư bán dẫn, kỹ sư phần mềm, trí tuệ nhân tạo (AI)... Bên cạnh đó, cần có những chính sách ưu đãi nhất định cho các DN sẵn sàng chia sẻ, chuyển giao công nghệ. Khi đó, các nhà đầu tư lớn sẽ quy tụ về VN.
"Hiện nay, Nvidia của Jensen Huang cũng đã vào VN và cam kết đầu tư nghiên cứu. Chúng ta chỉ cần tạo điều kiện và có những cơ chế sandbox để hỗ trợ họ thì DN sẽ có niềm tin tốt hơn. Các DN hiện rất tin tưởng vào sự đổi mới thể chế của VN hiện nay rất ổn định và kiên định phục vụ DN", TS Điển nhấn mạnh.
Ông Đinh Tuấn Minh, Trung tâm nghiên cứu giải pháp thị trường cho các vấn đề kinh tế - xã hội (MASSEI), phân tích nhiều chỉ số cho thấy năng lực cạnh tranh của VN đã có sự gia tăng trong nhiều bảng xếp hạng. Chẳng hạn, Báo cáo Tự do kinh tế thế giới (EFW) do Viện Fraser (Canada) công bố các năm qua cho thấy từ năm 2015 đến nay, mức độ tự do kinh tế của VN đã được cải thiện nhiều và thứ hạng tăng dần đều trong mấy năm gần đây. Cụ thể, báo cáo EFW 2023, VN xếp ở vị trí 106 trên 165 quốc gia và vùng lãnh thổ, tăng 4 bậc so với báo cáo EFW 2022 và tăng 23 bậc so với báo cáo EFW 2017.
Thực tế, thời gian qua Chính phủ đã kiên trì cải cách thể chế kinh tế thị trường theo hướng ưu tiên ổn định kinh tế vĩ mô, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, tăng cường hội nhập quốc tế, nhờ đó đã mang đến cho VN một thể trạng kinh tế khỏe mạnh hơn bao giờ hết, như dự trữ ngoại hối ở mức cao, tỷ lệ nợ công trên GDP ở mức thấp, vốn FDI, kim ngạch xuất nhập khẩu liên tục năm sau cao hơn năm trước… Từ năm 2015 đến nay, VN đã có xu hướng tăng hạng vững chắc chỉ số EFW. Xu hướng này phản ánh nỗ lực của Chính phủ trong tái cơ cấu nền kinh tế theo hướng phát triển kinh tế thị trường đầy đủ và hội nhập quốc tế. Đáng chú ý, năng lực cạnh tranh của VN được cải thiện chủ yếu được xem xét trên yếu tố tự do hóa thương mại, gỡ bỏ những rào cản trong thương mại với các nhà đầu tư nước ngoài. Từ đó sẽ giúp VN thuận lợi hơn trong việc thu hút dòng vốn ngoại, góp phần thực hiện mục tiêu tăng trưởng cao.
Trong báo cáo xếp hạng của IDM, chỉ số hiệu quả kinh doanh của VN đạt điểm rất cao (70,6 điểm, hạng 19), chứng tỏ môi trường và năng lực của DN rất tốt. Tuy nhiên, đơn vị này cũng chỉ ra những thách thức đối với năng lực cạnh tranh của VN như năng suất, khả năng ứng dụng công nghệ và năng lực đổi mới vẫn chưa đạt tiềm năng. Nhu cầu gia tăng đang tạo áp lực lớn lên cơ sở hạ tầng năng lượng và quá trình chuyển đổi…
Lý giải điều này, TS Nguyễn Văn Điển chỉ rõ: Năng suất và đổi mới chưa đạt tiềm năng là do cơ cấu DN Việt đa số là nhỏ, vừa và siêu nhỏ. Họ sẽ thiếu quy mô về nguồn lực tài chính, vốn để đầu tư cho nghiên cứu phát triển. Do vậy, năng suất lao động không được đẩy lên cao khi không có đào tạo lại, hay không có vốn để chuyển giao công nghệ. "Yếu tố này thì trong luật DN nhỏ và vừa cũng như thể chế của VN sắp tới đây sẽ có cải thiện. Chúng ta có Quỹ tín dụng hỗ trợ đổi mới và chuyển giao công nghệ, đổi mới công nghệ. Đây là nền tảng giúp những DN nhỏ và vừa đang thiếu vốn, đang hụt hơi trong cuộc đua năng suất lao động sẽ có nguồn vốn vay và có điều kiện giải ngân, thủ tục giải ngân cũng sẽ tốt hơn. Như vậy, năng suất lao động sẽ tiến bộ hơn", TS Nguyễn Văn Điển nói.
Dù vậy, ông Điển vẫn lưu ý, đây cũng là lời cảnh báo để VN bắt buộc phải đầu tư nhiều hơn về nghiên cứu phát triển theo Nghị quyết 57 của Bộ Chính trị về phát triển KH-CN, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia cũng như cải thiện chính sách, thủ tục tháo gỡ cho DN nhỏ và vừa có đủ không gian đổi mới sáng tạo. "Thực tế, với tất cả những cảnh báo của IDM, VN đều đã có chính sách và đang quyết liệt thực hiện. VN đang có sự chuyển dịch rất tốt về thể chế, hạ tầng, TTHC. Chúng ta còn có niềm tin chiến lược của các nhà đầu tư nước ngoài, đặc biệt là các đối tác chiến lược toàn diện. Tôi tin tưởng với một xác suất rất cao là chúng ta sẽ tăng trưởng bền vững và bứt phá, tiếp tục cải thiện năng lực cạnh tranh tốt hơn, vào top 20 trong năm tới", TS Nguyễn Văn Điển kỳ vọng.
Cũng nhận định VN đã có những thay đổi tích cực trong thời gian gần đây, như việc cải tổ bộ máy hành chính, cắt giảm nhiều điều kiện kinh doanh hay TTHC, nhưng ông Đinh Tuấn Minh chỉ ra rằng vẫn còn một số điểm yếu hay các chỉ số đánh giá vẫn khiêm tốn. Câu chuyện năng suất, khả năng ứng dụng công nghệ và năng lực đổi mới vẫn chưa đạt tiềm năng đã được các bộ, ngành, chuyên gia kinh tế nói rất nhiều. Dù biết để thay đổi cần có thời gian, nhưng tốc độ cải thiện còn khá chậm.
Ông nhấn mạnh: Rất nhiều chính sách mới, khuyến khích và cổ vũ phát triển KH-CN, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số… cho thấy khung pháp lý đã có đầy đủ. Quan trọng nhất là phải kiên trì thực hiện các chính sách này, thẩm thấu ở tất cả các cấp. Chẳng hạn, từ trường đại học đến các viện nghiên cứu hay cả hệ sinh thái liên quan đổi mới sáng tạo, cần làm sao để hiệu trưởng, viện trưởng có thể mạnh dạn quyết định mời những nhân sự có tài về đứng đầu các bộ phận nghiên cứu, giảng dạy. Tương tự, các trường, viện sẽ mạnh dạn đầu tư cho một dự án nghiên cứu mang tính rủi ro cao mà không quá lo sợ về trách nhiệm sau đó. Điều này đồng nghĩa làm thế nào có được ranh giới giữa sáng tạo đổi mới với rủi ro vi phạm pháp luật để người làm công tác nghiên cứu, đầu tư không lo sợ. Từ đó họ mới tự tin, mạnh dạn hơn để thật sự có sự bứt phá trong các lĩnh vực nêu trên, đặc biệt KH-CN. Điều đó sẽ tạo ra động lực, góp phần cho kinh tế tăng trưởng cao, bền vững.
Tin Gốc: Thanh Niên

CTCP Chứng khoán VietinBank (HoSE: CTS) vừa công bố báo cáo tài chính quý II/2026 với bức tranh kinh doanh kém khả quan khi lợi nhuận sụt giảm so với cùng kỳ.
Nguyên nhân chủ yếu đến từ sự suy yếu của hoạt động tự doanh trong bối cảnh diễn biến thị trường không thuận lợi, trong khi chi phí tài chính tăng cao đã làm thu hẹp đáng kể hiệu quả hoạt động.
Trong quý II/2026, doanh thu hoạt động của CTS đạt 357 tỷ đồng, giảm 38% so với mức 578 tỷ đồng cùng kỳ năm trước. Sự sụt giảm chủ yếu đến từ mảng đầu tư tự doanh vốn là một trong những nguồn đóng góp quan trọng vào kết quả kinh doanh của doanh nghiệp trong nhiều năm qua.
Cụ thể, lãi từ tài sản tài chính ghi nhận thông qua lãi/lỗ (FVTPL) chỉ đạt 97 tỷ đồng, giảm 73% so với cùng kỳ. Đáng chú ý, khoản lãi từ bán các tài sản FVTPL chỉ còn chưa tới 19 tỷ đồng, giảm khoảng 90% so với quý II/2025.
Trong khi đó, lỗ từ đánh giá lại các tài sản FVTPL lên tới khoảng 130 tỷ đồng, khiến hoạt động tự doanh của công ty ghi nhận khoản lỗ gộp gần 37 tỷ đồng, trái ngược mức lãi gần 160 tỷ đồng của cùng kỳ năm trước.
Không chỉ mảng tự doanh, doanh thu môi giới chứng khoán cũng suy giảm khi chỉ đạt 28 tỷ đồng, thấp hơn hơn 30% so với cùng kỳ năm 2025.
Ở chiều ngược lại, một số mảng kinh doanh cốt lõi vẫn duy trì đà tăng trưởng. Lãi từ các khoản cho vay và phải thu đạt 145 tỷ đồng, tăng 41% so với cùng kỳ và trở thành nguồn thu lớn nhất của công ty trong quý. Đồng thời, lãi từ các khoản đầu tư nắm giữ đến ngày đáo hạn (HTM) đạt 55 tỷ đồng, tăng 27%.
Tuy nhiên, sự tăng trưởng của hoạt động cho vay và đầu tư nắm giữ chưa đủ bù đắp mức suy giảm mạnh từ tự doanh.
Bên cạnh đó, áp lực chi phí cũng gia tăng khi chi phí tài chính lên tới gần 158 tỷ đồng, tăng khoảng 80% so với cùng kỳ, chủ yếu do chi phí lãi vay tăng nhằm bổ sung nguồn vốn phục vụ hoạt động kinh doanh.
Trong khi doanh thu hoạt động giảm mạnh, tổng chi phí và chi phí khác chỉ giảm khoảng 6%, xuống còn 338 tỷ đồng. Chênh lệch giữa tốc độ giảm doanh thu và mức cắt giảm chi phí đã khiến lợi nhuận của doanh nghiệp lao dốc.
Kết thúc quý II/2026, Chứng khoán VietinBank ghi nhận lợi nhuận sau thuế đạt 15,4 tỷ đồng, cũng giảm 91%, đồng thời là mức lợi nhuận theo quý thấp nhất trong 13 quý gần đây.
Trong văn bản giải trình gửi cơ quan quản lý, doanh nghiệp cho biết doanh thu hoạt động quý II/2026 giảm hơn 221 tỷ đồng, trong khi tổng chi phí chỉ giảm hơn 22,5 tỷ đồng.
Theo CTS, nguyên nhân chủ yếu khiến lợi nhuận đi xuống là kết quả đánh giá lại danh mục tài sản tài chính FVTPL và lợi nhuận từ hoạt động bán tài sản tài chính thấp hơn đáng kể so với cùng kỳ năm trước.
Lũy kế 6 tháng đầu năm 2026, doanh thu hoạt động của CTS đạt 709 tỷ đồng, giảm 32% so với cùng kỳ. Lợi nhuận trước thuế đạt 100,7 tỷ đồng, còn lợi nhuận sau thuế đạt 81,2 tỷ đồng, giảm hơn 71% so với nửa đầu năm 2025.
Năm 2026, Chứng khoán VietinBank đặt mục tiêu lợi nhuận trước thuế 454 tỷ đồng. Như vậy, sau nửa đầu năm, doanh nghiệp mới hoàn thành khoảng 22% kế hoạch lợi nhuận cả năm.
Dù kết quả kinh doanh suy giảm, quy mô tài sản của công ty vẫn tiếp tục mở rộng. Tính đến ngày 30/6/2026, tổng tài sản đạt hơn 12.247 tỷ đồng, tăng 16% so với cùng kỳ năm trước.
Trong cơ cấu tài sản, dư nợ cho vay ký quỹ (margin) đạt 5.321 tỷ đồng, tăng 26% và chiếm khoảng 43% tổng tài sản, tiếp tục là khoản mục lớn nhất trên bảng cân đối kế toán. Điều này cho thấy hoạt động cho vay vẫn được doanh nghiệp duy trì mở rộng và đóng vai trò quan trọng trong cơ cấu nguồn thu.
Tin Gốc: Người Đưa Tin
Kinh Tế
LPB tăng trần, thanh khoản đột biến khi ông Phạm Nhật Vượng xuất hiện trong danh sách cổ đông

Cổ phiếu LPB của Ngân hàng TMCP Lộc Phát Việt Nam (LPBank) trở thành tâm điểm thị trường trong phiên giao dịch ngày 23/6 khi tăng kịch trần lên 52.600 đồng/cổ phiếu, đồng thời ghi nhận thanh khoản đột biến với giá trị giao dịch xấp xỉ 8.000 tỷ đồng.
Kết phiên, LPB tăng 6,91% so với tham chiếu, đóng cửa tại mức giá cao nhất ngày và không còn dư bán. Trong phiên, cổ phiếu này dao động trong vùng 50.200 - 52.600 đồng/cổ phiếu, mở cửa tại 50.500 đồng/cổ phiếu.
Theo dữ liệu giao dịch, hơn 171 triệu cổ phiếu LPB được sang tay, tương ứng giá trị gần 7.934 tỷ đồng. Trong đó, giao dịch thỏa thuận chiếm tỷ trọng áp đảo với khoảng 153,8 triệu cổ phiếu, giá trị hơn 7.074 tỷ đồng.
Khối lượng thỏa thuận này tương đương khoảng 5,15% lượng cổ phiếu đang lưu hành của LPBank và cao gấp nhiều lần thanh khoản bình quân của mã trong thời gian gần đây.
Trước phiên bứt phá ngày 23/6, cổ phiếu LPB đã trải qua giai đoạn tăng giá tương đối ổn định. Trong 10 phiên giao dịch gần nhất, mã này ghi nhận 8 phiên tăng và chỉ 2 phiên giảm, đưa thị giá từ 46.600 đồng/cổ phiếu (phiên 10/6) lên 52.600 đồng/cổ phiếu, tương đương mức tăng gần 13%.
Thanh khoản khớp lệnh trong giai đoạn này duy trì ở mức khiêm tốn, phần lớn dao động từ vài trăm nghìn đến hơn 1,5 triệu cổ phiếu mỗi phiên, trước khi tăng mạnh lên hơn 4,2 triệu đơn vị trong phiên 22/6 và hơn 7,3 triệu đơn vị trong phiên 23/6.
Trên thị trường, LPB đang là một trong những cổ phiếu ngân hàng có diễn biến tích cực nhất trong thời gian qua. So với một tuần trước, thị giá LPB tăng 13,24%; tăng 35,27% trong vòng 3 tháng và tăng 76,15% so với cùng kỳ năm trước.
Mức giá đóng cửa phiên 23/6 cũng chỉ còn cách khoảng 2,8% so với đỉnh 52 tuần là 54.100 đồng/cổ phiếu được thiết lập cuối tháng 5 vừa qua.
Đáng chú ý, LPB cũng nhiều lần xuất hiện các giao dịch thỏa thuận quy mô lớn trong những phiên gần đây, trong đó phiên 19/6 ghi nhận hơn 35,2 triệu cổ phiếu thỏa thuận, trước khi bùng nổ lên gần 163,8 triệu cổ phiếu trong phiên 23/6.
Đà tăng của LPB diễn ra trong bối cảnh ngân hàng công bố danh sách cổ đông sở hữu từ 1% vốn điều lệ trở lên theo quy định của Luật Các tổ chức tín dụng 2024.
Theo danh sách cập nhật đến ngày 23/6, LPBank có hai cổ đông sở hữu trên 1% vốn điều lệ. Trong đó, Tổng công ty Bưu điện Việt Nam (VNPost) nắm giữ hơn 195,28 triệu cổ phiếu, tương đương 6,537% vốn điều lệ và tiếp tục là cổ đông lớn nhất.
Đáng chú ý, ông Phạm Nhật Vượng lần đầu xuất hiện trong danh sách với 146,2 triệu cổ phiếu LPB, tương ứng 4,894% vốn điều lệ.
Khối lượng cổ phiếu LPB mà ông Vượng được công bố nắm giữ tương đương khoảng 95% lượng cổ phiếu thỏa thuận xuất hiện trong phiên 23/6. Tuy nhiên, ngân hàng không công bố bên mua và bên bán trong các giao dịch này.
Tính theo giá đóng cửa 52.600 đồng/cổ phiếu, lượng cổ phần LPB do ông Vượng nắm giữ có giá trị thị trường khoảng 7.690 tỷ đồng.
Sự xuất hiện của ông Vượng cũng đưa tỉ lệ sở hữu của hai cổ đông được LPBank công bố hiện nay lên hơn 341,4 triệu cổ phiếu, tương đương khoảng 11,43% vốn điều lệ ngân hàng.
Theo báo cáo tài chính quý I/2026, LPBank ghi nhận lợi nhuận trước thuế 2.826 tỷ đồng, tăng trưởng nhờ thu nhập lãi thuần đạt 3.878 tỷ đồng. Tính đến cuối quý I/2026, tổng tài sản của ngân hàng đạt 580.859 tỷ đồng, dư nợ cho vay khách hàng hơn 403.000 tỷ đồng và tiền gửi khách hàng đạt gần 346.000 tỷ đồng.
Tin Gốc: Người Đưa Tin

