Tại Thông báo kết luận của Bộ trưởng Bộ Xây dựng Trần Hồng Minh cho biết, giai đoạn 2001 – 2010 cả nước chỉ đưa vào khai thác được 89 km cao tốc. Đến hết năm 2020, tổng chiều dài cao tốc được bổ sung lên 1.163 km.
Tuy nhiên, chỉ trong vòng 5 năm (2021 – 2025), ngành giao thông vận tải đã làm nên một kỳ tích khi đưa vào khai thác và thông tuyến chính toàn bộ các dự án theo kế hoạch, nâng tổng số chiều dài đường bộ cao tốc lên 3.345 km (cùng khoảng 458 km nút giao và đường dẫn).
Dù đạt được con số ấn tượng, áp lực phía trước vẫn cực kỳ lớn khi mục tiêu đến năm 2030 cả nước phải đạt 5.000 km cao tốc theo Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XIII.
Để hiện thực hóa mục tiêu 5.000 km cao tốc với yêu cầu “Nhanh, đúng, trúng, chuẩn, hiệu quả, an toàn”, Bộ trưởng Trần Hồng Minh yêu cầu các chủ đầu tư phải quyết liệt trong chỉ đạo điều hành, thực hiện nghiêm phương châm “6 rõ”: rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm, rõ thẩm quyền, rõ thời gian, rõ kết quả.
Đặc biệt, Bộ trưởng nhắc nhở các đơn vị tư vấn giám sát cần nâng cao tính độc lập, khách quan: Tuyệt đối không vì tiến độ mà đánh đổi chất lượng công trình. Đồng thời, các cơ quan, đơn vị phải thẳng thắn nhìn nhận, rút kinh nghiệm sâu sắc các hạn chế mà Thanh tra Chính phủ và Kiểm toán nhà nước đã nêu.
Cụ thể là các sai sót trong công tác lập, thẩm định dự án đầu tư, thiết kế kỹ thuật, dự toán (xác định định mức, đơn giá), cũng như việc chậm triển khai hệ thống quản lý giao thông thông minh, trạm thu phí, kiểm soát tải trọng và các trạm dừng nghỉ.
Một trong những điểm đáng chú ý trong kết luận lần này là việc giải quyết bài toán kỹ thuật theo đặc thù từng vùng miền. Theo đó, khu vực phía Bắc phải tập trung giải pháp xử lý ổn định mái dốc. Khu vực Nam Trung bộ cần khắc phục triệt để độ dính bám đá – nhựa. Khu vực ĐBSCL thì cần đặc biệt quan tâm xử lý nền đất yếu để đảm bảo cao tốc êm thuận khi khai thác; ưu tiên giải pháp cầu cạn.
Bộ trưởng Trần Hồng Minh giao Vụ Kế hoạch – Tài chính khẩn trương cập nhật điều chỉnh quy hoạch mạng lưới đường bộ thời kỳ 2021 – 2030, tầm nhìn đến năm 2050 để sớm trình ban hành ngay trong tháng này làm cơ sở triển khai.
Song song, đơn vị này phải chỉ đạo các chủ đầu tư, tư vấn nghiên cứu kỹ phương án phân kỳ đầu tư sao cho phù hợp thực tế, nhằm khắc phục triệt để những hạn chế, bất cập trong quá trình khai thác tại các dự án đã triển khai trước đây .
Cục Kinh tế – Quản lý đầu tư xây dựng được giao phối hợp chặt chẽ để rà soát, tham mưu ban hành hệ thống định mức, đơn giá, trong đó phải sớm có định mức sử dụng cát biển để đủ cơ sở triển khai thực hiện phù hợp với thực tế. Đặc biệt, phải sớm ban hành định mức sử dụng cát biển để làm cơ sở thực hiện, giải tỏa “cơn khát” vật liệu miền Tây.
“Trước ngày 10.7, các Ban Quản lý dự án, đơn vị tư vấn thiết kế lớn (như TEDI, TEDI SOUTH, Trường Sơn) và các nhà thầu phải nộp báo cáo chi tiết về các tồn tại, bất cập trong hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn và văn bản pháp luật để Bộ tổng hợp, sửa đổi trong thời gian tới” – Người đứng đầu ngành xây dựng giao nhiệm vụ.
Vừa từ Hà Nội nên dù TP.HCM đang ở trong những ngày nắng nóng, ông Đặng Quốc Bảo vẫn thấy "mát mẻ" bởi thời tiết ở Hà Nội "cực kỳ kinh hoàng" với nhiệt độ lên trên 40°C, "đứng ở ngoài sân thì giống như có cái máy nóng phả vào người". Cùng với đó, nhu cầu sử dụng điện liên tục lập các kỷ lục mới về phụ tải. Ở góc độ doanh nghiệp (DN), theo ông Bảo, khi nói đến kinh doanh là nói đến thị trường, đến quan hệ cung cầu. Đặt trong bối cảnh đó, với ngành năng lượng tái tạo, có thể nói đây là giai đoạn rất thuận lợi.
"Đối với DN năng lượng tái tạo, khó nhất là tìm khách hàng nhưng hiện cung không đủ cầu. Từ khoảng 4 - 5 năm trước, nhiều chuyên gia đã dự báo Việt Nam sẽ bước vào giai đoạn thiếu nguồn cung điện và tình trạng này sẽ còn kéo dài thêm ít nhất 2 - 3 năm tới. Điều đó đồng nghĩa với việc các DN phát điện, đặc biệt là DN năng lượng tái tạo, đang có nhiều cơ hội phát triển", ông Bảo giải thích. Tuy nhiên, áp lực lớn nhất hiện nay thuộc về đơn vị bảo đảm cung ứng điện là EVN. Trong khi các đơn vị phát điện lại đứng trước một thị trường có nhu cầu rất lớn. Về lâu dài, một thị trường điện chỉ thực sự vận hành ổn định khi nguồn cung lớn hơn nhu cầu và có sự cạnh tranh giữa nhiều nhà cung cấp. Tuy nhiên, ở thời điểm này, khi cung vẫn thấp hơn cầu thì dư địa phát triển của ngành vẫn còn rất lớn. Đó cũng là lý do trong hai năm gần đây, không chỉ các DN, nhiều tập đoàn thuộc các lĩnh vực khác cũng bắt đầu tham gia đầu tư vào điện gió, điện mặt trời, cho thấy sức hấp dẫn cũng như tiềm năng rất lớn của ngành năng lượng tại Việt Nam.
Một yếu tố nữa là Việt Nam có lợi thế về địa lý trong phát triển năng lượng tái tạo cho nên từ góc độ DN, nếu chỉ xét trên phương diện kinh tế, đây là một trong những lĩnh vực có khả năng tạo ra giá trị rất lớn. Các dự án năng lượng tái tạo sở hữu tài sản ổn định, nguồn doanh thu dài hạn, thị trường tiêu thụ sẵn có và cũng là loại tài sản được các tổ chức tín dụng đánh giá cao. Ngân hàng luôn ưu tiên tài trợ cho những dự án có dòng tiền ổn định kéo dài từ 30 đến 40 năm. Vì vậy, quá trình chuyển đổi sang năng lượng tái tạo không chỉ mang ý nghĩa bảo vệ môi trường mà còn là cơ hội kinh tế rất rõ ràng.
Theo ông Đặng Quốc Bảo, đối với Trung Nam, triết lý phát triển luôn dựa trên ba yếu tố cốt lõi là môi trường, con người và hiệu quả kinh tế. Một lĩnh vực chỉ có thể phát triển bền vững khi đồng thời đáp ứng được cả ba yếu tố này. Hiện nay, ngành năng lượng tái tạo hội tụ đầy đủ cả ba điều kiện đó. Trong thời gian qua, ngành năng lượng đã gặp không ít khó khăn về chính sách, nguồn vốn, hạ tầng kỹ thuật và nguồn nhân lực. Tuy nhiên, Bảo cho rằng, "đây là những khó khăn bình thường của một nền kinh tế đang trong quá trình chuyển đổi. Việt Nam đang chuyển từ mô hình chỉ có một đơn vị chủ đạo là EVN sang một thị trường có sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế. Quá trình xây dựng chính sách để vừa bảo đảm an ninh năng lượng, vừa tạo môi trường cạnh tranh công bằng chắc chắn sẽ có những sai sót. Sau mỗi lần điều chỉnh, chúng ta phải rà soát, sửa đổi, thử nghiệm rồi tiếp tục hoàn thiện. Đó là quy luật tất yếu của quá trình phát triển.
Là DN tiên phong trong lĩnh vực năng lượng tái tạo, Trung Nam cũng đã trải qua hầu hết những khó khăn đó. Trung Nam cũng là đơn vị đầu tiên đầu tư xây dựng trạm biến áp 500 kV bàn giao cho Nhà nước; đồng thời là một trong những DN tiên phong phát triển điện gió và điện mặt trời. Trong quá trình triển khai, Trung Nam từng gặp vướng mắc về pháp lý, chính sách, nguồn vốn cũng như kỹ thuật. Có những dự án phải chạy đua tiến độ khiến thiết bị vận hành chưa đạt hiệu quả như mong muốn, thậm chí có nhà máy có hệ số công suất thuộc nhóm thấp nhất thị trường trong năm đầu vận hành. Đó đều là những bài học thực tiễn rất đắt giá.
Ông Đặng Quốc Bảo cho hay, thị trường năng lượng Việt Nam đã bước sang giai đoạn phát triển thứ hai. Sau thời kỳ tăng trưởng nóng và những bài học kinh nghiệm, thị trường đang chuyển sang giai đoạn phát triển thận trọng hơn, với nền tảng chính sách ngày càng hoàn thiện và sự chuẩn bị tốt hơn từ phía DN. Việt Nam đang đứng trước cơ hội rất lớn để tiếp tục phát triển mạnh ngành năng lượng tái tạo. Dù trong quá trình đó vẫn có những chính sách ban hành chậm hoặc cần điều chỉnh, nhưng xu hướng phát triển là không thể đảo ngược. Có thể lấy cơ chế mua bán điện trực tiếp là ví dụ. Từ Nghị định 80 đến Nghị định 57, sau hơn một năm rưỡi mới có DN đầu tiên công bố triển khai thành công. Đây là một cột mốc quan trọng của thị trường, dù trên thực tế vẫn còn nhiều vấn đề cần tiếp tục hoàn thiện trong quá trình vận hành. Xa hơn, nếu trước đây nguồn điện chủ yếu đến từ các DN nhà nước thì trong khoảng 5 - 10 năm tới, cùng với sự phát triển của cơ chế mua bán điện trực tiếp và các mô hình lưới điện mới, thị trường mua bán điện trực tiếp giữa các DN sẽ phát triển rất nhanh. "Đây sẽ là động lực quan trọng giúp giảm áp lực đầu tư cho nhà nước và EVN, đồng thời tạo ra một thị trường điện cạnh tranh, linh hoạt và hiệu quả hơn, đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của nền kinh tế", ông Bảo nói.
Cục Thuế (Bộ Tài chính) vừa ban hành Công văn 4014/CT-NVT hướng dẫn các cơ quan thuế địa phương việc kê khai tờ khai thuế thu nhập cá nhân từ tiền lương, tiền công theo Nghị quyết 66.16/2026/NQ-CP (Nghị quyết 66).
Theo Nghị quyết 66, từ ngày 15.4, người nộp thuế sẽ chuyển từ kê khai theo tháng sang kê khai theo quý khi kê khai các tờ khai thuế thu nhập cá nhân từ tiền lương, tiền công (tờ khai mẫu số 02/KK-TNCN, 05/KK-TNCN ban hành kèm Thông tư 80/2021/TT-BTC).
Ngày 19.5, Cục Thuế đã thực hiện nâng cấp các ứng dụng thuế điện tử để chặn không tiếp nhận đối với các tờ khai 02/KK-TNCN, 05/KK-TNCN kê khai theo tháng có kỳ tính thuế từ tháng 4 trở đi.
Cơ quan này đề nghị các thuế tỉnh, thành phố, Chi cục Thuế doanh nghiệp lớn, Chi cục Thuế thương mại điện tử hướng dẫn người nộp thuế được giao quản lý thực hiện kê khai tờ khai thuế thu nhập cá nhân (mẫu số 02/KK-TNCN, 05/KK-TNCN) theo quý kể từ kỳ tính thuế quý 2/2026 theo quy định tại Nghị quyết 66.
Đối với người nộp thuế đã được cơ quan thuế tiếp nhận và trả thông báo chấp nhận tờ khai tháng 4, cơ quan thuế hướng dẫn như sau:
Khi thực hiện kê khai tờ khai quý 2/2026, người nộp thuế chỉ tổng hợp số liệu kê khai tương ứng với nghĩa vụ phát sinh của các tháng 5, 6 và không tổng hợp nghĩa vụ đã kê khai của tờ khai tháng 4 vào tờ khai quý 2/2026 để không bị tính trùng nghĩa vụ thuế.
Trường hợp người nộp thuế phát hiện tờ khai thuế tháng 4 có sai sót thì thực hiện kê khai bổ sung tờ khai thuế tháng 4 theo quy định.
Người nộp thuế được nộp số thuế thu nhập cá nhân phát sinh trên tờ khai tháng 4 (nếu có) theo thời hạn nộp của tờ khai quý 2/2026 (ngày 31.7).
Cục Thuế cho biết, đơn vị này đã thực hiện nâng cấp Hệ thống ứng dụng quản lý thuế tập trung (TMS) đáp ứng việc chuyển tự động thời hạn nộp của tờ khai tháng 4 về cùng thời hạn nộp của tờ khai quý 2/2026.
Hệ thống thuế điện tử sẽ tự động gửi thông báo đến người nộp thuế đã được cơ quan thuế tiếp nhận và trả thông báo chấp nhận tờ khai tháng 4 để người nộp thuế được biết và phối hợp thực hiện.
Đó là thông tin do Thứ trưởng Bộ Công thương Nguyễn Sinh Nhật Tân báo cáo về việc chuyển sử dụng xăng khoáng sang xăng E10 trên toàn quốc từ 1.6, tại giao ban báo chí do Ban Tuyên giáo - Dân vận T.Ư tổ chức ngày 26.5.
Theo lãnh đạo Bộ Công thương, kế hoạch chuyển đổi từ xăng khoáng (hoàn toàn nhiên liệu hóa thạch) sang việc sử dụng nhiên liệu sinh học, xăng sinh học E5, E10 (pha 5% và 10% etanol vào xăng khoáng) là chủ trương của Chính phủ tại Quyết định số 53/2012/QĐ-TTg ngày 22.11.2012 (Quyết định 53).
Đến ngày 7.11.2025, Bộ trưởng Bộ Công thương ban hành Thông tư số 50/2025/TT-BCT quy định, kể từ ngày 1.6.2026, xăng không chì phải phối trộn, pha chế thành xăng E10 để sử dụng cho động cơ xăng trên toàn quốc; tiếp tục phối trộn, pha chế xăng E5RON 92 để sử dụng cho động cơ xăng đến hết 31.12.2030.
Từ cuối năm 2024, Bộ Công thương đã khảo sát tại các địa phương có mức tiêu thụ xăng dầu lớn, các doanh nghiệp có thị phần xăng dầu lớn, làm việc với các chuyên gia về động cơ, nhiên liệu của Đại học Bách khoa Hà Nội, Trung tâm nhiên liệu xanh toàn cầu, tham khảo kinh nghiệm thực tế sử dụng xăng sinh học tại các nước đã sử dụng xăng sinh học… về tác động của xăng sinh học đến hiệu suất và tuổi thọ động cơ.
Bộ Công thương cũng gửi văn bản yêu cầu đánh giá về mức độ đáp ứng của phương tiện đối với xăng E10 đến Hiệp hội các nhà sản xuất ô tô Việt Nam (VAMA), Hiệp hội các nhà sản xuất xe máy Việt Nam (VAMM), Trung tâm đăng kiểm Việt Nam, các hãng sản xuất, lắp ráp ô tô, xe máy lớn như Toyota, Honda, Huyndai…
Các văn bản VAMA, VAM cũng như các hãng sản xuất, lắp ráp ô tô, xe máy đều khẳng định hầu hết ô tô, xe máy đang lưu hành tại Việt Nam đều sử dụng được xăng E10 (ngoại trừ một dòng xe tải hạng nhẹ sản xuất từ 1996 đến 2023 thì dừng sản xuất và một số xe máy). Tuy nhiên, để đảm bảo mọi loại xe đều có nhiên liệu sử dụng, tránh mọi nguy cơ (dù là rất nhỏ) có loại xe quá cũ không tương thích với xăng E10, Bộ Công thương quyết định vẫn duy trì xăng E5RON 92 đến năm 2030.
Thứ trưởng Bộ Công thương khẳng định, ngay khi Thông tư 50 được ban hành, Bộ Công thương phối hợp cùng các bộ, ngành, địa phương, doanh nghiệp, hiệp hội ngành nghề có liên quan chuẩn bị nguồn cung xăng khoáng, ethanol (E100); chuẩn bị cơ sở hạ tầng lưu chứa, phối trộn; nâng cấp, chuẩn bị hạ tầng phân phối xăng E10 đến người tiêu dùng.
Thứ trưởng Bộ Công thương khẳng định, toàn bộ hệ thống bán lẻ đã có kinh nghiệm kinh doanh xăng E5RON 92 nên về cơ bản, có thể tiếp nhận và phân phối E10 mà không gặp trở ngại lớn về kỹ thuật. Hệ thống phân phối tới người dùng xăng của các doanh nghiệp lớn về cơ bản không gặp nhiều khó khăn trong xử lý các vấn đề nêu trên. Hiện nay, 2 doanh nghiệp đầu mối lớn nhất là Petrolimex và PVOil chiếm khoảng 70 - 75% thị phần bán lẻ xăng dầu.
Trong đó, PVOil đã thử nghiệm phân phối E10 tại Hà Nội và Hải Phòng từ đầu tháng 8.2025 và chính thức phân phối xăng E10 trên toàn hệ thống gần 1.000 cửa hàng xăng dầu trên cả nước từ ngày 15.5. Petrolimex thử nghiệm bán E10 tại một số cửa hàng trên địa bàn TP.HCM và chính thức phân phối trên toàn hệ thống từ ngày 20.5.
"Thực tế phân phối xăng E5, cũng như thử nghiệm, phân phối xăng E10 từ tháng 8.2025 ở một số địa phương và từ giữa tháng 5.2026 trên phạm vi toàn quốc của PVOil và Petrolimex, Bộ Công thương và các doanh nghiệp chưa nhận được khiếu nại chính thức nào về chất lượng xăng sinh học E5, E10 hay các tác động tiêu cực đến hiệu suất hoạt động và tuổi thọ của động cơ từ phía người sử dụng xăng", ông Tân nói.
Thứ trưởng Bộ Công thương khẳng định, sử dụng nhiên liệu sinh học, xăng sinh học là chủ trương đúng đắn để phát triển bền vững và góp phần ổn định, đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia. Việc tăng cường sử dụng nhiên liệu sinh học, xăng sinh học là rất cần thiết.