Trong khuôn khổ chuyến thăm cấp nhà nước đến Trung Quốc của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và phu nhân, hai bên đã ký 32 văn kiện hợp tác trên các lĩnh vực hợp tác kênh đảng, công an, tư pháp, kinh tế, đường sắt, thương mại nông sản, chuỗi sản xuất, chuỗi cung ứng, hợp tác hải quan, khoa học công nghệ, dân sinh, khai thác nguồn nhân lực, truyền thông và địa phương…
Danh sách 32 văn kiện hợp tác được ký kết giữa Việt Nam và Trung Quốc cụ thể như sau:
1. Kế hoạch hợp tác giữa Đảng Cộng sản Việt Nam nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Đảng Cộng sản Trung Quốc nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa giai đoạn 2026 – 2030.
2. Bản ghi nhớ hợp tác giữa Ban Tổ chức Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Ban Tổ chức Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.
3. Thỏa thuận hợp tác giữa Bộ Ngoại giao nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Ban Liên lạc Đối ngoại Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.
4. Bản ghi nhớ về hợp tác trong khuôn khổ Sáng kiến an ninh toàn cầu giữa Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.
5. Giấy chứng nhận bàn giao hồ sơ kết quả Dự án viện trợ Việt Nam lập báo cáo nghiên cứu khả thi tuyến đường sắt Lào Cai – Hà Nội – Hải Phòng giữa Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.
6. Hiệp định giữa Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa về hợp tác và hỗ trợ hành chính lẫn nhau trong lĩnh vực hải quan.
7. Công thư về viện trợ không hoàn lại của Chính phủ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa cho dự án Xây mới cơ sở 2 Học viện Y – Dược học cổ truyền Việt Nam giai đoạn 1.
8. Bản ghi nhớ giữa Bộ Xây dựng nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Ủy ban Phát triển và Cải cách Quốc gia nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa về triển khai hợp tác đào tạo đường sắt để tăng cường năng lực cho nhân lực đường sắt Việt Nam.
9. Bản Ghi nhớ về hợp tác giáo dục nghề nghiệp giữa Bộ Giáo dục – Đào tạo nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam với Bộ Giáo dục nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.
10. Bản ghi nhớ triển khai chương trình nghiên cứu chung Việt Nam-Trung Quốc giữa Bộ Khoa học – Công nghệ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Bộ Khoa học – Công nghệ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.
11. Bản ghi nhớ về hợp tác trong lĩnh vực công nghệ số giữa Bộ Khoa học – Công nghệ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam với Bộ Công nghiệp – Công nghệ thông tin nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.
12. Nghị định thư về thiết lập, quản lý và vận hành đường dây nóng cấp Bộ trưởng giữa Bộ Công an nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Bộ Công an nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.
13. Bản ghi nhớ về hợp tác giao lưu văn hóa, nghệ thuật, thể thao giữa Bộ Công an nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Bộ Công an nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.
14. Bản ghi nhớ hợp tác bảo đảm an ninh, trật tự trong lĩnh vực du lịch giữa Bộ Công an nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Bộ Công an nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa;
15. Bản ghi nhớ hợp tác giữa Bộ Tư pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Bộ Tư pháp nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa về tăng cường hợp tác trong lĩnh vực giải quyết tranh chấp dân sự, thương mại của cư dân biên giới.
16. Chương trình hợp tác 2026 – 2027 giữa Bộ Tư pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Bộ Tư pháp nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.
17. Bản ghi nhớ về việc thành lập Nhóm công tác đàm phán thúc đẩy xây dựng Khu hợp tác kinh tế qua biên giới giữa Bộ Công Thương nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Bộ Thương mại nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.
18. Bản ghi nhớ về việc thành lập Nhóm công tác hợp tác chuỗi sản xuất, chuỗi cung ứng giữa Bộ Công Thương nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Bộ Thương mại nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.
19. Nghị định thư về yêu cầu kiểm dịch thực vật đối với việc xuất khẩu quả bưởi và quả chanh giữa Bộ Nông nghiệp và Môi trường nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Tổng cục Hải quan nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa;
20. Bản ghi nhớ về cùng thực hiện Kế hoạch hợp tác phát triển nguồn nhân lực giữa Bộ Tài chính nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam với Tổng Cục Hợp tác phát triển quốc tế quốc gia nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.
21. Biên bản hội đàm về khảo sát hiện trường công tác nghiên cứu khả thi Dự án viện trợ Việt Nam sửa chữa, bảo trì Cung Hữu nghị Việt – Trung.
22. Thỏa thuận hợp tác giữa Đài tiếng nói Việt Nam nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Hãng Thông tấn Tân Hoa nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa.
23. Bản Ghi nhớ về hợp tác giữa Thông tấn xã Việt Nam nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Tân Hoa xã nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa theo cơ chế Diễn đàn Truyền thông và Tham vấn Phương Nam toàn cầu.
24. Bản ghi nhớ về Hợp tác thông tin giữa Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Tân Hoa xã nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.
25. Thỏa thuận tăng cường hợp tác Văn hóa Nghệ thuật năm 2026 – 2027 giữa Đài Truyền hình Việt Nam nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Đài Phát thanh truyền hình Trung ương Trung Quốc nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa.
26. Thỏa thuận hợp tác giữa Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Đài Phát thanh, Truyền hình Trung ương Trung Quốc nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.
27. Bản Ghi nhớ về tăng cường hợp tác giữa Thông tấn xã Việt Nam nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Đài Phát thanh – Truyền hình Trung ương Trung Quốc nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa;
28. Bản ghi nhớ hợp tác giữa Tạp chí Cộng sản Việt Nam nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Đài Truyền hình Trung ương Trung Quốc nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.
29. Bản Ghi nhớ hợp tác giữa thành phố Hà Nội, thủ đô nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và thành phố Bắc Kinh, thủ đô nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa giai đoạn 2026 – 2030.
30. Thỏa thuận thiết lập quan hệ hữu nghị cấp tỉnh giữa tỉnh Phú Thọ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và tỉnh Sơn Tây nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.
31. Thỏa thuận về triển khai hợp tác bồi dưỡng cán bộ giữa Đảng ủy các tỉnh, thành phố Quảng Ninh, Lạng Sơn, Cao Bằng, Tuyên Quang, Hải Phòng nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Khu ủy Khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.
32. Bản ghi nhớ giữa Ủy ban nhân dân tỉnh Lạng Sơn, Việt Nam và Chính quyền nhân dân Khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây, Trung Quốc về xác nhận vị trí, loại hình, thời gian mở cửa, thời gian làm việc và nâng cấp cửa khẩu song phương Chi Ma (Việt Nam) – Ái Điểm (Trung Quốc) lên thành cửa khẩu quốc tế.
Làm việc với Bộ Ngoại giao, Thủ tướng Lê Minh Hưng nêu rõ, Đại hội XIV của Đảng đã xác định "đẩy mạnh đối ngoại và hội nhập quốc tế là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên"; đây là bước chuyển tư duy chiến lược rất quan trọng của Đảng, cho thấy sự đánh giá cao đối với vai trò, vị trí rất quan trọng của lĩnh vực đối ngoại, ngoại giao.
Thời gian gần đây, tình hình thế giới biến chuyển nhanh, phức tạp, khó lường, trong khi những biến động dù nhỏ hay lớn đều tác động trực tiếp tới VN, cơ chế truyền tải tác động rất đa chiều, liên ngành; đặt ra nhiều thách thức, đòi hỏi phải phát huy chủ động, dự báo chiến lược, phản ứng chính sách, có kịch bản ứng phó với các tình huống có thể xảy ra.
Ghi nhận những nỗ lực của Bộ Ngoại giao, Thủ tướng cho rằng cần nhận diện rõ hạn chế, khó khăn, thách thức và những nguyên nhân để làm tốt hơn nữa thời gian tới; đẩy mạnh xây dựng ngành ngoại giao toàn diện, hiện đại, chuyên nghiệp. Thủ tướng lưu ý các cơ quan đại diện VN tại nước ngoài cần chủ động, tích cực hơn nữa, bám sát tình hình, diễn biến thế giới nói chung và nước sở tại nói riêng, nắm chắc địa bàn; tăng cường hơn nữa hợp tác giữa VN với các nước trên các lĩnh vực mà ta quan tâm, chú trọng; mở rộng thị trường xuất nhập khẩu hàng hóa, hợp tác thúc đẩy khoa học, công nghệ, lao động...
Tại cuộc làm việc với Bộ Tư pháp, Thủ tướng nhấn mạnh, là cơ quan "gác cổng pháp lý", Bộ có trách nhiệm rất lớn, vai trò quan trọng để pháp luật, thể chế thực sự là một đột phá chiến lược, phục vụ phát triển đất nước, tăng trưởng 2 con số.
Thủ tướng cũng lưu ý việc xây dựng thể chế cần đặc biệt lưu ý công tác kiểm soát, không để tình trạng luật chờ văn bản hướng dẫn thi hành như thời gian qua; phòng chống tham nhũng, tiêu cực, lợi ích nhóm, cơ chế "xin - cho" trong công tác xây dựng pháp luật; cũng như lưu ý các quy định trên môi trường mạng, môi trường số.
Bộ Tư pháp, Văn phòng Chính phủ phải rà soát rất kỹ dự thảo trước khi báo cáo Chính phủ, Thủ tướng, nếu còn ý kiến khác nhau phải tăng cường trao đổi trực tiếp với cơ quan soạn thảo. "Trao đổi trực tiếp thì chỉ mất một tiếng là có thể giải quyết rất thông suốt, nhưng nếu phát văn bản thì cả tháng không xong", Thủ tướng nêu.
Thủ tướng cũng yêu cầu hoàn thành việc xây dựng, kết nối, đồng bộ dữ liệu của các cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành về Trung tâm dữ liệu quốc gia, khắc phục các lỗi kỹ thuật của hệ thống đăng ký, quản lý hộ tịch điện tử, hoàn thành trong tháng 5.
Tại cuộc tiếp, đại diện lãnh đạo Tập đoàn Dầu khí quốc gia Ấn Độ (ONGC) bày tỏ mong muốn tiếp tục là đối tác chiến lược lâu dài, đồng hành cùng Việt Nam phát triển ngành dầu khí và bảo đảm an ninh năng lượng, góp phần củng cố quan hệ Việt Nam - Ấn Độ.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đánh giá Tập đoàn Dầu khí quốc gia Ấn Độ là một trong những tập đoàn dầu khí có kinh nghiệm, năng lực triển khai các dự án phù hợp với nhu cầu phát triển ngành Dầu khí của Việt Nam; ghi nhận những đóng góp thực chất của tập đoàn tại Việt Nam trong gần 40 năm qua; hoan nghênh tập đoàn tiếp tục mở rộng hợp tác trong lĩnh vực thăm dò, khai thác dầu khí tại Việt Nam.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cho biết Việt Nam đã đặt mục tiêu tập trung bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia trước mắt và lâu dài; bao gồm việc bảo đảm nguồn cung dầu thô, khí đốt, đồng thời tiếp tục hoàn thiện khung khổ pháp lý dầu khí; mong muốn tập đoàn tiếp tục là đối tác quan trọng trong lĩnh vực thăm dò và khai thác dầu khí, góp phần vào duy trì sản lượng khai thác và bảo đảm nguồn cung năng lượng. Việt Nam sẵn sàng tạo điều kiện thuận lợi, trên cơ sở tuân thủ pháp luật và các cam kết liên quan.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm mong muốn hợp tác với tập đoàn không chỉ trong duy trì các dự án hiện hữu, mà hướng tới việc mở rộng hợp tác trong lĩnh vực thăm dò và khai thác dầu khí, gắn với chiến lược bảo đảm an ninh năng lượng dài hạn.
Tiếp đại diện lãnh đạo Tập đoàn Larsen & Toubro (L&T), Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm mong muốn tăng cường hợp tác với các tập đoàn hàng đầu của Ấn Độ, nhất là trong lĩnh vực hạ tầng và công nghiệp, nhằm nâng cao năng lực kết nối và thúc đẩy phát triển bền vững. Việt Nam đánh giá cao tập đoàn có năng lực triển khai các dự án hạ tầng quy mô lớn, phức tạp và đa lĩnh vực.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cho biết Việt Nam đang đẩy mạnh phát triển kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại; hoan nghênh tập đoàn tiếp tục mở rộng hợp tác, đầu tư tại Việt Nam trong các lĩnh vực hạ tầng, năng lượng.
Việt Nam cam kết tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư có năng lực, trên cơ sở tuân thủ pháp luật, bảo đảm minh bạch, hài hòa lợi ích giữa các bên; kỳ vọng tập đoàn sẽ trở thành đối tác chiến lược lâu dài, đồng hành trong quá trình phát triển hạ tầng hiện đại, góp phần thúc đẩy hợp tác kinh tế Việt Nam - Ấn Độ trong giai đoạn mới.
Đại diện lãnh đạo Tập đoàn Larsen & Toubro bày tỏ mong muốn tiếp tục tham gia vào các dự án hạ tầng giao thông, năng lượng, cảng biển tại Việt Nam.
Tiếp lãnh đạo Tập đoàn Adani, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh Việt Nam đang bước vào giai đoạn phát triển mới, trong đó hạ tầng, năng lượng và logistics là các trụ cột then chốt để đạt mục tiêu tăng trưởng nhanh và bền vững.
Nhận định Tập đoàn Adani là một trong những tập đoàn có kinh nghiệm hàng đầu thế giới trong việc triển khai các dự án quy mô lớn trong lĩnh vực năng lượng, cảng biển và logistics, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đánh giá cao những hoạt động đầu tư hiện hữu của tập đoàn tại Việt Nam trong lĩnh vực năng lượng; hoan nghênh sự quan tâm và các đề xuất đầu tư cụ thể của tập đoàn tại Việt Nam, nhất là trong bối cảnh nhu cầu phát triển hạ tầng năng lượng và logistics của Việt Nam đang gia tăng nhanh chóng.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cho biết, thời gian tới, Việt Nam mong muốn Tập đoàn Adani nghiên cứu, tham gia hợp tác không chỉ dừng ở từng dự án riêng lẻ, mà hướng tới khả năng tham gia vào các chương trình phát triển hạ tầng quy mô lớn, có tính kết nối giữa các lĩnh vực như cảng biển - logistics - năng lượng. Hai bên có thể nghiên cứu các mô hình hợp tác phù hợp, từng bước mở rộng quy mô, gắn với chiến lược phát triển dài hạn của Việt Nam và chiến lược hướng đông của tập đoàn.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm kỳ vọng tập đoàn sẽ trở thành đối tác lâu dài, đồng hành cùng Việt Nam trong quá trình phát triển hạ tầng, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững và nâng cao năng lực cạnh tranh. Việt Nam luôn tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp nước ngoài, trong đó có Tập đoàn Adani, hoạt động hiệu quả, an toàn, thành công và bền vững tại Việt Nam.
Trả lời phỏng vấn báo chí về những điểm nhấn trọng tâm trong chuyến thăm chính thức Thái Lan sắp tới của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và phu nhân, Đại sứ Thái Lan tại Việt Nam Urawadee Sriphiromya khẳng định đây là chuyến thăm hết sức quan trọng.
"Đây là chuyến thăm chính thức đầu tiên của nhà lãnh đạo cấp cao nhất Việt Nam tới Thái Lan sau Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ XIV và sau khi bộ máy lãnh đạo mới của Việt Nam được kiện toàn. Thái Lan vinh dự là quốc gia ASEAN đầu tiên mà Tổng Bí thư, Chủ tịch nước tới thăm trước khi tiếp tục chuyến công du đến các nước khác trong khu vực", Đại sứ Urawadee Sriphiromya khẳng định.
Bà Urawadee Sriphiromya cho biết, đã khá lâu hai nước mới có chuyến thăm ở cấp cao nhất, do đó, sự kiện này nhận được nhiều kỳ vọng không chỉ từ phía Chính phủ mà còn từ nhân dân hai nước, đặc biệt là cộng đồng người Thái gốc Việt. Diễn ra đúng vào năm hai nước kỷ niệm 50 năm thiết lập quan hệ ngoại giao (1976 - 2026), chuyến thăm phản ánh sâu sắc sự tin cậy, tôn trọng lẫn nhau và tình cảm thân thiết giữa hai quốc gia.
Về mặt chiến lược, thành tựu cốt lõi của chuyến thăm sẽ là việc thảo luận chi tiết để thông qua Kế hoạch Hành động (POA) giai đoạn 2026 - 2031, nhằm hiện thực hóa khuôn khổ Đối tác Chiến lược toàn diện. Đây là một kế hoạch toàn diện, bao trùm trên mọi phương diện hợp tác để hai nước cùng nhau hỗ trợ, đạt được an ninh, hòa bình và thịnh vượng chung.
Trong bối cảnh môi trường quốc tế đầy thách thức, việc các nhà lãnh đạo trực tiếp trao đổi, tham vấn góp phần tạo sự tin cậy cho cả hai bên, nhằm giải quyết các bài toán như an ninh năng lượng, an ninh lương thực và tội phạm xuyên quốc gia. Đại sứ Thái Lan tin tưởng chuyến thăm sẽ gặt hái những kết quả hết sức tốt đẹp.
"Chuyến thăm của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chắc chắn sẽ làm sâu sắc thêm tình hữu nghị bền chặt lâu đời và đưa mối quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện Việt Nam - Thái Lan tiến lên những nấc thang mới, đóng góp thiết thực vào một ASEAN tự cường và thịnh vượng", Đại sứ Urawadee Sriphiromya khẳng định.
Điểm lại những thành tựu nổi bật trong quan hệ hai nước thời gian gần đây, Đại sứ Thái Lan khẳng định, quan hệ hợp tác song phương đang ở giai đoạn phát triển tốt đẹp nhất từ trước đến nay và tiếp tục được nâng lên tầm cao mới qua từng năm.
Năm ngoái, hai bên đã nhất trí nâng cấp quan hệ lên Đối tác chiến lược toàn diện, cấp độ hợp tác cao nhất mà Việt Nam thiết lập với các quốc gia khác.
Về kinh tế, bất chấp các cú sốc toàn cầu, thương mại song phương vẫn tăng trưởng mạnh mẽ, hiện đã vượt mốc 23 tỉ USD và đang tiến sát mục tiêu 25 tỉ USD.
Về đầu tư, Thái Lan đã tăng từ vị trí thứ 9 lên thứ 8 trong số các nhà đầu tư nước ngoài lớn nhất tại Việt Nam. Điều này phản ánh niềm tin vững chắc của khu vực tư nhân Thái Lan vào các chính sách tạo môi trường thuận lợi của Chính phủ Việt Nam.
"Tôi đã nghe nhiều doanh nghiệp đầu tư vào Việt Nam từ 40 năm trước chia sẻ rằng họ rất hài lòng và cho rằng, quan hệ giữa hai nước đang ở giai đoạn gần gũi, gắn bó nhất từ trước tới nay", bà Urawadee Sriphiromya nói.
Bên cạnh kinh tế, giao lưu nhân dân là nền tảng vô cùng vững chắc. Lượng khách du lịch giữa hai nước tăng trưởng đáng kể. Hợp tác an ninh - quốc phòng cũng ghi nhận dấu ấn khi tàu Hải quân Hoàng gia Thái Lan thực hiện chuyến thăm cảng TP.HCM sau 11 năm gián đoạn, nhằm chào mừng 50 năm quan hệ ngoại giao, minh chứng cho sự tin cậy chiến lược ngày càng cao.
Hợp tác kinh tế giữa hai nước mang tính bổ trợ lẫn nhau và hiện được định hình bởi chiến lược "ba kết nối": kết nối chuỗi cung ứng, kết nối kinh tế địa phương và kết nối phát triển bền vững.
Về chuỗi cung ứng, hai nước đang hướng tới sự chuyển dịch từ các sản phẩm cơ khí truyền thống sang công nghệ cao. Quá trình này được hỗ trợ bởi hệ thống hạ tầng đang hoàn thiện rất nhanh của Việt Nam, từ cảng biển nước sâu, đường sắt Bắc - Nam đến các sân bay quốc tế.
Về phát triển bền vững, doanh nghiệp Thái Lan đang đầu tư xây dựng các khu công nghiệp xanh đạt chuẩn quốc tế tại Việt Nam, đồng bộ từ nguồn điện, nước đến xử lý chất thải nhằm thu hút các dòng vốn đầu tư xanh nước ngoài.
Trong lĩnh vực bán lẻ, các tập đoàn Thái Lan đang đóng vai trò bệ phóng đưa nông sản, hàng hóa Việt Nam tiêu thụ nội địa, tiếp cận thị trường Thái Lan và xuất khẩu sang các chuỗi siêu thị tại châu Âu.
Thái Lan cũng mong muốn hợp tác với Việt Nam trong lĩnh vực hàng không, cụ thể là dịch vụ bảo dưỡng, sửa chữa và đại tu máy bay (MRO), dựa trên nền tảng các hãng hàng không như VietJet đã hoạt động tại Thái Lan hơn 10 năm.