Giáo dục hòa nhập cho đến nay vẫn thường bị hiểu khá đơn giản là đưa sinh viên khuyết tật vào học chung trường, chung lớp với sinh viên không có khuyết tật. Nhưng việc được chấp nhận vào học không đồng nghĩa với được hòa nhập.
Một sinh viên có thể hiện diện trong lớp học, nhưng vẫn bị loại trừ khỏi những cơ hội học tập.
Trong gần 5 năm làm công việc hỗ trợ sinh viên khuyết tật tại một trường đại học quốc tế, tôi đã đồng hành cùng nhiều sinh viên với những dạng khuyết tật và tình trạng sức khỏe rất khác nhau. Mỗi bạn là một câu chuyện riêng, với những khó khăn rất riêng trong học tập và sinh hoạt, và với những nhu cầu hỗ trợ cũng rất riêng.
Tôi vẫn nhớ một bạn sinh viên khiếm thị bối rối trong lớp khi giảng viên bất ngờ yêu cầu tất cả sinh viên phải liên tục di chuyển từ bàn này sang bàn khác và trả lời những câu hỏi trắc nghiệm chỉ trong 30 giây – khoảng thời gian quá ngắn để người hỗ trợ kịp đọc đáp án cho bạn lựa chọn.
Tôi nhớ một sinh viên sử dụng xe lăn học rất giỏi nhưng chưa từng một lần được tham gia ngày hội thể thao cùng bạn bè, chỉ vì tất cả các hoạt động đều mặc định đòi hỏi thể lực và không ai nghĩ tới việc thiết kế để em có thể tham gia.
Tôi cũng nhớ những sinh viên rối loạn phổ tự kỷ, hoặc có rối loạn ngôn ngữ, hoảng hốt mỗi khi nhìn thấy yêu cầu phải thuyết trình trước lớp. Những tình huống ấy cho thấy rào cản không chỉ nằm ở cơ thể hay tình trạng sức khỏe của người học, mà còn nằm ở cách môi trường học tập được thiết kế.
Cũng cần nói rõ rằng đây không chỉ là vấn đề của riêng sinh viên khuyết tật. Giáo dục hòa nhập thực chất cần nhìn thấy sự giao thoa giữa khuyết tật với những yếu tố khác như giới, điều kiện kinh tế, nơi sinh sống và cơ hội tiếp cận dịch vụ.
Khi cơ hội giáo dục bị hạn chế, cơ hội việc làm cũng bị thu hẹp theo.
Năm 2023, tỉ lệ tham gia lực lượng lao động của người khuyết tật chỉ là 23,9%, thấp hơn rất nhiều so với mức 77,4% ở người không khuyết tật; khoảng cách này đặc biệt lớn ở nhóm tuổi 18-40.
Nói cách khác, khuyết tật là một trong những “phép thử” rõ ràng nhất để nhìn ra liệu một hệ thống giáo dục có thực sự sẵn sàng cho sự đa dạng, hay vẫn đang âm thầm ưu tiên một nhóm người học “kiểu mẫu” và bỏ lại phía sau những người khác.
Các cơ sở giáo dục hiện nay thường coi việc tạo cơ hội học tập công bằng cho sinh viên khuyết tật chủ yếu là những điều chỉnh đơn lẻ cho từng cá nhân khi có yêu cầu.
Những điều chỉnh này dĩ nhiên rất cần thiết: thêm thời gian làm bài cho sinh viên có khó khăn về vận động; cung cấp tài liệu điện tử cho sinh viên khiếm thị; cho phép trình bày theo hình thức phù hợp hơn với sinh viên có khó khăn về giao tiếp.
Nhiều sinh viên sẽ không thể học tập hoặc hoàn thành chương trình nếu không có những hỗ trợ đó. Nhưng nếu hòa nhập chỉ phụ thuộc vào việc sinh viên phải tự giải trình, tự chứng minh và lặp đi lặp lại khó khăn của mình với từng môn học, từng giảng viên, thì gánh nặng vẫn đang được đặt nhiều hơn lên vai người học mà không có những cân nhắc chủ động từ phía hệ thống.
Trong bối cảnh Việt Nam, không phải sinh viên nào cũng dễ dàng có giấy tờ xác nhận “loại khuyết tật”, đặc biệt với những tình trạng như khuyết tật học tập, rối loạn phát triển thần kinh hay các vấn đề sức khỏe tâm thần.
Bên cạnh đó là những định kiến rất quen thuộc: rằng người xin hỗ trợ là “yếu đuổi”, là “không đủ cố gắng”, là “không đủ năng lực”, thậm chí là đang đòi hỏi sự ưu ái quá mức. Chính những rào cản đó khiến nhiều sinh viên chọn im lặng, tự xoay xở một mình, cho đến khi các em kiệt sức hoặc bị bỏ lại phía sau.
Khi một hệ thống được thiết kế mà phụ thuộc quá nhiều vào các điều chỉnh cho từng cá nhân, thì sẽ luôn có rất nhiều sinh viên không bao giờ đi được đến bước nhận hỗ trợ. Đó là lý do vì sao giáo dục hòa nhập cần vượt lên trên những câu chuyện về sự cảm thông và những hỗ trợ mang tính “chữa cháy”.
Điều chúng ta cần nói đến nhiều hơn là việc chủ động thiết kế hoạt động dạy học để thúc đẩy hòa nhập công bằng ngay từ đầu.
Giảng viên cần chuẩn bị tài liệu ở các định dạng tiếp cận hơn; sử dụng nhiều cách truyền đạt khác nhau thay vì chỉ dựa vào một hình thức duy nhất; thiết kế các hoạt động học tập linh hoạt để sinh viên có thể tham gia bằng nhiều cách; và xây dựng các hình thức đánh giá hơn để người học thể hiện được năng lực thực sự của mình.
Khi một lớp học được thiết kế theo hướng đó, không chỉ sinh viên khuyết tật được hưởng lợi. Sinh viên có lo âu, trầm cảm, rối loạn phổ tự kỷ hay giảm chú ý, bệnh lý mãn tính, hay đơn giản là có những cách học khác với số đông, cũng có thêm cơ hội để học tốt hơn. Hòa nhập không phải là sự ưu tiên dành cho một nhóm nhỏ; đó là cách làm giáo dục tốt hơn cho tất cả mọi người.
Nhưng để làm được điều đó, không thể chỉ trông chờ vào thiện chí của một vài giảng viên hay nỗ lực của một phòng ban chuyên trách.
Giảng viên và cán bộ nhân viên cũng cần được hỗ trợ một cách thực chất: được tập huấn, được cung cấp tài liệu, được tạo điều kiện về thời gian và cơ chế để linh hoạt hơn trong giảng dạy và đánh giá.
Sẽ là không đủ nếu chúng ta chỉ nói với giảng viên rằng họ cần phải “tạo điều kiện cho sinh viên nhiều hơn” mà không đi kèm với những hỗ trợ tương xứng.
Hòa nhập không nên là gánh nặng riêng của sinh viên khuyết tật, cũng không nên trở thành phần việc “làm thêm” của giảng viên. Đó phải là trách nhiệm chung của cả một cơ sở giáo dục.
Khi ngày càng nhiều sinh viên có cơ hội bước vào giảng đường đại học, sự đa dạng trong lớp học cũng sẽ ngày càng trở thành một thực tế hiển nhiên. Và khi đó, hòa nhập không thể tiếp tục được xem là sự ban ơn cho một nhóm thiểu số. Nó cần được nhìn nhận đúng như bản chất: một thước đo quan trọng của chất lượng giáo dục và của mức độ tiến bộ của một xã hội.
Ngày 15-4, Cục Giáo dục nghề nghiệp và Giáo dục thường xuyên, Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức hội nghị triển khai công tác tuyển sinh giáo dục nghề nghiệp năm 2026, hình thức trực tiếp kết hợp trực tuyến.
Phát biểu tại hội nghị, GS Lê Quân - Thứ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo - nhấn mạnh các cơ sở giáo dục nghề nghiệp muốn tuyển sinh được phải có những ngành nghề đào tạo đáp ứng được nhu cầu thị trường, xã hội.
Theo ông, từ năm 2017 bắt đầu phổ biến khẩu hiệu "tuyển sinh gắn với tuyển dụng". Bởi dạy nghề là dạy cho học sinh, sinh viên biết được quy trình công nghệ, kỹ thuật, biết được thách thức tổ chức, triển khai.
"Khi tuyển sinh gắn với tuyển dụng, gốc vẫn là phải cấu trúc lại chương trình đào tạo, quy trình đào tạo có sự tham gia sâu của doanh nghiệp, quy trình đào tạo gắn với thực hành", ông Quân nói.
Ông Quân chia sẻ hiện tỉ lệ bỏ học bình quân còn cao, khoảng 20-25%. Ông mong các cơ sở giáo dục nghề nghiệp không chỉ quan tâm lôi cuốn người học để đạt chỉ tiêu tuyển sinh, mà phải giúp người học giải bài toán cơ hội nghề nghiệp, thu nhập khi ra trường.
Ông Quân cũng nêu một thực tế hiện Việt Nam có gần 2 triệu thanh niên ở lứa tuổi 18-24, không học hành, không công việc, nghề nghiệp. Theo ông, đây là nhóm thanh niên không được định hướng rõ, không biết mình phải học gì, làm gì.
"Nếu không cẩn thận, chúng ta sẽ có một lớp thanh niên lơ ngơ, mất phương hướng", ông Quân nói và cho rằng có một phần trách nhiệm của các cơ sở giáo dục nghề nghiệp, phải trả lời cho người học câu hỏi trong tuyển sinh là ra trường làm gì, việc làm ở đâu, thu nhập ra sao...
Ông mong các trường quan tâm đến các đối tượng tuyển sinh. Bởi giáo dục nghề nghiệp có sứ mệnh ngoài việc đào tạo cung cấp nhân lực chất lượng cao và nhân lực cho phát triển kinh tế xã hội, đây cũng là hoạt động để đảm bảo an sinh.
Tại hội nghị, Cục Giáo dục nghề nghiệp và Giáo dục thường xuyên cho biết năm 2024, hệ thống giáo dục nghề nghiệp gồm có 1.545 cơ sở (921 cơ sở giáo dục nghề nghiệp công lập, 624 cơ sở tư thục và có vốn đầu tư nước ngoài) gồm: 390 trường cao đẳng, 427 trường trung cấp, 728 trung tâm giáo dục nghề nghiệp.
Tính đến ngày 31-12-2025, chỉ còn 1.147 cơ sở (502 cơ sở giáo dục nghề nghiệp công lập, 645 cơ sở giáo dục nghề nghiệp tư thục và có vốn đầu tư nước ngoài) gồm: 392 trường cao đẳng, 358 trường trung cấp, 397 trung tâm giáo dục nghề nghiệp.
Như vậy chỉ sau 1 năm, cả nước giảm 382 cơ sở giáo dục nghề nghiệp công lập (giảm 22 trường cao đẳng công lập, giảm 73 trường trung cấp công lập, giảm 248 trung tâm công lập), tăng 21 cơ sở giáo dục nghề nghiệp tư thục.
Theo Cục Giáo dục nghề nghiệp và Giáo dục thường xuyên, việc tái cơ cấu mạnh mẽ mạng lưới cơ sở giáo dục nghề nghiệp đang buộc công tác tuyển sinh phải chuyển từ phân tán sang tập trung, từ phát triển theo quy mô sang nâng cao chất lượng, lấy hiệu quả đào tạo và khả năng đáp ứng nhu cầu thị trường lao động làm thước đo chủ yếu.
Năm 2025, cả nước tuyển được khoảng 2,2 triệu người học, đạt 107% so với kế hoạch. Trong đó trình độ cao đẳng, trung cấp nghề tuyển được 430.000 học sinh, sinh viên. Trình độ sơ cấp và dạy nghề dưới 3 tháng tuyển được khoảng 1,77 triệu người học.
Tuyển sinh các ngành, nghề đào tạo trong lĩnh vực kỹ thuật - công nghệ chiếm tỉ lệ tổng tuyển sinh cao nhất, lên đến 42%, đặc biệt tập trung vào công nghệ cơ khí chế tạo, công nghệ ô tô, công nghệ điện - điện tử - truyền thông, công nghệ thông tin.
Một số ngành, nghề trong các lĩnh vực công nghệ mới nổi như: chip bán dẫn, năng lượng tái tạo, công nghệ số, công nghệ xanh đã có hoạt động tuyển sinh, đào tạo, tuy nhiên kết quả chưa cao do hạn chế về số lượng cơ sở đào tạo, công tác thông tin, truyền thông chưa được tốt nên người học còn chưa thực sự quan tâm, đăng ký.
Người đàn ông 52 tuổi, họ Trần (Trung Quốc) vốn có tiền sử huyết áp cao, tiểu đường và thận cũng bị ảnh hưởng. Khi đi khám được bác sĩ khuyên ăn uống lành mạnh, ăn nhiều rau củ hơn nên ông bắt đầu trồng rau và ăn rau đủ 3 bữa mỗi ngày.
Nghe nói ăn rau dền tốt cho sức khỏe, nhất là xương khớp và bổ máu, ông mua rau dền giống về trồng. Khi rau dền trong vườn đến độ thu hoạch, ngày nào ông Trần cũng ăn đủ 3 bữa một ngày, liên tục hơn 1 tuần liền.
Trong thời gian đó, ông bị sốt và mệt mỏi dai dẳng. Lúc đầu tưởng là cảm cúm nhưng uống thuốc mãi không đỡ. Đến khi ông Trần sốt rất cao, có biểu hiện lú lẫn, ban xuất huyết và tiểu ra máu, người nhà hốt hoảng đưa ông tới bệnh viện. Tại đây, các bác sĩ kết luận ông Trần bị suy thận cấp, ure huyết, huyết áp rất cao.
May mắn là sau nhiều nỗ lực của đội ngũ y bác sĩ, ông Trần đã qua cơn nguy kịch. Tuy nhiên, sau này ông buộc phải dựa vào chạy thận để duy trì cuộc sống. Khi biết được nguyên nhân tình trạng của mình liên quan tới rau dền, ông vừa bất ngờ vừa hối hận.
Theo bác sĩ điều trị, bản thân rau dền không có lỗi, lỗi là ở ông Trần đã ăn sai cách. Ông ăn rất nhiều rau dền nhưng lại không chần qua trước khi nấu. Trong khi đó, rau dền rất giàu axit oxalic, nếu ăn thường xuyên trong thời gian ngắn mà không chần có thể gây tổn thương thận cấp tính do các tinh thể axit oxalic chặn ống thận. Từ đó gây ra nhiều bệnh về thận. Thói quen này đối với người vốn có vấn đề về thận như ông Trần nguy hiểm hơn rất nhiều so với người bình thường.
Theo giải thích của bác sĩ, các tinh thể axit oxalic có thể dễ dàng hình thành sau khi ăn các loại rau giàu chất này. Sau đó, các tinh thể axit oxalic có thể dễ dàng ngăn chặn ống thận. Một khi ống thận bị tắc, các chất độc chuyển hóa trong cơ thể không thể đào thải ra khỏi cơ thể kịp thời và tích tụ, dẫn đến tổn thương thận cấp tính. Đặc biệt ở những người mắc bệnh thận tiềm ẩn hoặc các bệnh chuyển hóa khác có thể dẫn tới nguy hiểm tính mạng. Canxi oxalat cũng kết hợp với canxi của cơ thể tạo thành canxi oxalat, làm tăng nguy cơ sỏi thận.
Đáng chú ý, axit oxalic không dễ bị cơ thể oxy hóa và phân hủy, các chất có tính axit sinh ra sau quá trình trao đổi chất dễ làm mất cân bằng độ pH trong cơ thể. Nó không chỉ ảnh hưởng đến sự hấp thụ canxi và kẽm của cơ thể mà còn có thể gây ngộ độc (do hấp thụ quá nhiều oxalat) trong một số trường hợp nghiêm trọng.
May mắn là axit oxalic có thể hòa tan trong nước, chỉ cần chần qua nước sôi là có thể loại bỏ được 40 - 70% axit oxalic có trong các loại rau củ. Sau khi ăn các loại rau củ này mà có dấu hiệu như mệt mỏi và khó chịu, buồn nôn và nôn, đi tiểu ít, phù nề… thì hãy nhanh chóng tới bệnh viện kiểm tra.
Một câu chuyện tình đặc biệt tại Nhật Bản đang thu hút sự chú ý của dư luận khi một cô gái trẻ quyết định kết hôn với người bạn thân lâu năm của mẹ mình người hơn cô tới 30 tuổi. Mối quan hệ tưởng chừng khó có thể xảy ra đã làm dấy lên nhiều tranh luận về khoảng cách tuổi tác, định kiến xã hội và quyền lựa chọn hạnh phúc của mỗi người.
Nhân vật chính là Mitsuki (53 tuổi), sống tại tỉnh Kagawa (Nhật Bản), và Megumi con gái của người bạn thân mà ông đã quen biết suốt hơn hai thập kỷ. Sau khi về chung một nhà, cả hai chọn cuộc sống giản dị: Megumi chăm lo tổ ấm, còn Mitsuki tiếp tục điều hành quán bar nhỏ của mình.
Điều khiến nhiều người xúc động không chỉ là sự chênh lệch tuổi tác, mà còn là cách họ vun đắp hôn nhân mỗi ngày. Trước khi đi ngủ, Mitsuki luôn hỏi vợ: "Hôm nay anh yêu điều gì ở em nhất?" một câu hỏi giản dị nhưng trở thành thói quen thể hiện sự trân trọng và gắn kết của cả hai.
Ít ai biết rằng mối lương duyên này đã được gieo từ nhiều năm trước. Hơn 20 năm trước, Mitsuki quen mẹ của Megumi khi cả hai thường gặp nhau tại một quán bar. Vì tin tưởng người bạn thân, mẹ Megumi nhiều lần nhờ ông trông giúp cô con gái mới 5 tuổi trong lúc bận rộn. Những buổi chiều đưa cô bé đi công viên khi ấy chỉ đơn thuần là sự giúp đỡ giữa bạn bè, không ai ngờ sau này lại trở thành ký ức mở đầu cho một câu chuyện tình đặc biệt.
Đến năm 2022, Megumi trưởng thành và phụ mẹ bán hàng tại quán ăn. Là bạn cũ của gia đình, Mitsuki thường xuyên ghé thăm, trò chuyện. Một lần cả ba dự định đi xem phim nhưng mẹ Megumi bất ngờ ngủ quên, khiến buổi hẹn chỉ còn lại hai người. Chính cuộc gặp tưởng như tình cờ ấy đã giúp họ có cơ hội hiểu nhau nhiều hơn.
Megumi kể rằng cô luôn cảm nhận ở Mitsuki sự điềm đạm, ấm áp và đáng tin cậy, giống như một "chú gấu lớn". Những bữa tối hằng tuần dần trở thành thói quen, và theo thời gian, sự quý mến chuyển thành tình yêu. Chỉ đến khi cảm thấy ghen khi thấy Mitsuki trò chuyện thân thiết với một người phụ nữ khác, cô mới nhận ra tình cảm của mình đã vượt xa sự ngưỡng mộ thông thường.
Sau lời tỏ tình, cả hai chính thức bước vào mối quan hệ yêu đương. Tuy nhiên, chuyện tình này ngay lập tức vấp phải sự phản đối quyết liệt từ mẹ Megumi. Bà không chỉ sốc khi con gái yêu người bạn thân của mình mà còn cảm thấy như đánh mất một tình bạn đã gắn bó suốt nhiều năm.
Bất chấp những khó khăn, Mitsuki và Megumi vẫn kiên trì bên nhau gần một năm. Cuối cùng, ông quyết định cầu hôn với lý do giản dị: ông không muốn tiếp tục che giấu tình yêu của mình. Đến tháng 1 vừa qua, cặp đôi âm thầm hoàn tất thủ tục đăng ký kết hôn.
Xuất hiện trên truyền hình, Mitsuki đã công khai gửi lời xin lỗi và cảm ơn mẹ vợ vì cuối cùng cũng chấp nhận quyết định của hai người. Dù sự đồng thuận đến khá muộn, đó vẫn là cái kết giúp phần nào hàn gắn những tổn thương trong gia đình.
Câu chuyện nhanh chóng lan truyền trên mạng xã hội, tạo nên nhiều ý kiến trái chiều. Có người bày tỏ sự đồng cảm với người mẹ khi phải đối diện cú sốc quá lớn, trong khi nhiều người khác lại cho rằng tình yêu chân thành không nên bị giới hạn bởi tuổi tác hay những khuôn mẫu truyền thống. Dẫu còn nhiều tranh cãi, cặp đôi vẫn lựa chọn bước tiếp cùng nhau, tin rằng hạnh phúc là điều chỉ người trong cuộc mới có thể quyết định.