Cục Hàng không Việt Nam vừa báo cáo Bộ Xây dựng các giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp vận tải hàng không trước áp lực giá nhiên liệu Jet A1 tăng vọt do xung đột Trung Đông.
Tăng mạnh lên 200 USD/thùng từ cuối tháng 2 tới nay, hiện giá Jet A1 khu vực châu Á vẫn đang ở vùng đỉnh và chưa có dấu hiệu hạ nhiệt. Trước áp lực này, theo ông Uông Việt Dũng, Cục trưởng Cục Hàng không, cho biết việc áp dụng phụ thu nhiên liệu là cần thiết để hỗ trợ các hãng bay đang bị đội chi phí.
Cục đề xuất phụ thu nhiên liệu được thực hiện khi mức giá dầu Jet A1 đạt từ 100 USD/thùng; bước giá các bậc phụ thu là 10 USD/thùng. Thời gian áp dụng phụ thu cho dịch vụ vận chuyển hành khách hàng không nội địa hạng phổ thông cơ bản trong thời gian 3 tháng.
Tham chiếu tới chặng bay Nhật Bản – Hàn Quốc khoảng 2 giờ bay, mức phụ thu cho khung nhiên liệu 180 USD/thùng là 55 USD/chặng và mức phụ thu cho khung nhiên liệu 90 USD/thùng là 15 USD, chênh lệch 40 USD/chặng tương đương 1,1 triệu đồng. Chặng bay Hà Nội – TP.HCM có tổng giờ bay tương đương, mức phụ thu đề xuất chỉ là 311.000 đồng/chặng.
Lãnh đạo Cục Hàng không cũng khẳng định, việc phụ thu chỉ áp dụng trong ngắn hạn, phù hợp với biến động ngắn hạn của giá Jet A1. Dự kiến áp dụng trong khoảng 3 tháng. Do đó, không “gây áp lực đáng kể” đến chỉ số tiêu dùng (CPI) bình quân năm cũng như các nhóm hàng hóa, dịch vụ khác.
Tuy nhiên, Cục Hàng không thừa nhận việc phụ thu nhiên liệu bay hiện chưa có hành lang pháp lý rõ ràng, cần thực hiện các thủ tục báo cáo Chính phủ ban hành nghị quyết trong trường hợp giải quyết các vấn đề cấp bách, quan trọng.
Đồng thời, kiến nghị Bộ Xây dựng báo cáo Chính phủ ban hành nghị quyết cho phép áp dụng phụ thu nhiên liệu đối với vận chuyển hành khách hàng không nội địa ngoài mức giá tối đa quy định.
Theo Vietnam Airlines, tùy kịch bản giá nhiên liệu, chi phí phát sinh thêm trong năm 2026 của hãng ước tính từ 11.000 – 27.000 tỉ đồng. Các chính sách áp dụng miễn thuế bảo vệ môi trường, thuế nhập khẩu trong tháng 3, tháng 4 đã giúp Vietnam Airlines giảm chi phí khoảng 105 tỉ đồng.
Trường hợp các chính sách trên cùng với chính sách giảm giá dịch vụ, cho phép áp dụng phụ thu nhiên liệu kéo dài đến hết năm 2026 thì ước tính hỗ trợ giảm chi phí cho Vietnam Airlines khoảng 10% chi phí phát sinh do nhiên liệu tăng.
Trong khi đó, giá nhiên liệu bay ở mức khoảng 195 USD/thùng khiến chi phí trong tháng 4.2026 của Vietjet tăng lên 24 triệu USD. Chính sách miễn thuế bảo vệ môi trường và thuế nhập khẩu đối với nhiên liệu bay giúp hãng giảm chi phí được khoảng 4 triệu USD, tương đương khoảng 16% tổng chi phí tăng thêm do nhiên liệu tăng.
Tương tự, Vietravel Airlines giảm khoảng 8% chi phí nhiên liệu, tương đương khoảng 4% tổng chi phí vận hành trực tiếp của chuyến bay.
Cục Hàng không cũng kiến nghị hãng hàng không được tiếp tục nhận được chính sách hỗ trợ thuế phí xăng dầu trong giai đoạn tới.
Theo Nghị quyết Hội đồng quản trị, Viettel Construction dự kiến phát hành hơn 13,7 triệu cổ phiếu mệnh giá 10.000 đồng/cổ phiếu, tổng giá trị phát hành theo mệnh giá hơn 137,2 tỷ đồng.
Tỉ lệ thực hiện quyền là 100:12, tức cổ đông sở hữu 100 cổ phiếu tại ngày chốt danh sách sẽ được nhận thêm 12 cổ phiếu mới. Đối tượng phát hành là các cổ đông hiện hữu có tên trong danh sách cổ đông được hưởng quyền.
Nguồn vốn thực hiện được lấy từ lợi nhuận sau thuế chưa phân phối theo báo cáo tài chính riêng và hợp nhất năm 2025 đã được kiểm toán. Thời gian phát hành dự kiến trong năm 2026 sau khi doanh nghiệp hoàn tất các thủ tục báo cáo với Ủy ban Chứng khoán Nhà nước.
Trong cơ cấu cổ đông, Tập đoàn Công nghiệp - Viễn thông Quân đội (Viettel) đang sở hữu 65,66% số cổ phiếu tại Viettel Construction và sẽ nhận về thêm gần 9 triệu cổ phiếu CTR. Ông Đoàn Hồng Việt sở hữu 5%, tương ứng nhận thêm 685.000 cổ phiếu.
Trước đó, Đại hội đồng cổ đông thường niên năm 2026 đã thông qua kế hoạch phân phối lợi nhuận năm 2025 với tổng giá trị hơn 308,8 tỷ đồng, tương ứng tỉ lệ cổ tức 27%. Trong đó, 15% được chi trả bằng tiền mặt và 12% bằng cổ phiếu.
Về kết quả kinh doanh, quý I/2026, Viettel Construction ghi nhận doanh thu thuần gần 3.805 tỷ đồng, tăng 38,9% so với cùng kỳ năm trước. Lợi nhuận trước thuế đạt hơn 189 tỷ đồng, tăng 22,6%.
Năm 2026, doanh nghiệp đặt mục tiêu lợi nhuận trước thuế 778 tỷ đồng. Như vậy, sau 3 tháng đầu năm, Viettel Construction đã hoàn thành khoảng 24,3% kế hoạch lợi nhuận cả năm.
Tính đến ngày 31/3/2026, tổng tài sản của doanh nghiệp đạt 8.706 tỷ đồng, tăng 6,4% so với đầu năm. Trong đó, tài sản ngắn hạn đạt 7.1890 tỷ đồng, tăng 8,5%.
Một số khoản mục biến động đáng chú ý gồm đầu tư tài chính ngắn hạn tăng 48%, lên 2.395 tỷ đồng; các khoản phải thu ngắn hạn tăng 8,1%, lên 2.932 tỷ đồng; hàng tồn kho tăng 30,8%, đạt 556 tỷ đồng.
Ở phía nguồn vốn, tổng nợ phải trả đạt 6.492 tỷ đồng, tăng 6,1% so với đầu năm. Nợ ngắn hạn chiếm tỷ trọng lớn với 5.998 tỷ đồng, tăng 7,1%.
Đáng chú ý, vay và nợ thuê tài chính tăng 25,1%, lên 2.202 tỷ đồng. Người mua trả tiền trước ngắn hạn đạt 1.222,5 tỷ đồng, tăng 1,6%; chi phí phải trả ngắn hạn đạt 1.018 tỷ đồng, tăng 18,9%.
Tổng công ty Lọc hóa dầu Việt Nam vừa ra thông báo chính thức vận hành với tên gọi mới: Công ty cổ phần - Tổng công ty Lọc hóa dầu Việt Nam thay cho tên gọi cũ Công ty CP Lọc hóa dầu Bình Sơn từ ngày 10.5. Tên giao dịch bằng tiếng Anh là Petrovietnam Refining and Petrochemical Corporation.
Tên gọi mới đã được đăng ký giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp công ty cổ phần do Sở Tài chính tỉnh Quảng Ngãi cấp.
Trước đó, tại Đại hội đồng cổ đông BSR ngày 13.4 đã thông qua việc thay đổi tên gọi doanh nghiệp. Ngày 8.5, Hội đồng quản trị Công ty cổ phần Lọc hóa dầu Bình Sơn (BSR) ban hành nghị quyết thông qua việc đổi tên doanh nghiệp thành “Công ty cổ phần - Tổng công ty Lọc hóa dầu Việt Nam”.
Trụ sở chính của Tổng công ty Lọc hóa dầu Việt Nam vẫn sử dụng địa chỉ cũ: số 208 Đại lộ Hùng Vương, phường Nghĩa Lộ, tỉnh Quảng Ngãi; vốn điều lệ 50.072.996.860.000 đồng (Năm mươi nghìn không trăm bảy mươi hai tỉ chín trăm chín mươi sáu triệu tám trăm sáu mươi nghìn đồng) với tổng số hơn 50 tỉ cổ phần.
Người đại diện theo pháp luật là ông Nguyễn Việt Thắng - Tổng giám đốc.
Theo thông báo, tên doanh nghiệp viết tắt vẫn sử dụng là “BSR” như tên thương hiệu; hệ thống nhận diện với logo mang chữ “BSR” vẫn được duy trì. Việc sử dụng tên gọi mới nhằm thống nhất nhận diện thương hiệu, phù hợp với định hướng phát triển theo mô hình tổng công ty và mở rộng vai trò của doanh nghiệp trong chuỗi giá trị năng lượng quốc gia.
Nghị quyết cũng giao Ban điều hành tổ chức thực hiện các thủ tục pháp lý liên quan, đồng thời chuẩn hóa hệ thống nhận diện thương hiệu, hồ sơ pháp lý, giao dịch và hoạt động quản trị phù hợp với mô hình tổng công ty trong giai đoạn mới.
Việc đổi tên doanh nghiệp được xem là dấu mốc quan trọng trong hành trình phát triển của BSR sau gần hai thập niên vận hành nhà máy lọc dầu Dung Quất; không chỉ đơn thuần thay đổi thương hiệu, mà thể hiện định hướng phát triển mới với quy mô lớn hơn, tầm nhìn dài hạn hơn và vai trò sâu rộng hơn trong hệ sinh thái năng lượng quốc gia.
Việc xây dựng và phát triển BSR thành Tổng công ty được đặt trong tổng thể chiến lược phát triển đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045; đồng thời gắn với Nghị quyết Đại hội Đảng bộ BSR lần thứ 7, nhiệm kỳ 2025 - 2030 và định hướng của Petrovietnam về nâng tầm tổ chức, tái định vị vai trò, vị trí và hình ảnh của BSR trong hệ sinh thái năng lượng quốc gia.
Trong hành trình 21 năm hình thành và phát triển, Tổng công ty Cấp nước Sài Gòn - TNHH MTV (SAWACO) không chỉ gắn với nhiệm vụ bảo đảm dòng nước sạch, an toàn, liên tục cho thành phố, mà còn từng bước chuyển mình theo yêu cầu mới của một đô thị hiện đại.
Theo kế hoạch triển khai lộ trình chuyển đổi 100% dịch vụ cấp nước sang hình thức trực tuyến, SAWACO đặt mục tiêu đưa toàn bộ các khâu đủ điều kiện lên môi trường số: từ đăng ký dịch vụ, nộp hồ sơ, ký xác nhận, theo dõi tiến độ đến nhận kết quả từ xa. Đây được xem là bước chuyển quan trọng trong cải cách dịch vụ khách hàng, giúp người dân và doanh nghiệp giảm thời gian đi lại, hạn chế tiếp xúc trực tiếp, đồng thời theo dõi trạng thái xử lý hồ sơ một cách rõ ràng hơn.
Trọng tâm của kế hoạch không chỉ là "đưa thủ tục lên mạng" mà còn chuẩn hóa lại toàn bộ quy trình phục vụ. SAWACO sẽ rà soát các thủ tục dịch vụ cấp nước hiện hành, đơn giản hóa thành phần hồ sơ, quy định thời gian xử lý chuẩn cho từng loại dịch vụ và công khai quy trình, trạng thái xử lý trên các kênh dịch vụ số. Cùng với đó là việc chuyển dần hồ sơ giấy sang hồ sơ điện tử, áp dụng biểu mẫu điện tử, chữ ký số, ký điện tử và xác thực điện tử đối với khách hàng theo quy định.
Kế hoạch chuyển đổi số của SAWACO được triển khai theo lộ trình nhiều giai đoạn. Trong năm 2026, Tổng công ty tập trung rà soát, chuẩn hóa, kết nối nền tảng và thực hiện tiếp nhận, xử lý trực tuyến toàn trình đối với các dịch vụ đủ điều kiện. Giai đoạn 2027 - 2028 sẽ mở rộng các dịch vụ còn lại, từng bước triển khai mô hình CRM tập trung, thống nhất đầu số chăm sóc khách hàng 1900 999 997 trên toàn hệ thống. Đến giai đoạn 2028 - 2030, SAWACO hướng đến hoàn thiện hệ sinh thái dịch vụ khách hàng số, vận hành trên nền tảng tập trung, đồng bộ dữ liệu và ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong tiếp nhận, phân loại, hỗ trợ xử lý yêu cầu khách hàng.
Quá trình này gắn với định hướng xây dựng "đô thị cấp nước thông minh", trong đó dữ liệu khách hàng, dữ liệu vận hành, tổng đài, CRM và các phần mềm nghiệp vụ được kết nối để xử lý hồ sơ xuyên suốt trên môi trường số. Khi hệ thống vận hành đồng bộ, khách hàng được tiếp cận dịch vụ dễ dàng hơn, còn doanh nghiệp có thêm công cụ giám sát chất lượng phục vụ, đo lường thời gian xử lý và mức độ hài lòng của người dân.
Nền tảng để SAWACO đẩy mạnh chuyển đổi số là hệ thống cấp nước đã được duy trì ổn định trong nhiều năm. Quý 1/2026, tổng sản lượng nước sản xuất đạt hơn 172 triệu m³; công suất phát nước bình quân đạt hơn 1,91 triệu m³/ngày. Tổng công ty tiếp tục duy trì tỷ lệ 100% hộ dân thành phố thuộc phạm vi quản lý được sử dụng nước sạch, bảo đảm cấp nước liên tục, an toàn.
Nhìn lại chặng đường từ năm 2005 đến nay, SAWACO ghi nhận nhiều thay đổi lớn: công suất phát nước bình quân tăng từ 1,105 triệu m³/ngày lên khoảng 2,4 triệu m³/ngày; mạng lưới đường ống mở rộng từ 2.811 km lên gần 11.000 km; số đồng hồ nước tăng từ hơn 563.000 lên hơn 1,6 triệu cái; tỷ lệ thất thoát nước giảm từ 40,51% xuống còn 12,51%.
Từ "dòng chảy" vật lý dưới lòng đất đến "dòng chảy" dữ liệu trên môi trường số, SAWACO đang bước vào giai đoạn phát triển mới. 21 năm không chỉ là dấu mốc nhìn lại một hành trình bền bỉ, mà còn là điểm khởi đầu cho một cách phục vụ hiện đại hơn: để nước sạch đến từng nhà ổn định hơn, và dịch vụ cấp nước tiếp cận người dân thuận tiện hơn.