Theo phương án vừa được Công ty Phát Đạt gửi Sở Tài chính, tuyến bắt đầu từ nút giao An Sương, đi theo trục Trường Chinh – Cộng Hòa – Trường Sơn – Hồng Hà và kết thúc tại nút giao Nguyễn Thái Sơn – Nguyễn Kiệm.
Công trình dự kiến rộng 60 m, xây dựng theo tiêu chuẩn đường trục chính đô thị, vận tốc thiết kế 80 km/h. Tổng mức đầu tư sơ bộ khoảng 15.710 tỷ đồng, thực hiện theo hình thức PPP, hợp đồng BT (xây dựng – chuyển giao). Doanh nghiệp đề xuất chia dự án thành hai phần gồm giải phóng mặt bằng và xây dựng, mục tiêu hoàn thành vào năm 2030 nếu được chấp thuận.
Trước đó, trong kế hoạch phát triển hạ tầng giao thông đến năm 2030, Sở Xây dựng TP HCM cũng định hướng triển khai tuyến đường trên cao tại khu vực này.
Theo nghiên cứu sơ bộ của cơ quan chuyên môn, tuyến sẽ đi từ An Sương đến khu vực sân bay, bám theo trục Trường Chinh – Cộng Hòa, chủ yếu sử dụng dải phân cách giữa nhằm giảm khối lượng giải phóng mặt bằng, tiết kiệm chi phí và hạn chế ảnh hưởng đến người dân.
Phương án được xem xét để đồng bộ với dự án mở rộng quốc lộ 22 lên 60 m mà thành phố đang chuẩn bị triển khai. Khi hoàn thành, trục này được kỳ vọng tăng năng lực giao thông, đáp ứng nhu cầu đi lại từ cửa ngõ tây bắc vào sân bay Tân Sơn Nhất và khu trung tâm.
Trường Chinh – Cộng Hòa là trục giao thông chính kết nối khu vực quận 12, Tân Bình, Tân Phú, huyện Hóc Môn cũ với trung tâm TP HCM và sân bay. Tuy nhiên, lưu lượng phương tiện trên hai tuyến hiện vượt năng lực thiết kế, thường xuyên ùn tắc. Đoạn Cộng Hòa qua khu vực nút giao Hoàng Hoa Thám là một trong những điểm ùn ứ kéo dài, dù đã được xây dựng cầu vượt.
Tin Gốc: Vnexpress

Kế hoạch thực hiện công điện của Thủ tướng về xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ được Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch ban hành ngày 8/5.
Đợt kiểm tra tập trung vào doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân hoạt động trong lĩnh vực cung cấp nội dung số, truyền thông, quảng cáo, phát hành phim, âm nhạc, phần mềm, công nghệ thông tin, thương mại điện tử, dịch vụ internet, mạng xã hội và các đơn vị khai thác tác phẩm trên môi trường mạng.
Các đoàn kiểm tra sẽ rà soát việc sử dụng tác phẩm, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng; nghĩa vụ xin phép, trả tiền bản quyền; tình trạng sử dụng phần mềm máy tính có bản quyền tại doanh nghiệp.
Hoạt động đăng tải, sao chép, phát tán nội dung trên website, fanpage, kênh video, ứng dụng; livestream, phát sóng trực tuyến; hành vi chia sẻ, truyền đạt tác phẩm tới công chúng hoặc sử dụng nội dung chưa được cấp phép cũng thuộc phạm vi kiểm tra.
Cơ quan chức năng đồng thời kiểm tra hồ sơ pháp lý như giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, giấy phép hoạt động chuyên ngành, hợp đồng chuyển nhượng, sử dụng tác phẩm, văn bản cho phép khai thác quyền và chứng từ thanh toán tiền bản quyền. Nếu phát hiện vi phạm, đoàn kiểm tra sẽ lập biên bản, yêu cầu gỡ bỏ nội dung và kiến nghị xử phạt hành chính hoặc chuyển cơ quan có thẩm quyền xử lý.
Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch yêu cầu các đoàn kiểm tra làm việc đúng quy định, minh bạch, không gây ảnh hưởng hoạt động của cá nhân, doanh nghiệp. Đợt cao điểm kéo dài đến ngày 30/5.
Cục Bản quyền tác giả được giao tham mưu tổ chức kiểm tra việc chấp hành quy định về bản quyền chương trình máy tính tại doanh nghiệp; bản quyền phim, âm nhạc, chương trình truyền hình và trò chơi điện tử trên mạng.
Trước đó ngày 6/5, Cục Bản quyền tác giả yêu cầu cá nhân, doanh nghiệp không sử dụng chương trình máy tính không có bản quyền; không sử dụng trái phép quyền tác giả, quyền liên quan với tác phẩm, cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng.
Đây là một phần trong đợt cao điểm xử lý xâm phạm sở hữu trí tuệ toàn quốc từ ngày 7 đến 30/5 theo chỉ thị của Thủ tướng ban hành ngày 5/5. Người đứng đầu Chính phủ yêu cầu các bộ, ngành, địa phương đồng loạt triển khai kiểm tra, xử lý vi phạm. Trong đó, Bộ Công an sẽ triệt phá các website vi phạm bản quyền trực tuyến có lượng truy cập lớn, đặc biệt là các trang cung cấp phim, âm nhạc, trò chơi điện tử và chương trình truyền hình lậu bằng tiếng Việt và tiếng nước ngoài.
Tin Gốc: Vnexpress

Buổi sáng đầu tháng 4, đứng bên con kênh ở phường Hải Dương, TP Hải Phòng, ông Lê Văn Sử buồn bã nhìn dòng nước đen đặc, ruồi nhặng bu vào một số con cá chết lập lờ trên mặt nước. Người đàn ông 85 tuổi không thể ngờ mạch sống của người dân Hải Dương cũng như nhiều tỉnh thành lân cận lại ô nhiễm đến thế.
Mười năm chín hạn
Trước khi công trình thủy lợi Bắc Hưng Hải được xây dựng, cánh đồng của tỉnh Hải Dương cũ chỗ thì khô hạn kéo dài, chỗ lại ngập úng quanh năm. Nhà ông Sử ở xã Thanh Hồng, huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương cũ, vốn đông người, ruộng có nhưng nhiều vụ phải bỏ không vì thiếu nước hoặc vì nước ngập quá lâu không thể cấy lúa. Những mùa giáp hạt trở thành nỗi ám ảnh của ông.
"Cái đói kéo dài hết năm này sang năm khác, nhìn ai cũng gầy gò, ốm yếu, đen đúa", ông Sử nhớ lại những năm 1940-1950.
Vùng Bắc Hưng Hải là đồng bằng rộng hơn 214.000 ha, được bao bọc bởi bốn con sông lớn gồm sông Hồng, Đuống, Luộc và Thái Bình. Lưu vực hệ thống trải dài trên toàn bộ tỉnh Hưng Yên (cũ), phần lớn Hải Dương (cũ), cùng một phần Hà Nội và Bắc Ninh.
Địa hình tương đối thấp, cao trung bình chỉ khoảng 0,5-1 m so với mực nước biển, vốn rất thuận lợi cho canh tác nông nghiệp nếu có nguồn nước ổn định. Tuy nhiên, trong nhiều thập kỷ trước đó, phần lớn ruộng đồng trong vùng vẫn phải phụ thuộc gần như hoàn toàn vào nước mưa.
Những năm hạn hán, đất đồng nứt nẻ, lúa chết khô. Khi mưa lớn hoặc nước sông dâng cao, đồng ruộng lại ngập úng kéo dài khiến mùa màng thất bát. Người dân trong vùng vẫn truyền nhau câu nói "mười năm chín hạn" (10 năm thì hết 9 năm hạn hán) để nói về sự bấp bênh trong sản xuất nông nghiệp.
Nguồn nước sinh hoạt cũng không khá hơn. Ao làng có nước song chua đến mức người lội xuống lâu một chút là rụng cả lông chân. Bệnh ngoài da khá phổ biến. Ông Sử nhớ những lần đi thực tập về quê không dám rửa chân bằng nước ao làng, phải xách nước nuôi cá ở chỗ khác về rửa. Dân gian khi ấy còn truyền nhau câu nói khá nặng nề về vùng đất "sống ngâm da, chết ngâm xương".
Đại thủy nông lớn nhất miền Bắc
Sau chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954, miền Bắc bước vào giai đoạn khôi phục kinh tế, nhu cầu đảm bảo nước cho sản xuất nông nghiệp trở thành cấp bách. Năm 1956, Chính phủ quyết định xây dựng hệ thống thủy lợi Bắc Hưng Hải nhằm đưa nước từ sông Hồng vào tưới tiêu cho vùng đồng bằng rộng lớn.
Theo thiết kế, nước từ sông Hồng qua cống Xuân Quan (Hưng Yên), dẫn theo kênh trục chính rồi tỏa ra mạng lưới kênh nhánh trước khi thoát ra cống An Thổ (Hải Phòng), tạo thành tuyến thủy lợi dài hơn 230 km trên trục chính và hàng nghìn kilomet kênh mương nội đồng. Toàn bộ hệ thống có khoảng 1.900 công trình cống, trạm bơm các loại, đảm bảo khả năng tưới tiêu chủ động cho hơn 130.000 ha đất canh tác trong lưu vực Bắc Hưng Hải.
Trước khi chuẩn bị khởi công, ngày 20/9/1958, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã về nói chuyện với công nhân và nhân dân trên công trường Bắc Hưng Hải. Bác động viên người dân: "Nay Đảng và Chính phủ quyết định cùng nhân dân xây dựng công trình thủy lợi Bắc Hưng Hải để đưa nước vào ruộng cho đồng bào. Cán bộ và đồng bào quyết tâm vượt mọi khó khăn, làm cho nhanh, cho tốt. Bây giờ chịu khó phấn đấu mấy tháng, sau này sẽ hưởng hạnh phúc lâu dài hàng trăm năm".
Ngày 1/10/1958, công trình khởi công. Hàng chục nghìn bộ đội, dân công, học sinh, sinh viên và cán bộ từ nhiều địa phương tham gia đào kênh, đắp đập và xây dựng các cống, trạm bơm điều tiết nước. Ở làng gốm Bát Tràng, gần 150 hộ dân tự nguyện dỡ nhà lấy đất đào tuyến kênh trục chính.
Sau khi cống Xuân Quan hoàn thành và đưa nước vào đồng ngày 30/10/1959, việc xây dựng toàn hệ thống được triển khai nhanh chóng. Giai đoạn đầu, 26 trạm bơm cố định và 26 trạm bơm thuyền được xây để cấp nước cho các khu ruộng cao và hỗ trợ tiêu thoát nước. Các tuyến sông tự nhiên như Kim Sơn, Đình Đào, Cửu An, Tứ Kỳ được cải tạo, nạo vét và kết nối với mạng lưới kênh đào mới, tạo thành hệ thống thủy lợi liên hoàn.
Sau 7 tháng thi công, hệ thống hoàn thành, trở thành công trình thủy lợi lớn nhất miền Bắc thời bấy giờ, còn được gọi là "Đại thủy nông Bắc - Hưng - Hải". Ông Sử bảo cuộc sống của gia đình ông và hàng triệu người đã thay đổi vì đại thủy nông này.
Từ mùa vàng bội thu đến dòng nước đổi màu
Năm 1962, sau khi tốt nghiệp đại học, ông Sử được phân công về làm việc tại Công ty Bắc Hưng Hải. Những chuyến đi kiểm tra hệ thống khi đó khiến ông không khỏi ngạc nhiên trước sự thay đổi của dòng nước trong vùng.
"Nước trong đến mức nhìn thấy đáy. Ai cũng có thể tắm giặt ngay trên kênh", ông nhớ lại.
Nguồn nước dồi dào nhanh chóng làm thay đổi sản xuất nông nghiệp. Những cánh đồng trước kia phụ thuộc vào nước mưa bắt đầu có thể gieo cấy hai vụ lúa mỗi năm, năng suất vụ đầu đã đạt 60-62 tạ/ha, tổng sản lượng lúa trong vùng hơn 1,2 triệu tấn. Nhiều địa phương trong lưu vực Bắc Hưng Hải dần trở thành những vùng sản xuất lúa trọng điểm của đồng bằng Bắc Bộ.
Nguồn nước từ hệ thống kênh mương còn tạo điều kiện phát triển nuôi trồng thủy sản. Ở xã Đại Thắng (Hải Phòng), ông Vũ Văn Kế đã gắn bó với nghề nuôi thủy sản trên kênh Bắc Hưng Hải gần nửa thế kỷ. Có thời điểm gia đình ông nuôi tới 4-5 lồng cá trên kênh. Nguồn nước sạch giúp cá sinh trưởng tốt.
Không chỉ cá nuôi lồng, nhiều loại thủy sản tự nhiên cũng phát triển mạnh. Có những vụ, riêng rươi ông Kế thu hoạch được hơn 2 tấn. "Cá mè, cá chép nhiều vô kể. Riêng khu vực cống Xuân Quan có lần kéo lưới lên được hàng chục tấn cá", ông Kế nhớ lại. Nguồn lợi thủy sản dồi dào khiến nhiều gia đình sống ven kênh có thêm sinh kế ngoài trồng lúa.
Tuy nhiên, từ cuối những năm 1990 trở lại đây, dòng kênh từng trong xanh bắt đầu thay đổi. Những đoạn nước đục và có mùi hôi xuất hiện trước tiên ở khu vực gần khu dân cư và làng nghề, sau đó lan dần ra nhiều tuyến kênh trong hệ thống, ông Sử nhớ lại.
"Nguồn nước ô nhiễm trầm trọng từ năm 2000. Mỗi lần thả lưới xuống đánh cá, nếu thu được 5 kg cá thì tôi phải mất tới 3 ngày để gỡ hết túi nylon mắc trên lưới", ông Kế kể.
Quá trình đô thị hóa và phát triển công nghiệp trong lưu vực khiến lượng nước thải đổ vào hệ thống ngày càng lớn. Hiện Bắc Hưng Hải phải tiếp nhận nước thải từ khu dân cư, làng nghề và nhiều khu công nghiệp nằm dọc tuyến kênh.
Theo Cục Quản lý và Xây dựng công trình thủy lợi, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, mỗi ngày tổng lượng nước thải xả vào hệ thống khoảng 538.830 m3, trong đó phần lớn chưa được xử lý triệt để. Khi lượng nước thải vượt quá khả năng tự làm sạch của dòng chảy, chất lượng nước bắt đầu suy giảm.
Báo cáo tháng 2/2026 của Viện Nước, Tưới tiêu và Môi trường cho biết tình trạng ô nhiễm tập trung chủ yếu tại các điểm Xuân Thụy, Bình Lâu và Ngọc Đà. Các chỉ tiêu dinh dưỡng và hữu cơ trong nước tại đây đều vượt xa quy chuẩn môi trường nước mặt.
Đơn cử nồng độ amoni cho phép chỉ khoảng 0,3 mg/l, nhưng tại trạm Xuân Thụy (Hưng Yên) lên 25,6 mg/l, cao gấp hơn 85 lần. Hàm lượng oxy hòa tan chỉ khoảng 2 mg/l, thấp hơn nhiều so với mức tối thiểu 4 mg/l cần thiết để duy trì hệ sinh thái thủy sinh. Tại trạm Bình Lâu (Hải Phòng), nồng độ amoni trung bình khoảng 22 mg/l, cao gấp hơn 70 lần quy chuẩn.
Dọc nhiều tuyến kênh, nước chuyển màu đen, bọt trắng nổi dày và mùi hôi bốc lên nồng nặc. Những lồng cá từng mang lại thu nhập cho gia đình ông Kế buộc cũng phải tháo dỡ. Nước bẩn, cá, rươi nuôi không nổi vì năng suất giảm bảy, tám lần. Cả gia đình con cái ngày trước quây quần làm thủy sản, giờ phải phân tán đi làm công ty, ông Kế kể.
Chứng kiến các dòng kênh trong hệ thống Bắc Hưng Hải đang chết dần, ông Kế, ông Sử không khỏi xót xa. Không dám hy vọng có những mùa cá bội thu như trước, họ chỉ mong dòng kênh trở lại trong xanh.
"Mong ước đó không biết có viển vông quá không?", ông Sử tự hỏi.
Gia Chính - Mộc Miên
Nguồn: https://vnexpress.net/bac-hung-hai-tu-dai-thuy-nong-den-dong-song-chet-5050257.html

Sáng nay 17.5, Ban quản lý Khu bảo tồn biển đảo Cồn Cỏ (Quảng Trị) đã phối hợp với Đồn biên phòng cửa khẩu cảng Cửa Việt và người dân địa phương thả 3 cá thể rùa biển quý hiếm về với môi trường tự nhiên.
Hôm qua 16.5, trong quá trình đánh bắt thủy sản trên vùng biển Cồn Cỏ, ngư dân Bùi Đình Thủy (trú tại xã Cửa Việt) phát hiện 3 cá thể rùa xanh (vích) bị mắc trong lưới và trôi dạt trên biển. Mỗi con nặng khoảng 1,5 kg, chiều dài mai khoảng 25 cm, rộng 20 cm.
Ngay sau đó, ngư dân Bùi Đình Thủy đã cẩn thận gỡ 3 cá thể rùa biển ra khỏi lưới và đưa lên thuyền di chuyển vào bờ giao nộp cho lực lượng chức năng.
Sau khi tiếp nhận, lực lượng chức năng tiến hành kiểm tra sức khỏe, đến sáng nay 17.5, các cá thể rùa biển này được thả về lại môi trường tự nhiên.
Rùa xanh (vích) là một trong những loài rùa biển hoang dã quý hiếm, được ưu tiên bảo vệ và nằm trong Sách đỏ Việt Nam, danh mục đỏ IUCN và phụ lục Công ước CITES - Công ước về thương mại quốc tế các loài động, thực vật hoang dã nguy cấp.
Tin Gốc: Thanh Niên

