Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn hoan nghênh hai bên đã ký kết nhiều văn kiện hợp tác quan trọng trong chuyến thăm, khẳng định Quốc hội Việt Nam ủng hộ và sẽ giám sát, thúc đẩy việc triển khai các thỏa thuận này nhằm nâng cao hiệu quả hợp tác song phương.
Tổng thống Lee Jae Myung đánh giá cao vai trò của Quốc hội Việt Nam và cá nhân Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn trong quá trình lãnh đạo đưa Việt Nam trở thành một trong những nền kinh tế có mức tăng trưởng thuộc nhóm cao nhất trong khu vực.
Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn cho rằng hai nước có nhiều tiềm năng và lợi thế bổ trợ lẫn nhau trên các lĩnh vực trọng tâm trong giai đoạn tới, khẳng định Việt Nam luôn sẵn sàng tạo môi trường pháp lý minh bạch, thuận lợi cho các nhà đầu tư nước ngoài, trong đó có các doanh nghiệp Hàn Quốc yên tâm đầu tư, ổn định lâu dài tại Việt Nam, chấp hành pháp luật Việt Nam.
Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn cho rằng hợp tác văn hóa – thể thao đang ngày càng trở thành cầu nối quan trọng gắn kết hai dân tộc, hoan nghênh việc hai bên thúc đẩy hợp tác trong lĩnh vực thể thao điện tử và các môn thể thao góp phần xây dựng sức khỏe cộng đồng và tinh thần đoàn kết.
Tổng thống Lee Jae Myung mong muốn Quốc hội Việt Nam tiếp tục hỗ trợ và tạo điều kiện cho các doanh nghiệp Hàn Quốc yên tâm đầu tư ổn định, lâu dài tại Việt Nam; khẳng định Hàn Quốc sẽ theo đuổi hợp tác toàn diện với Việt Nam từ các lĩnh vực cơ sở hạ tầng, vận tải, năng lượng đến các lĩnh vực công nghiệp tương lai bao gồm khoa học, công nghệ, sở hữu trí tuệ, trí tuệ nhân tạo (AI), công nghiệp văn hóa.
Về hợp tác nghị viện, hai bên đánh giá cao quan hệ chặt chẽ giữa quốc hội hai nước, đóng góp tích cực vào việc củng cố quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện Việt Nam – Hàn Quốc; nhất trí tiếp tục làm sâu sắc hơn quan hệ hợp tác giữa quốc hội hai nước thông qua việc duy trì trao đổi đoàn cấp cao và các ủy ban chuyên môn, tăng cường hoạt động của nhóm nghị sĩ hữu nghị hai nước; phát huy vai trò giám sát, thúc đẩy các cam kết, thỏa thuận hợp tác giữa hai nước, góp phần quan trọng vào việc củng cố nền tảng chính trị, thúc đẩy hợp tác kinh tế sâu rộng, bền vững, đồng thời làm phong phú thêm giao lưu văn hóa – thể thao và khai thác hiệu quả tiềm năng hợp tác trong các lĩnh vực hợp tác kinh tế – đầu tư – công nghệ, mang lại lợi ích thiết thực cho nhân dân hai nước.
Tổng thống Lee Jae Myung đề nghị Quốc hội Việt Nam tiếp tục hỗ trợ và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho cộng đồng người Hàn Quốc tại Việt Nam cũng như các doanh nghiệp Hàn Quốc đang đầu tư, hoạt động tại Việt Nam.
Tin Gốc: Thanh Niên
Chính Trị
Phòng, chống tội phạm, tham nhũng, tiêu cực ngay từ các cơ quan bảo vệ pháp luật

Sáng 7.5, tại Hà Nội, Đoàn kiểm tra, giám sát số 11 của Bộ Chính trị, Ban Bí thư do Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn làm trưởng đoàn đã làm việc với Ban Thường vụ Đảng ủy Viện Kiểm sát nhân dân (VKSND) tối cao.
Phát biểu tại cuộc làm việc, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn khẳng định, Đảng và Nhà nước luôn ghi nhận đóng góp của ngành kiểm sát nhân dân, từ việc bảo vệ thành quả cách mạng, giữ vững an ninh chính trị, củng cố chính quyền nhân dân, đảm bảo trật tự an toàn xã hội, phòng, chống tội phạm, phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; đến bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, của tổ chức, cá nhân.
Chủ tịch Quốc hội đề nghị Đảng ủy VKSND tối cao tiếp tục triển khai thực hiện hiệu quả Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm giai đoạn 2026 - 2030, phấn đấu thực hiện 2 mục tiêu 100 năm. Làm tốt công tác xây dựng Đảng, xây dựng ngành trong sạch, vững mạnh, hiện đại, hoạt động thông suốt, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả mô hình VKSNA 3 cấp; phát huy tinh thần đoàn kết, trách nhiệm, kỷ luật, kỷ cương, liêm chính trong toàn ngành.
Chủ tịch Quốc hội lưu ý, ngành kiểm sát thực hiện đầy đủ 4 luật, 2 nghị quyết của Quốc hội khóa XV và 9 nghị quyết quan trọng của Ủy ban Thường vụ đã ban hành.
Đặc biệt, ngành cần quan tâm xây dựng đội ngũ cán bộ kiểm sát có bản lĩnh chính trị vững vàng, chuyên môn sâu, đạo đức trong sáng, kỷ luật nghiêm minh, có dũng khí bảo vệ cái đúng, kiên quyết đấu tranh với cái sai.
Chủ tịch Quốc hội chỉ rõ, trong hoạt động công tố phải bảo đảm đúng pháp luật, đúng người, đúng tội, chống oan sai, không bỏ lọt tội phạm, xử lý nghiêm minh, đồng thời cũng bảo đảm tính nhân văn, nhân đạo.
Trong kiểm sát hoạt động tư pháp, phải bảo đảm mọi hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án đúng pháp luật; quyền lực tư pháp được kiểm soát chặt chẽ; phòng, chống tội phạm, tham nhũng, tiêu cực ngay từ các cơ quan bảo vệ pháp luật.
Chủ tịch Quốc hội yêu cầu tăng cường chuyển đổi số, ứng dụng khoa học, công nghệ, trí tuệ nhân tạo, hiện đại hóa ngành kiểm sát, hướng tới mô hình Viện kiểm sát điện tử, cắt bỏ thủ tục trung gian, nâng cao hiệu quả xử lý công việc, thời gian xử lý hồ sơ thủ công, tăng tính minh bạch trong quá trình thực thi nhiệm vụ.
"Việc ứng dụng công nghệ giúp ngành đạt được 3 mục tiêu: chính xác (giảm sai sót chủ quan); minh bạch (dễ dàng kiểm tra, giám sát); hiệu quả (tiết kiệm thời gian, nhân lực)", Chủ tịch Quốc hội nhấn mạnh.
Đồng thời, ngành kiểm sát siết chặt công tác kiểm tra, giám sát, đánh giá cán bộ, gắn với kết quả thực hiện nhiệm vụ; hoàn thiện cơ chế phối hợp liên ngành trong toàn bộ quá trình tố tụng.
Tin Gốc: Thanh Niên

Phát biểu tại hội nghị, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cho hay, sau thành công của Đại hội XIV của Đảng, cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 và đợt 1 kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa XVI, có thể nói đường lối, hướng đi đã rõ ràng, mạch lạc; cơ cấu, tổ chức, đặc biệt về nhân sự của bộ máy trong toàn hệ thống chính trị đã cơ bản hoàn chỉnh. Nhiệm vụ hiện nay là "làm và làm đúng, làm quyết liệt, hiệu quả".
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nhấn mạnh 5 vấn đề trọng tâm, xuyên suốt. Trước hết, phải nhận thức đầy đủ, sâu sắc rằng các quy định của Đảng là thể chế bản lề, bảo đảm Đảng vận hành như một khối thống nhất trong toàn bộ hệ thống chính trị.
Mỗi cấp ủy, tổ chức đảng, mỗi cán bộ, đảng viên phải nhận thức đúng, hiểu sâu và thực hiện nghiêm các quy định của Đảng, coi đó là trách nhiệm chính trị trực tiếp của mình. Nếu nhận thức không đầy đủ, thực hiện không nghiêm, thì rất dễ dẫn đến tình trạng tùy tiện trong vận dụng, lỏng lẻo trong kỷ luật, thiếu thống nhất trong hành động.
"Không được phép hiểu khác, làm khác, càng không được vận dụng theo hướng thuận lợi cho riêng mình", Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nói, đồng thời lưu ý việc kiểm tra, giám sát và xử lý nghiêm vi phạm, khuyến khích, biểu dương cách làm hay, sáng tạo theo quy định.
Nội dung tiếp theo là đổi mới căn bản tư duy phát triển, khai thác hiệu quả mọi nguồn lực và vốn để tăng trưởng bền vững. Theo Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, không ít nơi, không ít cấp vẫn tồn tại tư duy phát triển chủ yếu dựa vào cái sẵn có, lấy ngân sách nhà nước, đất đai và đầu tư công làm trụ cột chính. Đây là cách tiếp cận coi nguồn lực phát triển là hữu hạn và tĩnh, thiên về phân chia hơn là tạo lập.
"Một nền kinh tế muốn tăng trưởng cao, bền vững và có khả năng bứt phá, không chỉ vận hành trên nền tảng một nguồn lực đơn nhất, càng không thể đặt toàn bộ gánh nặng phát triển lên vai Nhà nước", Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nhấn mạnh.
Thực tiễn trên đòi hỏi phải chuyển đổi căn bản tư duy phát triển từ phân bổ nguồn lực sang kiến tạo, dẫn dắt và kích hoạt nguồn lực. Vốn nhà nước cần được định vị là vốn mồi, vốn kiến tạo nhằm định hình không gian phát triển, giảm thiểu rủi ro ban đầu. Vốn doanh nghiệp (DN), bao gồm khu vực tư nhân và FDI, cần được định hướng vào các ngành sản xuất giá trị gia tăng cao, các dự án đổi mới sáng tạo và các chuỗi giá trị tri thức. Nguồn vốn vay nước ngoài phải được sử dụng theo nguyên tắc chọn lọc chiến lược, ưu tiên cho các dự án hạ tầng then chốt và các lĩnh vực có khả năng lan tỏa cao.
Đặc biệt, theo Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, phải coi trọng việc khơi thông vốn của nhân dân, xem đây là đột phá chiến lược trong giai đoạn mới.
Song song với nguồn lực, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước yêu cầu kiên quyết khắc phục tư duy cục bộ địa giới hành chính, cục bộ ngành, cục bộ nhiệm kỳ trong quy hoạch phát triển. Quy hoạch phát triển tổng thể phải thể hiện được tư duy tích hợp, đa mục tiêu, dài hạn. Mỗi quy hoạch phát triển địa phương, quy hoạch ngành phải được nhìn trong cấu trúc tổng thể, gắn với liên kết vùng, gắn với tầm nhìn "hướng Đông - tỏa Tây", "trục Bắc - Nam liền dải".
Trong quy hoạch tổng thể phải đặc biệt chú trọng hơn nữa quy hoạch năng lượng. "Không có năng lượng đủ, ổn định, bền vững, giá phù hợp và phân bổ hợp lý thì không thể có công nghiệp hóa, hiện đại hóa thành công, không thể có tăng trưởng cao kéo dài, không thể có những không gian phát triển mới", Tổng Bí thư, Chủ tịch nước lưu ý.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước cũng yêu cầu dứt khoát chấm dứt tình trạng đầu tư theo phong trào, theo mong muốn chủ quan, theo cơ chế xin - cho, theo nhiệm kỳ, theo hình thức bề ngoài. Mọi dự án phải chú trọng yêu cầu đáp ứng tiêu chuẩn kỹ thuật quốc gia, chuẩn chất lượng quốc gia, yêu cầu đồng bộ, hiện đại, vận hành được lâu dài, phục vụ được mục tiêu phát triển thực sự.
Vẫn theo Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, nền kinh tế chỉ thực sự mạnh khi từng tế bào của nó khỏe mạnh. Tăng trưởng thực chất phải được hình thành cả hai chiều từ trên xuống và cả từ dưới lên, trong từng mắt xích của nền kinh tế, từ từng hộ gia đình, từng hộ kinh doanh, từng cơ sở sản xuất, từng DN.
Do đó, phải kiến tạo môi trường phát triển để hàng triệu người dân nhận thấy cơ hội; để mỗi hộ gia đình, hộ kinh doanh có điều kiện thuận lợi đầu tư, mở rộng sản xuất, gắn bó lâu dài với nền kinh tế; để DN nhìn thấy thể chế ổn định, minh bạch, chi phí tuân thủ hợp lý, thúc đẩy sáng tạo, khởi nghiệp và phát triển bền vững.
Vấn đề cuối cùng là tiếp tục hoàn thiện và nâng cao hiệu lực, hiệu quả của mô hình chính quyền địa phương 2 cấp. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nhấn mạnh một nguyên lý xuyên suốt: T.Ư mạnh về định hướng chiến lược, thể chế và giám sát; địa phương mạnh về tổ chức thực hiện, trong đó cấp xã đóng vai trò then chốt quyết định chất lượng vận hành của toàn hệ thống.
Để hiện thực hóa tư duy này, cần xây dựng cấp xã mạnh về năng lực ra quyết định mạnh về huy động nguồn lực và mạnh về giám sát và phản hồi.
Tin Gốc: Thanh Niên
Chính Trị
Giải pháp cốt lõi nâng cao chất lượng công tác dư luận xã hội trong thời đại số

Sự phát triển bùng nổ của công nghệ số, internet và mạng xã hội đang làm thay đổi sâu sắc mọi mặt của đời sống xã hội, trong đó có môi trường hình thành, lan tỏa và tác động của dư luận xã hội.
Nếu như trước đây, dư luận xã hội chủ yếu được hình thành thông qua các kênh giao tiếp trực tiếp, báo chí truyền thống hoặc các tổ chức chính trị - xã hội, thì ngày nay, không gian mạng đã trở thành môi trường quan trọng sản sinh, tương tác, lan truyền và khuếch đại dư luận.
Trong bối cảnh đó, công tác dư luận xã hội đứng trước cả thời cơ và thách thức mới. Đổi mới công tác dư luận xã hội không chỉ là yêu cầu khách quan của quá trình chuyển đổi số quốc gia, mà còn là nhiệm vụ chính trị quan trọng nhằm củng cố niềm tin xã hội, tăng cường đồng thuận xã hội, xây dựng vững chắc "thế trận lòng dân", góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng.
Điểm nổi bật nhất của dư luận xã hội hiện nay là tốc độ hình thành và lan truyền thông tin diễn ra với quy mô rất lớn, cường độ rất nhanh. Chỉ một sự kiện, một phát ngôn, một đoạn video ngắn hoặc một thông tin chưa được kiểm chứng cũng có thể nhanh chóng thu hút hàng triệu lượt tiếp cận, bình luận, chia sẻ và tạo thành làn sóng dư luận mạnh mẽ trong xã hội.
Không gian mạng đã làm thay đổi căn bản cấu trúc truyền thông xã hội. Từ chỗ công chúng chủ yếu tiếp nhận thông tin một chiều, ngày nay mỗi người dân vừa là người tiếp nhận, vừa là người sản xuất, bình luận, lan truyền và tác động đến thông tin. Điều này làm cho dư luận xã hội trở nên đa chiều hơn, dân chủ hơn, nhưng cũng phức tạp hơn, khó dự báo hơn.
Một đặc điểm đáng chú ý là ranh giới giữa thông tin chính thống và thông tin phi chính thống ngày càng trở nên mong manh. Bên cạnh những giá trị tích cực mà môi trường số mang lại, tình trạng tin giả, thông tin sai sự thật, thông tin độc hại, xuyên tạc, kích động vẫn diễn biến phức tạp.
Nhiều vụ việc xã hội cho thấy, nếu thông tin chính thống chậm được cung cấp hoặc thiếu sức thuyết phục thì rất dễ tạo khoảng trống thông tin, làm phát sinh tâm lý hoài nghi, gây nhiễu loạn dư luận và tác động tiêu cực đến niềm tin xã hội.
Thực tiễn cũng cho thấy, các thế lực thù địch, phần tử cơ hội chính trị đang triệt để lợi dụng không gian mạng để xuyên tạc chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; kích động tâm lý bất mãn, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc; tác động vào nhận thức, tư tưởng của cán bộ, đảng viên và Nhân dân.
Những biến đổi đó đặt ra yêu cầu phải đổi mới mạnh mẽ công tác dư luận xã hội theo hướng hiện đại, chủ động, chuyên nghiệp, dựa trên nền tảng số và bám sát đời sống nhân dân.
Những năm qua, công tác dư luận xã hội đã có nhiều đổi mới tích cực. Hệ thống tổ chức, mạng lưới cộng tác viên từ Trung ương đến cơ sở tiếp tục được củng cố; việc nắm bắt, tổng hợp, phản ánh tâm tư, nguyện vọng của các tầng lớp nhân dân ngày càng được quan tâm. Nhiều vấn đề bức xúc, nổi cộm đã được phát hiện sớm, góp phần giúp cấp ủy, chính quyền kịp thời lãnh đạo, chỉ đạo xử lý.
Hoạt động điều tra xã hội học, khảo sát dư luận từng bước được mở rộng. Một số cơ quan, địa phương đã bước đầu ứng dụng công nghệ thông tin trong theo dõi, phân tích thông tin trên báo chí và mạng xã hội. Công tác dư luận xã hội ngày càng thể hiện rõ hơn vai trò là kênh tham mưu quan trọng trong công tác tư tưởng, dân vận, truyền thông chính sách và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.
Tuy nhiên, nhìn một cách tổng thể, công tác dư luận xã hội vẫn còn những hạn chế đáng lưu ý. Ở nhiều nơi, công tác này vẫn chủ yếu dừng ở việc phản ánh tình hình, chưa chú trọng đúng mức đến phân tích chuyên sâu, dự báo xu hướng và tham mưu chính sách. Không ít báo cáo còn nặng về mô tả hiện tượng, thiếu đánh giá bản chất, nguyên nhân và dự báo tác động.
Việc ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn trong công tác dư luận xã hội còn chậm, thiếu đồng bộ. Nhiều địa phương vẫn chủ yếu sử dụng phương pháp thủ công, trong khi dư luận trên không gian mạng biến động từng giờ, từng phút.
Cơ chế phối hợp giữa công tác dư luận xã hội với truyền thông chính sách, công tác dân vận, hoạt động giám sát và phản biện xã hội ở một số nơi còn thiếu chặt chẽ. Nhiều thông tin phản ánh từ cơ sở chưa được xử lý, phản hồi kịp thời, làm giảm hiệu quả tạo đồng thuận xã hội.
Bên cạnh đó, chất lượng đội ngũ cán bộ làm công tác dư luận xã hội chưa đồng đều; kỹ năng phân tích dữ liệu, khai thác thông tin số, nhận diện và xử lý các vấn đề phát sinh trên không gian mạng còn hạn chế. Đây là điểm nghẽn cần sớm được khắc phục nếu muốn nâng cao chất lượng công tác dư luận xã hội trong thời đại số.
Trong bối cảnh chuyển đổi số diễn ra sâu rộng, công tác dư luận xã hội cần được đổi mới toàn diện cả về tư duy, phương thức, công nghệ và tổ chức thực hiện. Đây không chỉ là yêu cầu nghiệp vụ của công tác tuyên giáo, dân vận, mà còn là yêu cầu chính trị quan trọng nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng, hiệu quả quản lý của Nhà nước, phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội trong nắm bắt tâm tư, nguyện vọng, củng cố niềm tin và tạo đồng thuận trong nhân dân. Để đáp ứng yêu cầu mới, cần tập trung thực hiện đồng bộ 5 giải pháp cốt lõi sau:
Một là, đổi mới mạnh mẽ tư duy về công tác dư luận xã hội.
Đây là giải pháp mang tính nền tảng. Cần chuyển từ tư duy "nắm bắt và phản ánh dư luận" sang tư duy "quản trị dư luận xã hội trong môi trường số". Sự chuyển đổi này không có nghĩa là hành chính hóa hay áp đặt đối với dư luận xã hội, mà là nâng cao năng lực lắng nghe, phân tích, dự báo, định hướng và tham mưu xử lý các vấn đề xã hội một cách chủ động, khoa học, thuyết phục.
Trong thời đại số, công tác dư luận xã hội không chỉ nhằm biết nhân dân đang quan tâm điều gì, mà quan trọng hơn là phải nhận diện được vì sao vấn đề đó được quan tâm, nhóm xã hội nào đang chịu tác động, mức độ lan tỏa đến đâu, xu hướng diễn biến ra sao, nguy cơ bị lợi dụng như thế nào và cần tham mưu giải pháp gì để xử lý từ sớm, từ xa.
Nếu chỉ dừng lại ở phản ánh hiện tượng, công tác dư luận xã hội sẽ luôn đi sau thực tiễn; nếu có năng lực phân tích và dự báo, công tác này sẽ trở thành công cụ quan trọng giúp cấp ủy, chính quyền chủ động trong lãnh đạo, chỉ đạo.
Do đó, cần coi dư luận xã hội là một nguồn dữ liệu quan trọng trong quá trình hoạch định, tổ chức thực hiện và đánh giá chính sách công. Mỗi chủ trương, chính sách lớn, nhất là những chính sách tác động trực tiếp đến đời sống nhân dân, đều cần được nhìn nhận từ góc độ dư luận xã hội: Nhân dân hiểu thế nào, đồng thuận đến đâu, băn khoăn điều gì, vướng mắc ở khâu nào, cần điều chỉnh ra sao. Đây chính là cơ sở để chính sách đi vào cuộc sống, hạn chế khoảng cách giữa chủ trương đúng với tổ chức thực hiện hiệu quả.
Công tác dư luận xã hội vì vậy phải trở thành một bộ phận hữu cơ của phương thức lãnh đạo, quản lý hiện đại: lãnh đạo phải dựa vào dân, lắng nghe dân, hiểu dân, thuyết phục dân và tổ chức để nhân dân tham gia xây dựng, giám sát, hoàn thiện chính sách.
Hai là, đẩy mạnh chuyển đổi số trong công tác dư luận xã hội.
Đây là giải pháp mang tính đột phá, quyết định khả năng thích ứng của công tác dư luận xã hội trong bối cảnh mới. Khi dư luận xã hội hình thành và lan truyền chủ yếu trên môi trường số, nếu công tác nắm bắt dư luận vẫn chủ yếu dựa vào phương pháp thủ công, phân tán, chậm cập nhật thì sẽ khó theo kịp tốc độ biến động của thực tiễn.
Cần khẩn trương xây dựng cơ sở dữ liệu và hệ thống dữ liệu chuyên ngành về dư luận xã hội theo hướng thống nhất, liên thông, có khả năng cập nhật, phân tích và khai thác hiệu quả. Trên cơ sở đó, từng bước hình thành các trung tâm hoặc bộ phận phân tích, dự báo dư luận xã hội trên nền tảng số, có khả năng theo dõi, tổng hợp, phân loại, đánh giá các dòng thông tin lớn trên báo chí, mạng xã hội và các nền tảng truyền thông số.
Cùng với đó, cần đẩy mạnh ứng dụng trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, công nghệ phân tích cảm xúc, phân tích xu hướng thông tin, nhận diện chủ đề nóng, phát hiện bất thường trong dòng chảy thông tin. Những công cụ này giúp phát hiện sớm các vấn đề nổi lên, cảnh báo nguy cơ phát sinh điểm nóng, nhận diện thông tin sai lệch, xuyên tạc, kích động, từ đó hỗ trợ cơ quan chức năng tham mưu giải pháp lãnh đạo, chỉ đạo, truyền thông và xử lý chính sách phù hợp.
Tuy nhiên, chuyển đổi số trong công tác dư luận xã hội không chỉ là đầu tư phần mềm, thiết bị hay lập thêm hệ thống kỹ thuật. Điều quan trọng hơn là phải đổi mới quy trình làm việc, cơ chế phối hợp, phương pháp phân tích và năng lực sử dụng dữ liệu. Dữ liệu chỉ có giá trị khi được phân tích đúng, đặt trong bối cảnh chính trị - xã hội cụ thể và chuyển hóa thành kiến nghị chính sách có tính khả thi.
Mục tiêu cuối cùng là chuyển từ "đi sau phản ánh" sang "đi trước dự báo"; từ xử lý bị động sang chủ động nhận diện, phòng ngừa rủi ro xã hội; từ báo cáo tình hình sang kiến tạo giải pháp, góp phần nâng cao năng lực quản trị quốc gia trong môi trường số.
Ba là, gắn chặt công tác dư luận xã hội với truyền thông chính sách và cơ chế phản hồi xã hội.
Thực tiễn cho thấy, nhiều khó khăn trong quá trình tổ chức thực hiện chính sách không phải lúc nào cũng xuất phát từ bản thân chính sách, mà có khi bắt nguồn từ việc thông tin chưa đầy đủ, truyền thông chưa đúng thời điểm, thiếu đối thoại, thiếu giải thích hoặc chậm phản hồi trước những băn khoăn chính đáng của người dân. Trong môi trường số, khoảng trống thông tin rất dễ bị lấp đầy bởi suy đoán, tin giả, thông tin sai lệch hoặc luận điệu xuyên tạc.
Vì vậy, công tác dư luận xã hội phải gắn chặt với truyền thông chính sách ngay từ khâu xây dựng, ban hành đến tổ chức thực hiện và đánh giá chính sách. Trước khi ban hành những chính sách lớn, có tác động rộng đến đời sống nhân dân, cần coi trọng khảo sát, đánh giá tác động dư luận xã hội, nhận diện các nhóm đối tượng chịu ảnh hưởng, dự báo những vấn đề có thể phát sinh, từ đó có phương án truyền thông, giải thích và tạo đồng thuận phù hợp.
Trong quá trình thực hiện chính sách, cần thường xuyên lắng nghe phản hồi từ nhân dân, nhất là những ý kiến khác biệt, những băn khoăn, vướng mắc từ cơ sở. Thông tin phản ánh từ dư luận xã hội phải được tiếp nhận, phân loại, xử lý và phản hồi kịp thời; tránh tình trạng chỉ thu thập thông tin để báo cáo mà chưa gắn với trách nhiệm giải quyết.
Truyền thông chính sách trong thời đại số phải bảo đảm ba yêu cầu: nhanh, đúng và thuyết phục. Nhanh để không tạo khoảng trống thông tin; đúng để bảo đảm tính chính xác, chính thống; thuyết phục để người dân hiểu, chia sẻ và đồng thuận. Chính sách tốt không chỉ đúng về mục tiêu, đúng về pháp lý, mà còn phải được truyền thông đúng cách, được nhân dân hiểu đúng, đồng tình và tích cực tham gia thực hiện.
Bốn là, phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội trong nắm bắt, định hướng và tạo đồng thuận xã hội.
Trong công tác dư luận xã hội, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội có vai trò đặc biệt quan trọng. Với chức năng đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân; tập hợp, vận động các tầng lớp nhân dân; tham gia xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước; thực hiện giám sát và phản biện xã hội, Mặt trận có điều kiện và trách nhiệm trở thành một kênh quan trọng nắm bắt, phản ánh và tham mưu xử lý các vấn đề dư luận xã hội.
Mặt trận và các tổ chức chính trị - xã hội cần chủ động đổi mới phương thức nắm bắt dư luận theo hướng sâu sát cơ sở, gần dân, sát dân, lắng nghe thực chất tiếng nói của nhân dân. Cần kết hợp giữa nắm bắt qua hệ thống tổ chức, qua đội ngũ cán bộ cơ sở, qua tiếp xúc cử tri, giám sát, phản biện xã hội, với việc khai thác các kênh thông tin trên môi trường số. Qua đó, phản ánh trung thực, khách quan, kịp thời tâm tư, nguyện vọng, kiến nghị chính đáng của các tầng lớp nhân dân với Đảng, Nhà nước.
Thông qua giám sát và phản biện xã hội, Mặt trận cần góp phần phát hiện sớm những bất cập trong cơ chế, chính sách, những vấn đề mới phát sinh từ thực tiễn, những điểm nghẽn trong tổ chức thực hiện ở cơ sở. Đây là cơ sở quan trọng để kiến nghị sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện chính sách, không để những bức xúc nhỏ tích tụ thành mâu thuẫn lớn, không để các vấn đề dân sinh trở thành điểm nóng xã hội.
Trong thời đại số, Mặt trận và các tổ chức chính trị - xã hội cũng cần phát huy vai trò định hướng, lan tỏa thông tin tích cực, củng cố đồng thuận xã hội trên không gian mạng. Mỗi cán bộ Mặt trận, đoàn thể, đoàn viên, hội viên cần trở thành một chủ thể tích cực trong tuyên truyền, giải thích chính sách, phản ánh tiếng nói từ cơ sở, đấu tranh với thông tin sai trái, xuyên tạc, góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng và củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Năm là, xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác dư luận xã hội chuyên nghiệp, hiện đại, đáp ứng yêu cầu thời đại số.
Công nghệ dù hiện đại đến đâu cũng không thể thay thế vai trò của con người. Chất lượng công tác dư luận xã hội trước hết phụ thuộc vào chất lượng đội ngũ cán bộ. Trong bối cảnh mới, cán bộ làm công tác dư luận xã hội phải có bản lĩnh chính trị vững vàng, tư duy phân tích sắc bén, năng lực dự báo tốt, am hiểu thực tiễn xã hội và có khả năng sử dụng công nghệ số.
Cần đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ này theo hướng tích hợp ba nhóm năng lực: năng lực chính trị, năng lực xã hội học và năng lực số. Năng lực chính trị để nhận diện đúng tính chất của vấn đề, phân biệt giữa bức xúc chính đáng của nhân dân với hành vi lợi dụng, kích động, chống phá. Năng lực xã hội học để khảo sát, phân tích, đánh giá tâm trạng xã hội một cách khoa học. Năng lực số để khai thác dữ liệu, sử dụng công cụ phân tích truyền thông, theo dõi xu hướng thông tin và tham mưu trong môi trường số.
Cùng với đội ngũ chuyên trách, cần củng cố, mở rộng và nâng cao chất lượng mạng lưới cộng tác viên dư luận xã hội. Mạng lưới này phải đa dạng, có chiều sâu, bao gồm cán bộ cơ sở, trí thức, chuyên gia, nhà khoa học, nhà báo, văn nghệ sĩ, chức sắc tôn giáo, người có uy tín, doanh nhân, công nhân, nông dân, thanh niên và lực lượng nòng cốt trên không gian mạng. Đây là lực lượng quan trọng giúp công tác dư luận xã hội bám sát đời sống, phản ánh được nhiều chiều cạnh của thực tiễn, nhất là những vấn đề đang hình thành từ cơ sở.
Tựu trung lại, 5 giải pháp trên cần được triển khai đồng bộ, thực chất, có trọng tâm, trọng điểm. Trong đó, đổi mới tư duy là tiền đề; chuyển đổi số là khâu đột phá; truyền thông chính sách và cơ chế phản hồi là điều kiện bảo đảm hiệu quả; phát huy vai trò Mặt trận và các tổ chức chính trị - xã hội là nền tảng để bám sát Nhân dân; xây dựng đội ngũ cán bộ là nhân tố then chốt quyết định chất lượng công tác dư luận xã hội trong thời đại số.
Trong thời đại số, công tác dư luận xã hội không chỉ là công cụ nắm bắt tâm trạng xã hội mà còn là phương thức quan trọng để củng cố niềm tin, tăng cường đồng thuận xã hội và xây dựng "thế trận lòng dân" vững chắc.
Ở đâu cấp ủy, chính quyền biết lắng nghe nhân dân, đối thoại với nhân dân, giải quyết kịp thời những vấn đề nhân dân quan tâm, ở đó niềm tin xã hội được củng cố. Ngược lại, nếu xa dân, thiếu thông tin, chậm phản hồi hoặc né tránh những vấn đề bức xúc thì rất dễ tạo khoảng trống để thông tin xấu độc len lỏi, tác động tiêu cực đến xã hội.
Trong giai đoạn phát triển mới của đất nước, đổi mới công tác dư luận xã hội theo hướng hiện đại, chuyên nghiệp, số hóa và lấy nhân dân làm trung tâm không chỉ là yêu cầu nghiệp vụ mà còn là yêu cầu chính trị cấp thiết nhằm góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, đưa đất nước vững bước tiến vào kỷ nguyên phát triển mới.
Tin Gốc: Thanh Niên

