Mới đây lãnh đạo UBND xã Mỏ Vàng, tỉnh Lào Cai xác nhận vụ việc tìm thấy thi thể bé trai 12 tuổi tại một khu đồi thuộc thôn Thác Tiên.
Trước đó, ngày 13/4, Công an xã Mỏ Vàng tiếp nhận tin báo về việc cháu P.X.A. (12 tuổi) mất tích. Sau khi nhận thông tin, công an xã đã phối hợp với nhà trường, gia đình và người dân tổ chức tìm kiếm.
Trong quá trình tìm kiếm, lực lượng chức năng phát hiện một khu vực trên đồi có dấu hiệu đất bị đào bới, lấp lại, nghi là nơi chôn thi thể cháu bé.
Theo lãnh đạo xã Mỏ Vàng, bước đầu anh P.V.S. (SN 1990, bố cháu bé) khai đã dùng dây điện đánh con và phạt đứng giữa nhà từ khoảng 19h đến 3h sáng hôm sau rồi cho đi ngủ.
Ngày hôm sau, sau khi đi làm về, người này phát hiện cháu bé nằm trên ghế, đã ngừng thở. Do hoảng sợ, người cha khai đã mang thi thể cháu bé đi phi tang.
Hiện Công an xã đã tạm giữ người bố; các đơn vị nghiệp vụ của Bộ Công an và Công an tỉnh Lào Cai đang phối hợp khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi để phục vụ điều tra.
Vụ bé trai 12 tuổi ở Lào Cai nghi bị cha ruột bạo hành dẫn đến tử vong rồi chôn trên đồi quế đặt ra câu hỏi nhức nhối về ranh giới giữa dạy con và bạo lực gia đình.
Trao đổi với báo Sức khỏe & Đời sống, ThS. Tâm lý lâm sàng Nguyễn Thị Sơn (Bệnh viện Đa khoa số 1 tỉnh Lào Cai) cho rằng, để nhìn nhận thấu đáo cần phân tích các yếu tố tâm lý phía sau hành vi của cha mẹ, cũng như hệ lụy lâu dài đối với trẻ và chính người gây bạo lực.
Theo chuyên gia, bạo lực trong quá trình dạy con thường không đơn thuần xuất phát từ ý định làm hại, mà là kết quả của nhiều yếu tố tâm lý và hoàn cảnh đan xen; nhiều trường hợp là phản ứng bộc phát khi cảm xúc vượt khỏi kiểm soát, hơn là hành vi có chủ đích.
Chuyên gia tâm lý cho rằng, bạo lực không chỉ gây đau đớn thể chất mà còn để lại những “vết sẹo tâm lý” lâu dài, cụ thể:
Rối loạn lo âu, trầm cảm: Trẻ sống trong sợ hãi thường trực, dễ hình thành tâm lý bất an, mất niềm tin vào người lớn.
Sang chấn tâm lý (trauma): Những trải nghiệm bị đánh đập, trừng phạt kéo dài có thể dẫn tới rối loạn stress sau sang chấn (PTSD). Theo chuyên gia tâm lý, đây là một trong những hệ quả nghiêm trọng nhưng thường bị bỏ qua.
Rối loạn nhân cách và hành vi: Trẻ có thể trở nên hung hăng (lặp lại mô hình bạo lực) hoặc ngược lại, thu mình, tự ti, mất giá trị bản thân.
Đứt gãy gắn kết gia đình: Người đáng lẽ là nơi an toàn nhất lại trở thành nguồn gây sợ hãi, khiến trẻ mất đi nền tảng cảm xúc lành mạnh.
“Những tổn thương này không chỉ dừng lại ở thời điểm hiện tại mà có thể kéo dài đến tuổi trưởng thành, ảnh hưởng sâu sắc đến các mối quan hệ và khả năng làm cha mẹ sau này”, ThS tâm lý lâm sàng Nguyễn Thị Sơn nhấm mạnh.
Trong khí đó, TS. Đặng Vũ Cảnh Linh, Chuyên gia Xã hội học chia sẻ với Phụ Nữ Việt Nam, nếu chỉ nhìn đây như một cơn nóng giận bộc phát thì sẽ khó chạm tới phần gốc rễ của vấn đề.
Theo TS. Đặng Vũ Cảnh Linh, đòn roi trong những trường hợp ấy không phải biểu hiện của sức mạnh, mà là biểu hiện của sự bất lực trong vai trò làm cha mẹ. Người lớn càng thiếu kỹ năng quản trị cảm xúc, thiếu hiểu biết tâm lý lứa tuổi, thiếu năng lực xử lý xung đột, càng dễ dùng bạo lực như một lối tắt.
Đó là nghịch lý khá phổ biến trong nhiều gia đình Việt Nam: người lớn muốn được tôn trọng, nhưng lại chọn cách khiến con sợ hãi; muốn con sửa sai, nhưng lại dùng phương thức làm tổn thương nhân cách của con.
TS. Linh nhấn mạnh một nguyên tắc quan trọng: mọi hành vi lệch chuẩn của trẻ em đều gắn với trách nhiệm của người lớn. Khi một đứa trẻ mắc lỗi, phản ứng đầu tiên đáng lẽ phải là tìm hiểu nguyên nhân, dạy cách sửa sai, chứ không phải đẩy toàn bộ trách nhiệm lên vai đứa trẻ rồi trừng phạt. Bởi trẻ em, đặc biệt ở tuổi vị thành niên, chưa hoàn thiện khả năng tự kiểm soát hành vi. Các em cần được dẫn dắt nhiều hơn là bị xét xử. Trẻ mắc lỗi là một phần của quá trình trưởng thành; người lớn xử lý sai mới là khởi đầu của bi kịch.
TS. Đặng Vũ Cảnh Linh cho rằng thông điệp lớn nhất từ vụ việc ở Lào Cai là trẻ em chỉ thực sự an toàn khi sống trong môi trường không bạo lực, nơi các em được nói, được lắng nghe và được tôn trọng.
Bên cạnh đó, vị chuyên gia cho rằng cần nhìn kỹ năng làm cha mẹ như một nhu cầu thật sự, không phải chuyện bản năng ai cũng tự biết. Nuôi một đứa trẻ ở thời đại nhiều biến động tâm lý, áp lực học hành, mạng xã hội và khác biệt thế hệ đòi hỏi cha mẹ phải học cách đồng hành mới.
"Bây giờ tôi mà quay về thì dang dở", Phương Nhi, 31 tuổi, sống tại bang Illinois, Mỹ nói.
Năm 2004, bà Tô Thị Hồng (mẹ Nhi) ở phường Phú Định, TP HCM được chị ruột bảo lãnh sang Mỹ định cư theo diện F4 (chị em ruột bảo lãnh nhau). Hồ sơ cho phép chồng và các con dưới 21 tuổi độc thân đi kèm. Lúc đó, gia đình có 6 thành viên, gồm vợ chồng bà Hồng và bốn người con, trong đó Phương Nhi là con út.
Sau 15 năm chờ đợi, năm 2019 hồ sơ của bà Hồng được duyệt nhưng ba người con đã quá tuổi đi kèm. Vợ chồng bà và Phương Nhi, 24 tuổi (được tính dưới 21 tuổi nhờ Đạo luật CSPA cho phép trừ thời gian hồ sơ chờ phê duyệt) đủ điều kiện định cư.
Để đưa ba người con còn lại sang Mỹ, vợ chồng bà Hồng nộp hồ sơ diện F2B (con trên 21 tuổi chưa kết hôn của thường trú nhân). Họ dự kiến chờ 5 năm, nhưng đến nay hồ sơ vẫn chưa hoàn tất.
Tại Mỹ, vợ chồng bà Hồng không biết tiếng Anh để giao tiếp, không nghề nghiệp và thu nhập. Họ phụ thuộc hoàn toàn vào tiền từ Việt Nam gửi sang.
Ban đầu, bà Hồng thích không khí trong lành, yên tĩnh của nước Mỹ, nhưng sự hào hứng dần phai. Hàng ngày, bà đi bộ một vòng công viên rồi về nấu ăn, cuối tuần chờ con chở đi siêu thị châu Á. Chồng bà, ông Minh, nhiều lần học lái xe nhưng đều bỏ dở vì sợ tốc độ cao trên cao tốc. Không có bằng lái, ông ví mình như "người mất chân". Nơi họ sống thưa dân và hiếm người Việt.
Cách đây bốn năm, người chị đứng đơn bảo lãnh qua đời vì ung thư khiến động lực ở lại Mỹ của vợ chồng bà Hồng không còn như trước. Cứ khoảng 6 tháng, họ lại bay về Việt Nam. Việc không ở Mỹ liên tục, ông bà không đủ điều kiện thi lấy quốc tịch.
Về phần Phương Nhi, sau khi bỏ dở chương trình thạc sĩ tại Việt Nam cô học lại bằng đại học chuyên ngành marketing trong hai năm để tìm việc. Sau giờ làm, cô chỉ xem phim, đọc truyện.
Ba anh chị của Nhi ở lại Việt Nam hơn 20 năm qua không dám kết hôn vì sợ ảnh hưởng đến việc xét duyệt hồ sơ định cư.
Nhớ Việt Nam, Phương Nhi muốn về nước. Nhưng cuối năm 2022, luật sư thông báo hồ sơ của ba anh chị em đã bước vào giai đoạn xử lý tại Trung tâm Thị thực Quốc gia (NVC). Cô tiếp tục ở lại Mỹ chờ đợi.
Tình cảnh của gia đình Nhi không hiếm gặp trên các hội nhóm của những người chuẩn bị di cư Mỹ. Dữ liệu năm 2025 của Sở Di trú và Nhập tịch Mỹ (USCIS) ghi nhận khoảng 2,4 triệu đơn I-130 (công dân hoặc thường trú nhân Mỹ bảo lãnh người thân sang định cư) đang chờ xét duyệt.
Nghiên cứu của Viện Cato (Mỹ) chỉ ra thời gian chờ trung bình cho các diện bảo lãnh gia đình tăng từ 4 năm 3 tháng (năm 1991) lên 8 năm 1 tháng (năm 2018). Trong đó, diện F4 có thời gian chờ lâu nhất, trung bình 14 năm 7 tháng. Chờ đợi khiến nhiều người bỏ lỡ các cột mốc quan trọng cuộc đời như học hành, kết hôn, sinh con, chăm sóc cha mẹ.
Ông José Latour, Luật sư trưởng của Văn phòng Luật di trú LatourLaw, trụ sở ở TP HCM, cho biết nhóm hồ sơ toàn cầu diện F4 hiện mới giải quyết đến các đơn nộp trước năm 2008.
"Trong nền văn hóa coi trọng gia đình như Việt Nam, sự chậm trễ này tạo ra áp lực lớn", luật sư nói. Trong 33 năm hỗ trợ các gia đình chuẩn bị hồ sơ định cư Mỹ, ông từng chứng kiến nhiều người phải hoãn việc học của con, hoãn nghỉ hưu, đám cưới hay lễ tốt nghiệp. "Họ không biết mình nên chờ đợi cơ hội định cư hay từ bỏ để ổn định cuộc sống tại quê nhà", ông José Latour nói.
Ông dẫn chứng trường hợp một người cha nộp hồ sơ diện F4, luôn giữ tâm thế sẵn sàng lên máy bay nên dừng mọi kế hoạch đầu tư dài hạn tại Việt Nam với hy vọng các con được sang Mỹ học tập. Khi con ông đã tốt nghiệp đại học, đi làm và quá 21 tuổi khi người cha được cấp thị thực và không còn đủ điều kiện đi cùng. Người con này rơi vào thế tiến thoái lưỡng nan giữa việc chờ khiếu nại để giữ cơ hội định cư Mỹ hay kết hôn ở Việt Nam để ổn định cuộc sống và chấp nhận từ bỏ quyền lợi di trú.
Từ thực tế trên, đại diện LatourLaw khuyên các gia đình nên chủ động chuẩn bị kế hoạch học tập, nghề nghiệp và tài chính theo kịch bản thời gian chờ kéo dài, thay vì phụ thuộc vào mốc xét duyệt của cơ quan di trú.
Đó là chia sẻ của ông Nguyễn Nho Huy, Phó vụ trưởng Vụ Học sinh Sinh viên - Bộ Giáo dục và Đào tạo, tại hội thảo "Phát triển toàn diện thế hệ trẻ Việt Nam: Kiến tạo nguồn lực cho kỷ nguyên mới", do báo Nhân Dân phối hợp cùng Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức ngày 12-5 ở Hà Nội.
Hội thảo được tổ chức nhằm triển khai hiệu quả tinh thần và các nhiệm vụ trọng tâm của Nghị quyết số 71-NQ/TW và Nghị quyết số 72-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển giáo dục, đào tạo và đột phá trong công tác bảo vệ, chăm sóc, nâng cao sức khỏe Nhân dân trong giai đoạn mới.
Trước đó, Nghị quyết số 72 của Bộ Chính trị năm 2025 về một số giải pháp đột phá, tăng cường bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe Nhân dân cũng đề ra tầm nhìn đến năm 2045, tầm vóc, thể lực, chiều cao trung bình của thanh niên tương đương các quốc gia có cùng mức phát triển.
Theo các chuyên gia, chiều cao của người Việt Nam có nhiều thay đổi trong những năm vừa qua, nhưng mức tăng còn chậm và vẫn thuộc nhóm thấp trên thế giới.
Trên bảng xếp hạng thế giới, Việt Nam đứng thứ 153/201 quốc gia và vùng lãnh thổ. Nam giới Việt Nam thấp hơn mức trung bình toàn cầu (1,71m) khoảng 3cm, và kém xa so với những quốc gia có chiều cao vượt trội.
Ở khu vực Đông Nam Á, Việt Nam mới xếp hạng thứ 4 về chiều cao, sau Singapore, Malaysia và Thái Lan.
Trong khi đó ông Huy cho biết những nỗ lực để cải thiện chiều cao cho học sinh Việt Nam trong nhà trường dù có nhiều nỗ lực nhưng còn hạn chế. Điều kiện giáo dục thể chất, thể thao trong các trường hiện nay còn thiếu.
Việc tổ chức bữa ăn bán trú trong nhà trường đã đạt 97% ở trường mầm non, ở trường phổ thông khoảng 55%.
Việc này được kỳ vọng mang lại hiệu quả tích cực trong nâng cao sức khỏe, thể chất cho trẻ em Việt Nam, nhưng thực tế triển khai còn hạn chế.
Trong điều kiện như vậy, liệu những mục tiêu về chiều cao của thanh niên Việt Nam đến năm 2045 có thực hiện được?
Ông Huy cho hay sắp tới việc tổ chức bữa ăn bán trú cho học sinh sẽ có quy định trách nhiệm của chính quyền cấp xã, y tế địa phương, vai trò trách nhiệm của cha mẹ học sinh, để thực hiện tốt mục tiêu dinh dưỡng học đường.
Cùng với nhiều chương trình hành động khác, Phó vụ trưởng Vụ Học sinh Sinh viên - Bộ Giáo dục và Đào tạo khẳng định mục tiêu về chiều cao của thanh niên Việt Nam nói trên hoàn toàn có thể thực hiện được, nhưng cần thiết phải có sự đầu tư kinh phí từ Trung ương, các địa phương, sự đồng hành của cộng đồng doanh nghiệp.
Tại hội thảo, nhiều tham luận từ các chuyên gia, nhà quản lý trong lĩnh vực y tế, dinh dưỡng, thể thao… cùng chia sẻ những giải pháp để phát triển toàn diện thế hệ trẻ Việt Nam, mà trước tiên là ở thể lực, tầm vóc.
Các chuyên gia dẫn trường hợp cải thiện chiều cao và sức khỏe rất thành công của nước Nhật, đã chỉ ra một trong những nguyên nhân thành công của họ là ở chế độ dinh dưỡng cân bằng. Nước Nhật có Luật Dinh dưỡng và dinh dưỡng học đường từ năm 1947. Họ đào tạo được lực lượng cán bộ làm về dinh dưỡng đưa về từng trường học, trạm y tế.
PGS.TS Trần Thanh Dương - Viện trưởng Viện Dinh dưỡng quốc gia - dẫn ra 10 lời khuyên dinh dưỡng hợp lý đến năm 2030 cho người Việt Nam như một giải pháp hữu hiệu để cải thiện sức khỏe và tầm vóc cho người Việt. Danh mục 10 lời khuyên này đã được Bộ Y tế ban hành năm 2024.
Ông Trương Minh Sang, Huấn luyện viên trưởng đội tuyển thể dục dụng cụ quốc gia, góp giải pháp về giáo dục thể chất trong nhà trường.
Theo ông, cần sớm đưa các bài tập thể dục dụng cụ cơ bản vào trường mầm non, tiểu học nhằm giúp trẻ phát triển kỹ năng vận động, phòng tránh chấn thương học đường và hình thành thói quen rèn luyện thể chất từ sớm.
Các ý kiến tại hội thảo thống nhất cho rằng đầu tư cho dinh dưỡng, sức khỏe và thể chất học đường hôm nay chính là đầu tư cho chất lượng nguồn nhân lực và sức cạnh tranh của quốc gia trong tương lai.
Những ngày đầu tháng 5, trên những triền đồi xanh mướt ở thôn Bao Lâm, xã Thọ Bình, Thanh Hóa, những búp chè non óng ánh dưới nắng sớm, phủ xanh cả sườn núi. Ông Lê Đình Tú (62 tuổi) vẫn miệt mài cùng công nhân kiểm tra từng luống chè, tỉ mẩn như cách ông đã gắn bó với loại cây này suốt hơn ba thập kỷ.
Với người đàn ông từng rời quê lên miền núi lập nghiệp từ năm 1995, cây chè không chỉ là kế sinh nhai mà còn là một phần đời sống tinh thần của người dân vùng cao. "Có lúc chè rớt giá, đầu ra bấp bênh, nhiều người muốn bỏ cây chè. Nhưng chúng tôi không nỡ quay lưng, vì cây chè đã bén rễ với đất này như một phần không thể thiếu", ông Tú nói.
Hơn 30 năm trước, cây chè được đưa vào vùng núi Bình Sơn theo Dự án 327 phủ xanh đất trống đồi trọc. Khi ấy, địa phương còn là vùng đặc biệt khó khăn, đất đai cằn cỗi, đời sống người dân chủ yếu dựa vào nương rẫy nhỏ lẻ. Chè từng được kỳ vọng là cây xóa đói giảm nghèo nhưng do thiếu vốn, thiếu kỹ thuật và đầu ra bấp bênh nên hiệu quả không cao. Người dân chủ yếu sao chè thủ công, bán quanh vùng, thu nhập chỉ đủ trang trải cuộc sống.
Ông Tú là người chứng kiến trọn vẹn những thăng trầm ấy. Theo ông, muốn cây chè "sống khỏe" thì không thể sản xuất manh mún mà phải thay đổi cách làm, liên kết với nhau để nâng chất lượng thay vì chạy theo sản lượng.
Bước ngoặt đến vào năm 2016 khi ông được tín nhiệm bầu làm Giám đốc HTX Dịch vụ Nông lâm nghiệp Bình Sơn. Từ đây, các hộ trồng chè được vận động tham gia liên kết sản xuất, thống nhất quy trình chăm sóc, thu hái và chế biến. Những giống chè cũ năng suất thấp dần được thay bằng các giống mới như PH8, PH1, chè lai F1 cho búp to, chất lượng tốt hơn.
Không dừng lại ở khâu trồng trọt, HTX Bình Sơn đầu tư mạnh vào chế biến và xây dựng thương hiệu nhằm nâng giá trị sản phẩm. Từ nguồn hỗ trợ của chương trình OCOP và khuyến nông, HTX đã đầu tư hơn 2 tỷ đồng cho hệ thống máy móc hiện đại như máy sấy lạnh, máy nghiền bột chè, máy hút chân không, dây chuyền đóng trà túi lọc và hệ thống tưới tự động.
Nhờ đó, năng lực chế biến tăng nhiều lần, sản phẩm đồng đều hơn, giảm phụ thuộc thời tiết. Bao bì, nhãn mác được đầu tư bài bản, truy xuất nguồn gốc rõ ràng, từng bước đưa chè Bình Sơn ra thị trường lớn.
Năm 2019, chè khô Bình Sơn được công nhận OCOP 3 sao. Đến nay HTX có bốn sản phẩm chè đạt OCOP 3 sao. Tháng 12/2024, sản phẩm Chè sạch Bình Sơn tiếp tục được công nhận OCOP 4 sao cấp tỉnh, mở ra cơ hội tiếp cận nhiều thị trường mới.
Để giữ vững chất lượng, người dân được tập huấn kỹ thuật, áp dụng tiêu chuẩn VietGAP, chú trọng an toàn thực phẩm và bảo vệ môi trường. "Ngày trước chè bán rẻ vì sản xuất manh mún, thiếu liên kế. Nay với cách làm bài bản hơn, chú trọng chất lượng sản phẩm, giá ổn định hơn, người dân mới yên tâm gắn bó lâu dài", ông Tú nói.
Hiện xã Thọ Bình có gần 400 ha chè, hơn 300 ha cho thu hoạch thường xuyên, trở thành vùng nguyên liệu chè lớn nhất tỉnh Thanh Hóa. Hơn 400 hộ dân sống nhờ cây chè, từ trồng, chăm sóc đến chế biến và tiêu thụ sản phẩm.
Riêng HTX Bình Sơn hiện quản lý gần 100 ha chè, trong đó có 10 ha đạt chuẩn VietGAP, liên kết với khoảng 80 hộ dân. Mỗi năm HTX xuất ra thị trường 8-10 tấn chè khô, doanh thu khoảng 2 tỷ đồng.
"Chè là sinh kế chính của người dân nơi đây. Trung bình 10 ngày người dân thu hái một lần. Khó khăn lớn nhất hiện nay là thiếu lao động nên khó kiểm soát sự đồng đều của sản phẩm", ông Tú chia sẻ.
Ngoài chè, vị giám đốc HTX còn phát triển thêm các sản phẩm OCOP như cà gai leo, mật ong nhằm nâng cao thu nhập cho người dân. Năm 2023, ông được Trung ương Hội Nông dân Việt Nam bình chọn là một trong 100 "Nông dân Việt Nam xuất sắc".
Là một trong những thành viên gắn bó lâu nhất với HTX chè Bình Sơn, ông Lê Văn Thanh (58 tuổi) cho biết: Gia đình ông có 1,5 ha chè, trên hành trình hơn 30 năm gắn bó với loại cây này. Ông hiểu từng đặc tính, quen từng hương vị của nó."Cây chè chỉ cần trồng một lần rồi chăm sóc, thu hái đều đặn. Thu nhập chừng 100 triệu đồng/ha", ông Thanh nói.
Theo định hướng của HTX Bình Sơn, thời gian tới địa phương sẽ mở rộng diện tích chè sản xuất theo hướng hữu cơ, kết hợp phát triển du lịch trải nghiệm.