Nghị quyết được Quốc hội thông qua sáng 24/4, tại phiên bế mạc kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa 16. Nghị quyết đặt mục tiêu xây dựng các động lực tăng trưởng mới, nâng cao chất lượng phát triển và năng lực cạnh tranh quốc gia trong giai đoạn tới.
Để thực hiện mục tiêu này, Quốc hội yêu cầu hoàn thiện thể chế, tháo gỡ các điểm nghẽn về cơ chế, chính sách, đi đôi với phân cấp, phân quyền và phân bổ nguồn lực. Các quy định liên quan đến kinh tế số, đầu tư kinh doanh, đặc biệt trong các lĩnh vực đất đai, quy hoạch, thương mại, khoáng sản, xây dựng cần được rà soát, sửa đổi theo hướng giảm tối đa thời gian, chi phí tuân thủ cho người dân và doanh nghiệp.
Phương thức quản lý nhà nước được yêu cầu chuyển mạnh từ tiền kiểm sang hậu kiểm, gắn với xây dựng hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn và tăng cường kiểm tra, giám sát. Tiêu chí đánh giá văn bản pháp luật cũng chuyển từ “tốt trong văn bản” sang “tốt trong cuộc sống”.
Trong lĩnh vực khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, Quốc hội yêu cầu tháo gỡ dứt điểm các nút thắt, gắn với kết quả đầu ra và chấp nhận rủi ro có kiểm soát. Doanh nghiệp được khuyến khích đầu tư, ứng dụng công nghệ mới, công nghệ cao, công nghệ chiến lược; đồng thời xây dựng và kết nối mạng lưới chuyên gia, nhà khoa học trong và ngoài nước.
Việt Nam sẽ ưu tiên tiếp thu, chuyển giao, làm chủ các công nghệ nền tảng, công nghệ lõi, công nghệ nguồn và công nghệ số, đồng thời thúc đẩy phát triển tài sản số, tiền kỹ thuật số theo hướng lành mạnh.
Hạ tầng giao thông tiếp tục được đầu tư mạnh với các dự án cao tốc, cảng biển, sân bay, đường sắt cao tốc Bắc – Nam và đường sắt đô thị. Mục tiêu đến năm 2030 cả nước có hơn 5.000 km cao tốc, kết nối hiệu quả giữa các vùng, cảng biển, sân bay và cửa khẩu quốc tế.
Cùng với đó, hạ tầng năng lượng được phát triển để đáp ứng yêu cầu tăng trưởng kinh tế và bảo đảm an ninh năng lượng. Quốc hội lưu ý phát triển nhiệt điện than ở quy mô hợp lý, đi kèm lộ trình xử lý khí thải, đồng thời đẩy mạnh năng lượng tái tạo và năng lượng mới.
Song song với phát triển kinh tế, Quốc hội yêu cầu nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, gắn với cơ cấu lại tổ chức bộ máy. Nghị quyết nhấn mạnh việc kịp thời thay thế cán bộ yếu kém, đùn đẩy, thiếu trách nhiệm, không hoàn thành nhiệm vụ, đồng thời bổ nhiệm những người dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung.
Các dự án tồn đọng, kể cả trong và ngoài ngân sách, phải được rà soát, phân loại và xử lý dứt điểm. Chính phủ được giao tăng cường thanh tra, kiểm tra, khắc phục tình trạng lãng phí trong quản lý, sử dụng ngân sách nhà nước, tài sản công, đất đai, tài nguyên và các dự án chậm tiến độ.
Quốc hội đặt mục tiêu xử lý cơ bản tình trạng ô nhiễm không khí, tắc nghẽn giao thông, ngập úng tại Hà Nội và TP HCM; cải thiện môi trường tại các đô thị, cụm công nghiệp, làng nghề, lưu vực sông và khu vực nông thôn.
Về đối ngoại, Việt Nam tiếp tục triển khai hội nhập quốc tế sâu rộng, hiệu quả, bảo đảm lợi ích quốc gia – dân tộc trên cơ sở luật pháp quốc tế và Hiến chương Liên hợp quốc, đồng thời chủ động tham gia giải quyết các vấn đề chung của khu vực và thế giới.
Sáng cùng ngày, Quốc hội cũng thông qua Nghị quyết kỳ họp thứ nhất, ghi nhận Chính phủ, Thủ tướng và các cơ quan đã quyết liệt thực hiện các giải pháp, cơ bản hoàn thành nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội, ngân sách nhà nước năm 2025 và quý I năm 2026. Chính phủ đã ứng phó kịp thời với biến động nguồn cung và giá nhập khẩu xăng dầu, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô và kiểm soát lạm phát.
Quốc hội đề nghị Chính phủ chủ động điều hành ngân sách, phấn đấu thu ngân sách năm 2026 tăng ít nhất 10% so với năm 2025; đồng thời siết chặt kỷ luật tài chính, thực hành tiết kiệm, cắt giảm chi không cần thiết để tăng chi đầu tư, cải cách tiền lương và bảo đảm an sinh xã hội.
Chiều 23.4, Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Bùi Thị Minh Hoài trình bày báo cáo tổng hợp ý kiến, kiến nghị của cử tri và nhân dân gửi đến kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XVI.
Theo báo cáo, cử tri và nhân dân đồng thuận với các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, vui mừng, phấn khởi trước thành công rất tốt đẹp của Đại hội lần thứ XIV của Đảng; đồng thời đánh giá cao thành công cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và bầu cử đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031.
Cử tri và nhân dân cũng quan tâm, theo dõi, đánh giá cao các hoạt động đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước và đối ngoại nhân dân, nhất là hoạt động của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, của Thủ tướng Chính phủ, của Chủ tịch Quốc hội…
Cử tri và nhân dân rất vui mừng, phấn khởi trước các thành tựu về kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh…, song cũng băn khoăn về một số vấn đề còn tồn tại.
Trong đó, cử tri và nhân dân băn khoăn, lo lắng trước tình trạng lừa đảo trên không gian mạng; các vụ cháy, nổ, tai nạn giao thông nghiêm trọng; vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm, tình trạng hàng giả, hàng kém chất lượng, nhất là thực phẩm bẩn; ô nhiễm môi trường, nhất là ô nhiễm không khí ở một số thành phố lớn.
Cử tri và nhân dân còn băn khoăn về thực hiện thủ tục hành chính tại một số địa phương chưa thực sự liên thông, dẫn đến chậm giải quyết; chế độ, chính sách cho cán bộ ở cơ sở chưa thực sự tương xứng.
Cùng đó là các dự án tồn đọng kéo dài, chậm tiến độ; một số công trình bỏ hoang, xuống cấp gây lãng phí; một số trụ sở dôi dư sau sáp nhập đơn vị hành chính chưa được chuyển đổi công năng kịp thời…
Trên cơ sở ý kiến, phản ánh, kiến nghị của cử tri và nhân dân, Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đề nghị các cơ quan chức năng chỉ đạo có giải pháp kỹ thuật phòng ngừa, ngăn chặn tội phạm lừa đảo trên mạng; tăng cường công tác tuyên truyền, cảnh báo để người dân nâng cao cảnh giác không mắc bẫy với loại tội phạm này.
Chính phủ, các cơ quan chức năng cần có giải pháp đồng bộ, chỉ đạo quyết liệt để khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường, nhất là môi trường nước và môi trường không khí ở một số thành phố lớn.
Tăng cường thanh tra, kiểm tra, giám sát để kịp thời phát hiện và xử lý nghiêm minh hành vi vi phạm vệ sinh an toàn thực phẩm, hành vi gây ô nhiễm môi trường.
Cùng với đó, Đảng, Nhà nước cần tiếp tục lãnh đạo, chỉ đạo kịp thời tháo gỡ khó khăn trong thực hiện chính quyền địa phương 2 cấp, đảm bảo chính quyền hoạt động hiệu quả, gần dân, phục vụ tốt nhất cho người dân và doanh nghiệp.
Xem xét chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức ở cơ sở; người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ ngày càng tăng của chính quyền địa phương 2 cấp.
Đồng thời, tiếp tục chỉ đạo quyết liệt khắc phục tình trạng các dự án tồn đọng, công trình bỏ hoang, xuống cấp, dự án chậm tiến độ để khơi thông, giải phóng nguồn lực; chỉ đạo sử dụng hiệu quả trụ sở làm việc dôi dư do sắp xếp đơn vị hành chính, tránh lãng phí.
Kết quả kiểm tra cho thấy trên toàn tuyến kênh chính Nam hiện có 5 cầu thô sơ bắc qua, xây dựng từ khoảng năm 1987.
Qua thời gian dài sử dụng, các cầu này đã xuống cấp, mặt cầu hẹp, không có lan can bảo vệ, tiềm ẩn nguy cơ tai nạn cao. Những tồn tại này được cơ quan chức năng đánh giá là phù hợp với phản ánh trước đó của báo chí.
Trên cơ sở đó, Sở Nông nghiệp và Môi trường yêu cầu Công ty TNHH MTV Khai thác công trình thủy lợi Quảng Ngãi - đơn vị quản lý, vận hành - phải chủ động cân đối nguồn kinh phí để triển khai ngay các biện pháp đảm bảo an toàn giao thông tại các vị trí cầu thô sơ và dọc bờ kênh.
Thời gian thực hiện được yêu cầu bắt đầu từ tháng 5-2026.
Các giải pháp trước mắt gồm gia cố cầu, lắp đặt lan can bảo vệ, bổ sung biển cảnh báo, đồng thời nghiên cứu phương án đầu tư thay thế các cầu tạm bằng công trình kiên cố, phù hợp với nhu cầu đi lại hiện nay của người dân.
Không chỉ dừng lại ở đoạn kênh chính Nam qua xã Phước Giang, Sở cũng yêu cầu doanh nghiệp tổ chức rà soát toàn bộ hệ thống kênh mương do đơn vị quản lý. Đặc biệt chú ý các vị trí có kết hợp giao thông, các cầu qua kênh đã hư hỏng, xuống cấp hoặc chưa có lan can bảo vệ, từ đó lập kế hoạch sửa chữa, nâng cấp theo thứ tự ưu tiên.
Về lâu dài, đơn vị được giao cân đối kinh phí hằng năm, đồng thời đề xuất UBND tỉnh (thông qua Sở Nông nghiệp và Môi trường, Sở Tài chính) bố trí nguồn lực để bảo trì công trình và đầu tư các hạng mục đảm bảo an toàn, phục vụ nhu cầu đi lại của người dân.
Theo thống kê của địa phương, từ năm 1996 đến nay, đoạn kênh dài 3km này đã ghi nhận 28 trường hợp thiệt mạng do rơi xuống nước. Ngoài ra còn rất nhiều trường hợp khác được người dân phát hiện, ứng cứu kịp thời.
Nguy cơ tai nạn được đánh giá đặc biệt cao đối với những người không sinh sống tại xã Phước Giang, không quen địa hình. Chỉ cần một chút bất cẩn khi lưu thông qua các cầu tạm hoặc dọc bờ kênh là có thể rơi xuống nước.
Đáng lo ngại hơn, trên tuyến kênh có 3 cống ngầm tạo áp lực dòng chảy rất lớn. Khi xảy ra sự cố, nạn nhân dễ bị cuốn trôi nhanh, gây khó khăn cho việc cứu hộ.
Thực tế đã có trường hợp bị nước cuốn đi xa hàng chục km mới được tìm thấy.
Lãnh đạo UBND xã Phước Giang cho biết địa phương xác định đây là vấn đề dân sinh cấp bách. "Đã có nhiều vụ tai nạn thương tâm xảy ra. Việc đầu tư lan can bảo vệ là rất cần thiết để hạn chế rủi ro, đảm bảo an toàn cho người dân", đại diện địa phương cho hay.
Năm đó, đã gần chạm bước đến khung cửa tuổi 90, nguyên Phó chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình tiếp chúng tôi thân mật: "Ý kiến của bà là trách nhiệm với thế hệ trẻ về sau, trách nhiệm trước lịch sử".
Những ngày ấy, Biển Đông dậy sóng. Thanh niên biết đến các trận chiến đấu giữ gìn biên cương phía Bắc nơi "lò vôi thế kỷ" Vị Xuyên… Bà Nguyễn Thị Bình còn kể thêm cho chúng tôi nghe kỷ niệm về những lần được gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Bà Nguyễn Thị Bình kể về lần gặp Bác đầu tiên, đó là năm bà 27 tuổi, một ngày đầu tháng 12.1954, bà vừa tập kết ra miền Bắc, đặt chân đến thủ đô Hà Nội. Sáng hôm ấy, bác sĩ Phạm Ngọc Thạch, Thứ trưởng Bộ Y tế đến gặp bà, vui vẻ thông báo:
- Cô Yến có một tin vui hết sức đặc biệt, Bác Hồ muốn gặp cô.
"Nghe anh Thạch nói, tôi không tin ở tai mình nữa. Nỗi vui mừng và lo lắng trào dâng trong lòng. Sao Bác lại biết tôi? Tôi chưa hề được gặp Bác bao giờ. Quả thật, Bác đã dành tình thương đặc biệt cho tôi. Tôi không nghĩ rằng mình được gặp Bác Hồ".
Ấn tượng về lần đầu tiên được gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh, bà Nguyễn Thị Bình kể:
- Cô Yến đấy ư? Ngồi xuống đây với Bác. Chúng ta là chỗ thân quen. Bác đã biết ông ngoại cô từ thời ở Pháp. Cụ Phan (chí sĩ Phan Chu Trinh) là người Bác rất kính trọng...
Nghe đến đây, bà nghẹn ngào, không thể nói thành lời. Thì ra ông ngoại của bà - cụ Phan Chu Trinh - từng là người bạn vong niên của Bác Hồ những ngày trên đất Pháp. Sau này, bà biết thêm, đó là những năm tháng hoạt động bí mật ngay trong lòng thủ đô Paris - Pháp.
Qua tư liệu một người chị em con dì là bà Lê Thị Kinh (bí danh Phan Thị Minh) khai thác ở lưu trữ của Pháp, bà Nguyễn Thị Bình biết thêm trong mật báo ngày 11.2.1920, mật thám Jean viết: "Quốc nhờ phụ cấp của ông Trường, ông trả tiền nhà, còn Phan Chu Trinh và Khánh Ký cho tiền mua thức ăn".
Trước khi qua đời tại Sài Gòn (ngày 24.3.1926), cụ Phan Chu Trinh có gặp lại cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc (thân sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh) và trăng trối: "Độc lập của dân tộc ta sau này sở cậy có Nguyễn Ái Quốc". Lời tiên đoán ấy đã thành sự thật: Nguyễn Ái Quốc trở thành Chủ tịch Hồ Chí Minh - tuyên bố nền độc lập của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (ngày 2.9.1945).
Không có may mắn được nhìn thấy ông ngoại, những ngày cuối tháng 3.1926, cả nước để tang truy điệu cụ Phan Chu Trinh. Hơn một năm sau, cô cháu ngoại Nguyễn Thị Yến Sa mới chào đời.
Buổi gặp gỡ đầu tiên với người bạn vong niên của ông ngoại ấy, như bà Nguyễn Thị Bình kể lại, hầu như Bác chỉ dành để hỏi chuyện về gia đình bà. Lúc chia tay, Bác căn dặn:
- Một truyền thống gia đình như thế, rất đáng trân trọng. Cố gắng công tác phụng sự Tổ quốc để xứng đáng là con cháu cụ Phan.
"Tôi ghi nhớ mãi lời Bác dạy - bà Nguyễn Thị Bình chia sẻ - Tôi đã nhập môn những bài học ngoại giao đầu tiên từ Bác. Một người thầy trong mọi ứng xử, giao tiếp".
Năm 1960, sau cuộc đồng khởi của đồng bào miền Nam, cục diện chính trị đã thay đổi, mở ra một cục diện ngoại giao mới. Bà Nguyễn Thị Bình được cử vào làm thành viên của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, rồi được phụ trách công tác ngoại giao.
Năm 1968, Mỹ phải ngồi vào bàn đàm phán ngoại giao ở Paris. Bà Nguyễn Thị Bình được cử làm Phó trưởng đoàn Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam tại Hội nghị bốn bên (Trưởng đoàn là ông Trần Bửu Kiếm).
Tháng 4.1969, sau chuyến đi công tác ngoại giao ở Anh, trở về Hà Nội, bà Nguyễn Thị Bình được Bác gọi đến Phủ Chủ tịch để hỏi han công việc. Vừa nhìn thấy Bác, lòng bà se lại. Bác đã yếu đi nhiều, mái tóc bạc hơn và cử chỉ không còn nhanh nhẹn như những lần bà được gặp trước đây.
"Bác hỏi tôi về hoạt động ngoại giao, về tình hình bà con Việt kiều. Tôi thưa với Bác về những hoạt động của mình, kể lại cuộc biểu tình lớn của nhân dân Anh ủng hộ cuộc chiến đấu của ta vừa tổ chức ở Luân Đôn khi tôi đến thăm, Bác bảo:
- Phải hết sức tranh thủ tình cảm của nhân dân thế giới. Họ ủng hộ mình là xuất phát từ tình cảm chân thật. Cháu sang bên đó, nhớ chuyển lời thăm hỏi của Bác tới bà con Việt kiều...".
Bác lại dặn dò tôi cần phải cố gắng làm tốt công tác của mình, đấu tranh ngoại giao không phải dễ dàng, cần kiên trì, không làm nhanh được. Công tác ngoại giao có lúc nguy hiểm như ngồi trên lưng cọp vậy. Ta phải luôn luôn bình tĩnh, vững vàng. Tôi ghi lòng tạc dạ những lời dạy bảo ân cần, sâu sắc của Bác, và lấy lời Bác làm phương châm hành động của mình.
Lịch sử đã từng ghi lại những biểu hiện mẫu mực của đường lối ngoại giao mềm dẻo, linh hoạt. Tôi đã học ở Người biết bao bài học quý giá. Trong hoạt động ngoại giao của Bác đã chứng tỏ tầm nhìn xa trông rộng của nhà chiến lược thiên tài và là nhà ngoại giao lỗi lạc”.
Hôm ấy, bà Nguyễn Thị Bình không ngờ là lần cuối bà được gặp Bác, được nghe những lời dạy bảo đầy ân tình của Bác, được ăn bữa cơm cuối cùng với Người.
"Sau này, tôi được biết rằng việc chọn tôi làm Trưởng đoàn Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam ở Hội nghị Paris, chính là do anh Xuân Thủy đã đề xuất với Bác. Bác am hiểu công tác ngoại giao quốc tế và đặc biệt vai trò của phụ nữ trong lĩnh vực này", bà Nguyễn Thị Bình nhớ lại.
Trở thành Bộ trưởng Ngoại giao Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, Trưởng đoàn ngoại giao Hội nghị bốn bên ở Paris, sau này là Phó chủ tịch nước 2 nhiệm kỳ (1992 - 2002), bà Nguyễn Thị Bình nhớ lại: "Hầu như mọi bước đi, mọi thành công trong công tác ngoại giao của tôi đều có sự dìu dắt, dõi theo của Bác Hồ".