Tham dự buổi lễ có nhiều lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, Bộ Công an cùng đại biểu các ban, bộ, ngành Trung ương, địa phương; các Mẹ Việt Nam anh hùng, Anh hùng LLVT nhân dân.
Báo cáo tại buổi lễ, trung tướng Lê Ngọc Hải, Tư lệnh Quân khu 5 cho biết, lực lượng vũ trang (LLVT) Quân khu 5 được thành lập ngày 16.10.1945, tiền thân là Đội du kích Ba Tơ ra đời trong cao trào kháng Nhật cứu nước, làm nòng cốt cho quần chúng nhân dân khởi nghĩa giành chính quyền trong Cách mạng Tháng Tám ở Nam Trung bộ.
Qua 2 cuộc kháng chiến, LLVT Quân khu 5 đã đánh hơn 20.000 trận, tiêu diệt gần 1,6 triệu tên địch, phá hủy hơn 80.000 phương tiện chiến đấu, chi viện cho tiền tuyến hàng triệu thanh niên lên đường nhập ngũ; hơn 165.000 dân công hỏa tuyến.
Trên mảnh đất Khu 5 anh hùng, đã có hơn 200.000 liệt sĩ, hàng trăm ngàn thương binh, bệnh binh và hơn 35.000 Mẹ Việt Nam anh hùng (tiêu biểu có Mẹ Nguyễn Thị Thứ, ở thành phố Đà Nẵng).
Bên cạnh đó, trên địa bàn Quân khu 5, các mô hình của Đoàn Kinh tế – quốc phòng đã “đi vào lòng dân”, trở thành điểm tựa vững chắc của nhân dân, góp phần phát triển sinh kế, hỗ trợ ngư dân bám biển. Công tác phòng, chống thiên tai, cứu hộ, cứu nạn được xác định là “nhiệm vụ chiến đấu thời bình”, là trách nhiệm từ trái tim của người lính đối với nhân dân.
Trải qua hơn 80 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, lớp lớp thế hệ cán bộ, chiến sĩ LLVT Quân khu 5 đã đoàn kết một lòng, đồng tâm hiệp lực, vượt qua muôn vàn khó khăn, gian khổ, để cống hiến, hy sinh, lập nên những chiến công vang dội; được Đảng và Nhà nước 2 lần tặng thưởng Huân chương Sao vàng; 3 lần tặng thưởng Huân chương Hồ Chí Minh; Huân chương Itxala, Huân chương Lao động của Nhà nước Lào; Huân chương Hữu nghị của Vương quốc Campuchia; có 942 tập thể và 474 cá nhân được tuyên dương danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân, cùng nhiều phần thưởng cao quý khác.
Với những thành tích đặc biệt xuất sắc, ngày 13.2.2026, Chủ tịch nước đã ký quyết định phong tặng danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân cho Quân khu 5. Đây là phần thưởng cao quý, ghi nhận những đóng góp nổi bật trong huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, xây dựng quân đội, củng cố quốc phòng.
Tại buổi lễ, thay mặt lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã trao cho Quân khu 5 danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân. Đây là phần thưởng cao quý, là sự ghi nhận xứng đáng của Đảng, Nhà nước và nhân dân đối với những cống hiến, những hy sinh to lớn, những chiến công vẻ vang của các thế hệ cán bộ, chiến sĩ LLVT Quân khu 5.
Phát biểu tại buổi lễ, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh, Quân khu 5 là địa bàn chiến lược quan trọng, là không gian quân sự, quốc phòng, an ninh rộng lớn, hiểm yếu và giàu tiềm năng. Chính vì vậy, nói đến Quân khu 5 là nói đến một địa bàn mà mỗi ngọn núi, mỗi cánh rừng, mỗi dòng sông, mỗi làng bản, mỗi bến cảng, mỗi dặm biển đều gắn với vận mệnh của đất nước.
Giữ vững Quân khu 5 là giữ vững một phên dậu chiến lược của Tổ quốc; xây dựng quân khu vững mạnh là góp phần trực tiếp tạo thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân, thế trận biên phòng toàn dân và thế trận lòng dân trên một trong những địa bàn xung yếu nhất của đất nước hôm nay.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nêu rõ, đây cũng là vùng đất của khí phách, của thủy chung, của nghĩa tình son sắt. Tây nguyên hùng vĩ, bất khuất; duyên hải miền Trung kiên cường, gan góc; đồng bào các dân tộc anh em trên địa bàn Quân khu 5 qua bao thế hệ luôn một lòng theo Đảng, kính yêu Bác Hồ, đùm bọc, chở che, nuôi dưỡng cách mạng, gắn bó máu thịt với bộ đội.
Chính sự son sắt ấy đã làm nên chiều sâu bền vững nhất của Quân khu 5: đó là sức mạnh của lòng dân, của khối đại đoàn kết, của niềm tin không gì lay chuyển vào Đảng, vào chế độ, vào Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng.
Trải qua 80 năm xây dựng, chiến đấu, chiến thắng và trưởng thành, LLVT Quân khu 5 đã xây đắp nên truyền thống vẻ vang: “Tự lực tự cường, khắc phục khó khăn, chịu đựng gian khổ, mưu trí sáng tạo, chiến đấu kiên cường, chiến thắng vẻ vang”.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhiệt liệt biểu dương, chúc mừng những thành tích đặc biệt xuất sắc mà các thế hệ cán bộ, chiến sĩ, thanh niên xung phong, dân quân tự vệ, dự bị động viên, các cơ quan, đơn vị thuộc LLVT Quân khu 5 đã đạt được trong suốt chặng đường vẻ vang vừa qua.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước yêu cầu LLVT Quân khu 5 cần phối hợp chặt chẽ với địa phương xây dựng khu vực phòng thủ vững chắc; gắn phát triển kinh tế – xã hội với củng cố quốc phòng, an ninh; đẩy mạnh công tác dân vận, xây dựng “thế trận lòng dân”; chú trọng xây dựng Đảng bộ trong sạch, vững mạnh, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tin tưởng, phát huy truyền thống và danh hiệu cao quý, LLVT Quân khu 5 sẽ tiếp tục hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ, góp phần bảo vệ vững chắc Tổ quốc trong giai đoạn mới.
Cơ quan Thường trực Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số vừa ban hành Thông báo số 24 về kết luận của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, Trưởng ban Chỉ đạo, tại Hội nghị toàn quốc sơ kết 1 năm 6 tháng triển khai thực hiện Nghị quyết số 57.
Kết luận nhấn mạnh, phải nhận thức sâu sắc khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là động lực chủ yếu để đổi mới mô hình phát triển, xác lập mô hình tăng trưởng mới; là con đường tất yếu để hiện thực hóa hai mục tiêu 100 năm của đất nước.
Trong bối cảnh cạnh tranh công nghệ ngày càng gay gắt, việc thực hiện Nghị quyết số 57 không chỉ nhằm khắc phục nguy cơ tụt hậu mà còn trực tiếp góp phần nâng cao năng lực tự chủ chiến lược, bảo đảm quốc phòng, an ninh và chủ quyền quốc gia.
Cũng theo kết luận, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nêu rõ, cần chuyển mạnh sang tạo ra sản phẩm, kết quả và giá trị cụ thể, đóng góp trực tiếp vào mục tiêu tăng trưởng 2 con số.
Về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, phải gắn kết chặt chẽ việc tạo ra tri thức mới, làm chủ công nghệ và chuyển hóa thành giá trị mới cho xã hội.
Tập trung nguồn lực làm chủ và phát triển các công nghệ chiến lược thành sản phẩm cụ thể, nhất là trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, robot và tự động hoá, công nghệ sinh học và y sinh, vật liệu và năng lượng, chip bán dẫn, an ninh mạng, công nghệ lượng tử, thiết bị bay không người lái, công nghệ biển, đại dương và lòng đất.
Đối với từng công nghệ chiến lược, phải xác định rõ mục tiêu theo các mốc 1 năm, 3 năm, 5 năm và 10 năm về công nghệ được làm chủ, sản phẩm hình thành, khả năng xuất khẩu và đóng góp cho tăng trưởng, quốc phòng, an ninh, năng lực tự chủ quốc gia.
Kết luận yêu cầu, phải tạo chuyển biến đồng bộ từ Trung ương đến địa phương, từ các cơ quan trong hệ thống chính trị đến toàn xã hội.
Theo kết luận, cần đổi mới mạnh mẽ công tác lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm tra, giám sát và đánh giá kết quả thực hiện.
Người đứng đầu các cấp phải trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm tra và chịu trách nhiệm về kết quả thực hiện Nghị quyết số 57 thuộc phạm vi phụ trách.
Nhiệm vụ thuộc thẩm quyền phải chủ động giải quyết, nhiệm vụ vượt thẩm quyền phải kịp thời báo cáo, đề xuất cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định; không chờ đợi, đùn đẩy, né tránh trách nhiệm.
Kết quả thực hiện Nghị quyết số 57 phải được xác định là tiêu chí quan trọng trong đánh giá cán bộ, tập thể và người đứng đầu; biểu dương, khen thưởng, nhân rộng các tổ chức, cá nhân thực hiện tốt, có sản phẩm, kết quả cụ thể.
Đồng thời nhắc nhở, kiểm điểm, xử lý phù hợp các trường hợp triển khai hình thức, chậm trễ, né tránh trách nhiệm; khuyến khích, bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước cũng giao các cấp ủy, tổ chức đảng ở Trung ương và địa phương xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng, chuẩn bị nguồn cán bộ.
Thực hiện chủ trương nâng tỷ lệ cán bộ có trình độ khoa học, công nghệ trong cấp ủy từ 5% lên 10 - 15%. Thực hiện nghiêm quy định của Bộ Chính trị về đánh giá cán bộ hằng quý; kịp thời thay thế, điều chuyển cán bộ không đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ.
Ủy ban Kiểm tra Trung ương và ủy ban kiểm tra các cấp tăng cường kiểm tra, giám sát việc lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW; kịp thời phát hiện, chấn chỉnh, xử lý những biểu hiện hình thức, chậm trễ, thiếu trách nhiệm, bảo đảm các chủ trương, nhiệm vụ được triển khai nghiêm túc, thực chất, hiệu quả.
Phát biểu bế mạc phiên họp, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn đề nghị các cơ quan tiếp tục phối hợp chặt chẽ, khẩn trương tiếp thu, hoàn thiện các dự thảo pháp lệnh, nghị quyết trình Chủ tịch Quốc hội ký ban hành theo quy định.
Đánh giá khối lượng công việc từ nay đến cuối năm rất lớn, đặc biệt là các nhiệm vụ lập pháp theo tinh thần hội nghị triển khai định hướng lập pháp nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI và chuẩn bị cho các kỳ họp sắp tới, Chủ tịch Quốc hội cho biết, cấp có thẩm quyền đã đồng ý chủ trương tổ chức kỳ họp không thường lệ, dự kiến khai mạc trong tháng 8.2026.
"Thời gian chuẩn bị kỳ họp không thường lệ rất gấp, chỉ còn hơn 1 tháng. Trong khi Chính phủ đang đề xuất đến 20 nội dung, gồm 17 dự án luật, nghị quyết quy phạm pháp luật và 3 nội dung quan trọng khác. Do đó, các cơ quan trình và các cơ quan của Quốc hội phải đẩy nhanh tiến độ, chủ động phối hợp để hoàn thành việc trình UBTVQH cho ý kiến trước ngày 20.7", Chủ tịch Quốc hội yêu cầu.
Đối với kỳ họp thứ hai, Quốc hội khóa XVI, dự kiến thông qua khoảng 30 dự án luật, 2 nghị quyết quy phạm pháp luật, chưa kể các dự án đang được Chính phủ đề nghị bổ sung mà chưa có trong Chương trình lập pháp năm 2026.
Theo báo cáo của Bộ Tư pháp, từ nay đến ngày 1.3.2027, Chính phủ sẽ phải chuẩn bị và trình Quốc hội khoảng 85 dự án luật, pháp lệnh. Chủ tịch Quốc hội đề nghị các cơ quan nâng cao kỷ luật, kỷ cương; tuyệt đối không đề xuất lùi, rút hoặc điều chỉnh tiến độ các nội dung đã có trong chương trình, đặc biệt là các nội dung trình tại kỳ họp không thường lệ.
Chủ tịch Quốc hội yêu cầu các cơ quan của Quốc hội phải thực hiện tốt vai trò "gác cổng" trong công tác lập pháp.
Kiên quyết đề xuất đưa ra khỏi chương trình đối với những nội dung không bảo đảm tiến độ, chất lượng, hoặc hồ sơ không đầy đủ theo quy định.
Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn cũng đề nghị các cơ quan tập trung hoàn thành dứt điểm việc ban hành văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành các luật, nghị quyết đã được Quốc hội thông qua tại các kỳ họp trước.
Hội đồng Dân tộc, các ủy ban phải giám sát để chỉ ra luật nào chưa đủ nghị định, nghị định nào chưa đủ thông tư để triển khai thực hiện các luật được thông qua tại các kỳ họp thứ 9, kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XV và tại kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XVI.
“Chấm dứt tình trạng luật đã có hiệu lực nhưng văn bản hướng dẫn chậm ban hành hoặc thiếu đồng bộ, làm ảnh hưởng đến hiệu lực, hiệu quả thực thi chính sách", Chủ tịch Quốc hội nêu rõ.
Từ nay đến cuối năm còn nhiều chương trình quan trọng, trọng tâm là việc tổ chức Diễn đàn Pháp luật và Diễn đàn của Quốc hội về hoạt động giám sát năm 2026 trong quý 3/2026. Do đó, Chủ tịch Quốc hội đề nghị các cơ quan của Quốc hội, Chính phủ và các cơ quan hữu quan phải bám sát chương trình, phối hợp chặt chẽ để thực hiện quyết liệt, hiệu quả; làm việc nào dứt việc đó, không để công việc tồn đọng, kéo dài, ảnh hưởng đến nhiệm vụ chung.
Sau Đại hội XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam, đất nước bước vào một giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cao hơn, quyết liệt hơn và mang tính đột phá. Mục tiêu tăng trưởng hai con số không chỉ là một chỉ tiêu kinh tế thuần túy, mà là biểu hiện tập trung của khát vọng phát triển nhanh và bền vững, đưa Việt Nam đến năm 2030 trở thành quốc gia có thu nhập trung bình cao, tiến tới hiện thực hóa tầm nhìn phát triển đất nước phồn vinh, văn minh, hạnh phúc.
Trong bối cảnh thế giới biến động nhanh, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn gay gắt, xung đột cục bộ, chiến tranh công nghệ, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh diễn ra sâu rộng; trong nước đang triển khai đồng bộ các chủ trương lớn về tinh gọn bộ máy, đổi mới mô hình tăng trưởng, phát triển kinh tế tư nhân, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, thì nhiệm vụ đặt ra đối với toàn Đảng, toàn hệ thống chính trị là hết sức nặng nề; trong đó, công tác tuyên giáo và dân vận giữ vị trí đặc biệt quan trọng, không chỉ là "mặt trận tư tưởng" mà còn là động lực tinh thần, là chất keo gắn kết xã hội, là lực lượng đi trước mở đường, đi cùng thực hiện và đi sau tổng kết thực tiễn. Yêu cầu mới đòi hỏi công tác tuyên giáo và dân vận phải chuyển mạnh từ trạng thái "giải thích - tuyên truyền" sang "dẫn dắt - kiến tạo - đồng hành - truyền cảm hứng phát triển", góp phần trực tiếp vào việc thực hiện thắng lợi các mục tiêu chiến lược của đất nước.
Một trong những nhiệm vụ trọng tâm hàng đầu của công tác tuyên giáo là dẫn dắt nhận thức xã hội về mục tiêu tăng trưởng hai con số, làm cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân hiểu đúng, hiểu sâu và tin tưởng vào con đường phát triển mà Đảng đã lựa chọn.
Tăng trưởng hai con số không chỉ là tăng về quy mô, mà quan trọng hơn là tăng trưởng dựa trên năng suất, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và chất lượng nguồn nhân lực. Đây là sự chuyển dịch căn bản về tư duy phát triển, đòi hỏi sự thay đổi đồng bộ từ nhận thức đến hành động.
Công tác tuyên giáo phải góp phần làm rõ tăng trưởng nhanh nhưng phải bền vững, hài hòa giữa kinh tế với văn hóa, xã hội, môi trường; phát triển kinh tế gắn với tiến bộ và công bằng xã hội; lấy con người làm trung tâm, chủ thể, mục tiêu và động lực của phát triển. Đồng thời, cần kiên quyết đấu tranh với những biểu hiện tư duy an phận, trì trệ, sợ đổi mới; tâm lý "an toàn", né tránh trách nhiệm; nhận thức sai lệch về vai trò của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Thực tiễn cho thấy, mọi bước phát triển đột phá đều bắt đầu từ đột phá về tư duy. Vì vậy, công tác tuyên giáo phải thực sự trở thành lực lượng tiên phong trong việc giải phóng tư tưởng, khơi dậy khát vọng vươn lên của toàn xã hội.
Để bảo đảm tăng trưởng nhanh nhưng không đánh đổi các giá trị cốt lõi, cần xây dựng và lan tỏa hệ giá trị phát triển quốc gia trong thời kỳ mới, bao gồm: yêu nước, kỷ cương, sáng tạo, liêm chính, trách nhiệm, hiệu quả. Công tác tuyên giáo phải đóng vai trò trung tâm trong việc định hình chuẩn mực giá trị xã hội; gắn kết giữa phát triển kinh tế với phát triển văn hóa; xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện.
Trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế sâu rộng, nếu không có nền tảng giá trị vững chắc, xã hội dễ rơi vào tình trạng phát triển lệch chuẩn, chạy theo vật chất, suy giảm đạo đức. Do đó, việc xây dựng hệ giá trị không chỉ là nhiệm vụ văn hóa, mà còn là yêu cầu chiến lược đối với sự phát triển bền vững của đất nước.
Điểm nghẽn lớn hiện nay không chỉ nằm ở thể chế hay nguồn lực vật chất, mà còn nằm ở tư duy phát triển. Do đó, công tác tuyên giáo cần góp phần làm rõ và lan tỏa nhận thức: Kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế; kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, dẫn dắt; mọi thành phần kinh tế đều bình đẳng trước pháp luật, cùng phát triển vì lợi ích quốc gia.
Đồng thời, cần cổ vũ mạnh mẽ tinh thần khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo; làm giàu chính đáng; dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung. Đây chính là quá trình giải phóng nguồn lực xã hội từ gốc - đó là tư duy và động lực con người.
Những cải cách lớn về tổ chức bộ máy, phân cấp, chuyển đổi số, phát triển kinh tế xanh, kinh tế số… sẽ tác động sâu rộng đến mọi tầng lớp nhân dân. Công tác dân vận cần chuyển mạnh từ "vận động hành chính" sang đối thoại, lắng nghe, thuyết phục và đồng hành với người dân, doanh nghiệp.
Phải làm cho nhân dân hiểu: Vì sao cần cải cách? Cải cách mang lại lợi ích gì? Vai trò của mỗi người trong quá trình phát triển? Đồng thuận xã hội chính là điều kiện tiên quyết để triển khai thành công các chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước.
Mục tiêu cuối cùng của phát triển là con người. Vì vậy, công tác tuyên giáo phải gắn chặt với các lĩnh vực giáo dục - đào tạo, y tế, khoa học công nghệ. Phải hình thành trong xã hội tinh thần học tập suốt đời; tôn trọng tri thức; khuyến khích sáng tạo. Một xã hội học tập, một nền kinh tế tri thức chính là nền tảng để duy trì tăng trưởng cao và bền vững.
Công tác dân vận cần tiếp tục khơi dậy và phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, coi đây là nguồn lực nội sinh quan trọng nhất. Do vậy, cần tăng cường đối thoại với nhân dân; phát huy vai trò của trí thức, doanh nhân, người Việt Nam ở nước ngoài; xây dựng "thế trận lòng dân" vững chắc. Khi lòng dân đồng thuận, niềm tin được củng cố, thì mọi khó khăn đều có thể vượt qua, mọi mục tiêu đều có thể đạt được.
Trong bối cảnh mới, phương thức tuyên truyền cần được đổi mới toàn diện từ một chiều sang tương tác đa chiều; từ truyền thống sang đa nền tảng số; từ thông tin chung sang cá nhân hóa. Đồng thời, cần xây dựng các chiến dịch truyền thông lớn về chuyển đổi số; phát triển kinh tế xanh; đổi mới sáng tạo; xây dựng xã hội hạnh phúc. Làm cho chính sách của Đảng và Nhà nước thực sự đi vào đời sống, trở thành hành động cụ thể của từng người dân.
Công tác kiểm tra, giám sát cần chủ động phòng ngừa từ sớm, từ xa các biểu hiện suy thoái; kịp thời phát hiện và xử lý vi phạm; kết hợp giữa kiểm tra truyền thống với ứng dụng công nghệ số. Mục tiêu là giữ vững sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng, củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng.
Mục tiêu tăng trưởng hai con số và xây dựng một xã hội phồn vinh, văn minh, hạnh phúc là một khát vọng lớn, đòi hỏi sự nỗ lực của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân. Trong hành trình đó, công tác tuyên giáo và dân vận không chỉ là "cầu nối" mà phải thực sự trở thành người dẫn đường về tư tưởng; người khơi nguồn cảm hứng phát triển; người kết nối và huy động sức mạnh toàn xã hội.
Phát huy truyền thống vẻ vang, đổi mới mạnh mẽ tư duy và phương thức hoạt động, công tác tuyên giáo và dân vận chắc chắn sẽ góp phần quan trọng vào việc hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước, đưa Việt Nam vững bước trên con đường trở thành quốc gia phát triển, vì mục tiêu "dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh".