Ngày 25-4, Ban An toàn giao thông tỉnh Gia Lai thông tin trong quý 1-2026, toàn tỉnh xảy ra 181 vụ tai nạn giao thông, làm chết 131 người, bị thương 81 người.
Dù số lượng người chết vì tai nạn giao thông khá nhiều, so với cùng kỳ năm 2025 số vụ tai nạn đã giảm 20 vụ, giảm 1 người chết, giảm 68 người bị thương.
Trong những ngày qua, tỉnh liên tiếp ghi nhận có tai nạn giao thông làm chết người. Đơn cử trong tuần từ ngày 15 đến 21-4, có 7 vụ tai nạn giao thông làm 6 người chết, 3 người bị thương trên địa bàn tỉnh.
Theo Ban An toàn giao thông tỉnh Gia Lai, tai nạn giao thông chủ yếu xảy ra trên đường bộ, làm chết 130 người và 1 vụ tai nạn giao thông đường sắt, làm chết 1 người.
Một số xã phường có số vụ tai nạn xảy ra nhiều như xã Tuy Phước (7 vụ), xã Chư Sê (6 vụ), xã Biển Hồ (5 vụ); phường Thống Nhất, xã Đề Gi, xã Ia Hrung, xã Bàu Cạn, xã Đak Đoa, xã Mang Yang (mỗi địa phương 4 vụ).
Các vụ tai nạn giao thông đa phần liên quan tới xe gắn máy, với nguyên nhân phổ biến là không chú ý quan sát, đi không đúng phần đường, làn đường, đi ngược chiều.
Trước thềm kỳ nghỉ lễ Giỗ Tổ Hùng Vương và 30-4, 1-5, UBND tỉnh Gia Lai đã có công văn chỉ đạo tăng cường đảm bảo an toàn giao thông đối với hoạt động giao thông đường bộ, đường thủy, đường sắt, góp phần kiềm chế, giảm tai nạn giao thông trên địa bàn tỉnh.
Theo đó lãnh đạo tỉnh yêu cầu các cơ quan chức năng đẩy mạnh tuyên truyền về an toàn giao thông, hướng dẫn, hỗ trợ Nhân dân đi lại trong kỳ nghỉ lễ. UBND tỉnh Gia Lai cũng yêu cầu Công an tỉnh chỉ đạo các lực lượng tăng cường tuần tra kiểm soát, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm pháp luật về trật tự an toàn giao thông.
Quyết liệt xử lý những vi phạm là nguyên nhân chính gây tai nạn giao thông; phát hiện, ngăn chặn các vụ đua xe trái phép, tụ tập gây rối trật tự công cộng. Đồng thời có phương án điều tiết, phân luồng giao thông hợp lý, hướng dẫn lưu thông an toàn, thông suốt trên các tuyến đường, khu vực có lưu lượng tăng cao trong kỳ nghỉ lễ.
Tin Gốc: Tuổi Trẻ

Chiều 17/6, làm việc với Thường trực Ban Chỉ đạo tổng kết 100 năm Đảng lãnh đạo cách mạng Việt Nam (1930-2030), định hướng lãnh đạo phát triển đất nước trong 100 năm tiếp theo (2030-2130) và tổng kết 40 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh việc xác định tầm nhìn và định hướng phát triển đất nước cho 100 năm tới là một trong những nội dung quan trọng nhất của đợt tổng kết lần này.
Theo Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, việc tổng kết phải bám sát sự thật lịch sử, tôn trọng lịch sử và xuất phát từ lịch sử, nhưng không dừng ở việc kể lại lịch sử hay liệt kê sự kiện theo lối biên niên. Điều quan trọng hơn là phải đúc kết được những bài học lớn, những quy luật xuyên suốt để làm sáng rõ con đường cách mạng Việt Nam, vai trò lãnh đạo của Đảng, sức mạnh của nhân dân, khối đại đoàn kết toàn dân tộc và tương lai phát triển của đất nước.
Công tác tổng kết phải tạo ra những giá trị mới về nhận thức và lý luận, trả lời được các câu hỏi về sự phát triển trong tư duy lý luận của Đảng qua 100 năm, những bài học được khái quát ở tầm cao hơn, các vấn đề lý luận cần tiếp tục bổ sung, phát triển và những định hướng chiến lược cho thế kỷ tiếp theo.
Người đứng đầu Đảng, Nhà nước cũng lưu ý cần làm rõ mối quan hệ giữa tổng kết 100 năm Đảng lãnh đạo cách mạng Việt Nam và tổng kết 40 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Đây là hai nội dung có quan hệ chặt chẽ nhưng không đồng nhất, không thể tách rời cũng không thể lồng ghép một cách cơ học.
Theo đó, tổng kết 40 năm thực hiện Cương lĩnh phải được đặt trong dòng chảy 100 năm Đảng lãnh đạo cách mạng Việt Nam, đồng thời tập trung đánh giá những nội dung đã được thực tiễn chứng minh là đúng đắn, những vấn đề cần tiếp tục bổ sung, phát triển và những lĩnh vực lý luận cần đi trước, dẫn đường cho thực tiễn.
Ông yêu cầu tổng kết phải làm nổi bật những thành tựu có ý nghĩa lịch sử qua một thế kỷ Đảng lãnh đạo cách mạng Việt Nam, từ đấu tranh giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước đến xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đổi mới, phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quốc phòng, an ninh, mở rộng đối ngoại và nâng cao vị thế đất nước.
Bên cạnh đó, việc tổng kết cũng phải thẳng thắn chỉ ra những hạn chế, khuyết điểm, những vấn đề chưa thành công và các điểm nghẽn cần tiếp tục tháo gỡ để nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng trong giai đoạn mới. Đồng thời, các cơ quan phải làm rõ những vấn đề mang tính cốt lõi, xuyên suốt trong 100 năm Đảng lãnh đạo cách mạng Việt Nam như lựa chọn và kiên định con đường phát triển; phát huy sức mạnh nhân dân và khối đại đoàn kết toàn dân tộc; kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; xây dựng, chỉnh đốn Đảng; đổi mới phương thức lãnh đạo và bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ.
"Phải trả lời được vì sao Đảng ta có thể lãnh đạo cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác trong những điều kiện hết sức khó khăn, phức tạp", Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nói.
Nhấn mạnh ý nghĩa của việc xây dựng tầm nhìn cho thế kỷ tới, lãnh đạo Đảng, Nhà nước, cho rằng đây là nhiệm vụ đặc biệt khó khăn bởi thế giới đang biến đổi nhanh chóng dưới tác động của khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo, kinh tế dữ liệu, kinh tế xanh cùng những biến động địa chính trị và các thách thức an ninh mới.
Ông yêu cầu tầm nhìn 100 năm phải thể hiện được khát vọng phát triển của dân tộc, đồng thời trả lời những câu hỏi lớn: Việt Nam muốn trở thành quốc gia phát triển như thế nào trong thế kỷ tới; những nền tảng nào cần giữ vững; động lực tăng trưởng mới là gì; những đột phá chiến lược nào phải tạo dựng; những nguy cơ nào cần ứng phó và những giá trị nào phải được bảo vệ, phát huy.
"Tầm nhìn phải có chiều cao của khát vọng, chiều sâu của lý luận, bám sát thực tiễn đất nước và xu thế của thời đại, nâng cao năng lực tổ chức thực hiện", Tổng Bí thư nhấn mạnh, yêu cầu các nhóm tổng kết triển khai công việc ngay, chủ động xây dựng kế hoạch, xác định rõ sản phẩm, tiến độ, trách nhiệm và cơ chế phối hợp; đồng thời coi trọng công tác tư liệu, dữ liệu, nhân chứng lịch sử và các nguồn thông tin có giá trị, phục vụ xây dựng báo cáo tổng kết có chất lượng.
>>> Nội dung bài phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm
Tin Gốc: Vnexpress

Chiều 29.6, thượng tướng Lê Quang Minh, Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam cùng đoàn công tác Quân khu 5 và lãnh đạo UBND tỉnh Quảng Ngãi, đã đi kiểm tra công tác tìm kiếm hài cốt liệt sĩ trên đường Trường Chinh (phường Đăk Cấm và Kon Tum, Quảng Ngãi).
Báo cáo tại buổi kiểm tra, đại tá Mai Kim Bình, Chính ủy Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Quảng Ngãi, cho biết từ ngày 5.6 đến nay, đơn vị đã huy động hơn 30 cán bộ, chiến sĩ thuộc Đội K53 (Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Quảng Ngãi) phối hợp Ban Chỉ huy quân sự các phường Đăk Cấm và Kon Tum tổ chức đào nhiều rãnh thăm dò trong khu vực Nghĩa trang liệt sĩ phường Đăk Cấm, cùng dọc đường Trường Chinh để tìm kiếm hài cốt liệt sĩ.
Bên cạnh đó, lực lượng chức năng đã huy động 2 máy xúc, xe tải 3,5 tấn, 3 máy radar xuyên đất cùng nhiều phương tiện, trang thiết bị kỹ thuật phục vụ công tác tìm kiếm.
Trong sáng 29.6, lực lượng chức năng đã phát hiện và cất bốc 1 hài cốt liệt sĩ trong khuôn viên Nghĩa trang liệt sĩ phường Đăk Cấm và đưa về nhà quản trang để thờ cúng, dâng hương.
"Thời gian tới, chúng tôi sẽ chỉ đạo Đội K53 duy trì lực lượng, phương tiện và thiết bị để rà soát kỹ lưỡng toàn bộ khu vực. Quan điểm của đơn vị là kiên trì tìm kiếm cho đến khi quy tập hết các liệt sĩ, không còn nguồn tin nào mới xin ý kiến tạm dừng", đại tá Mai Kim Bình nhấn mạnh.
Phát biểu tại buổi kiểm tra, thượng tướng Lê Quang Minh đánh giá cao tinh thần trách nhiệm của lực lượng chức năng tỉnh Quảng Ngãi, Quân khu 5, đặc biệt là cán bộ, chiến sĩ Đội K53 đã không quản ngại khó khăn, vất vả để thực hiện nhiệm vụ thiêng liêng, cao cả.
Theo thượng tướng Lê Quang Minh, hưởng ứng "Chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh thực hiện tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ", thời gian qua Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng cùng cán bộ, chiến sĩ toàn quân đã dốc sức thực hiện mệnh lệnh từ trái tim. Đây là nhiệm vụ xuất phát từ tình cảm và đạo lý "uống nước nhớ nguồn" của các thế hệ hôm nay đối với những anh hùng liệt sĩ đã không tiếc máu xương, hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc.
Tại buổi kiểm tra, thượng tướng Lê Quang Minh cùng đoàn công tác đã trực tiếp kiểm tra các rãnh thăm dò trên đường Trường Chinh và trong khuôn viên Nghĩa trang liệt sĩ phường Đăk Cấm.
Thượng tướng Lê Quang Minh yêu cầu lực lượng làm nhiệm vụ tiếp tục rà soát, tìm kiếm một cách khoa học, tỉ mỉ, không bỏ sót bất kỳ dấu vết nào và bảo đảm an toàn cho cán bộ, chiến sĩ trong quá trình tìm kiếm.
Tin Gốc: Thanh Niên
Thời Sự
Dự báo dân số Việt Nam giảm mạnh: Đừng đổ lỗi cho phụ nữ ‘lười sinh con’

Giáo sư - tiến sĩ Nguyễn Thiện Nhân, nguyên Bí thư Thành ủy TP.HCM bác bỏ quan điểm cho rằng phụ nữ TP.HCM nói riêng, phụ nữ Việt Nam nói chung “lười sinh con”. Ông cho rằng đây là cách nhìn lệch bản chất, quy trách nhiệm cho phụ nữ thay vì nhìn thẳng vào những rào cản kinh tế - xã hội đang chi phối quyết định sinh con.
Ông nhận định phụ nữ hôm nay không quay lưng với thiên chức làm mẹ. Họ chỉ đang cân nhắc rất thực tế giữa khát vọng có con với áp lực cơm áo, nhà ở, công việc và chi phí nuôi dạy con: “Họ làm như vậy là đúng quy luật của cuộc sống hiện nay: không nuôi con được tử tế thì đừng sinh con, khác với quan niệm hơn 100 năm trước: trời sinh voi, trời sinh cỏ”.
Ông Nhân nhấn mạnh mức sinh thấp không phải do phụ nữ “lười sinh con”, mà vì nhiều gia đình chưa có đủ điều kiện tối thiểu để sinh và nuôi con tử tế.
Khi người lao động chưa có mức lương đủ sống - tức mức lương thấp nhất cho phép một gia đình có 2 người đi làm có thể nuôi 2 vợ chồng và 2 con đàng hoàng, cho con đi học đến 18 tuổi và học được một nghề - thì việc họ không sinh con hoặc chỉ sinh 1 con là điều dễ hiểu.
Ông phân tích, ở nhiều nước, chỉ khoảng 55 - 65% lao động đạt mức lương bằng hoặc cao hơn lương đủ sống; còn lại 35 - 45% ở dưới ngưỡng này. Với nhóm thu nhập đó, chuyện sinh và nuôi đủ hai con đến 18 tuổi gần như vượt quá khả năng. Khi thu nhập không theo kịp chi phí nhà ở, giáo dục, y tế và sinh hoạt, lựa chọn trì hoãn sinh con hoặc không sinh thêm không phải là sự ích kỷ, mà là một tính toán hợp lý.
Theo ông Nhân, phụ nữ còn bị ràng buộc bởi bất bình đẳng giới: thời gian làm việc kéo dài, gánh nặng việc nhà và chăm con vẫn chủ yếu dồn lên vai phụ nữ. Cùng với đó là nỗi lo việc làm bấp bênh, thu nhập tăng chậm, kết hôn muộn, sinh con muộn và môi trường lao động ở nhiều nơi chưa thật sự thân thiện với phụ nữ sinh con, nuôi con.
Dẫn lại khảo sát tại Nhật Bản, ông Nhân cho biết khi hôn nhân và sinh con đi kèm gánh nặng việc nhà, chăm con, chăm sóc cha mẹ lớn tuổi và nguy cơ ảnh hưởng con đường nghề nghiệp, nhiều phụ nữ sẽ suy giảm động lực kết hôn, sinh con. Bản chất của hiện tượng ấy không phải là “lười sinh con”, mà là phản ứng trước những áp lực xã hội và bất bình đẳng giới tích tụ trong thời gian dài.
Từ những phân tích đó, ông Nhân nhấn mạnh, đừng hỏi vì sao phụ nữ “lười sinh con”, mà phải hỏi vì sao xã hội vẫn chưa tạo đủ điều kiện để họ yên tâm sinh con.
Giáo sư Nguyễn Thiện Nhân nhấn mạnh, nếu không giải được bài toán thu nhập thì rất khó kỳ vọng người dân sinh đủ 2 con, dù có thêm nhiều biện pháp hỗ trợ khác.
Ông phân tích, năm 2023, lương tối thiểu ở TP.HCM khoảng 4,96 triệu đồng/tháng; lương đủ sống khoảng 10 triệu đồng/tháng - tức cao gấp 2,14 lần lương tối thiểu. Khoảng cách này cho thấy mức lương sàn hiện nay về cơ bản chỉ đủ để một người lao động tự nuôi bản thân, không thể nuôi con cái.
Ông nhận định, muốn một gia đình đạt mức sinh thay thế (tức sinh đủ 2 con) thì mỗi người đi làm phải đạt mức lương đủ sống, nghĩa là một cặp vợ chồng cần tổng thu nhập khoảng 20 triệu đồng/tháng mới có cơ sở nuôi 2 con đến tuổi trưởng thành.
Để làm rõ vai trò của tiền lương, giáo sư dẫn số liệu tuyển dụng tại TP.HCM giai đoạn 2021 - 2024. Phần lớn việc làm vẫn tập trung ở nhóm thu nhập thấp, trong khi số vị trí có thu nhập cao chiếm tỷ lệ không nhiều. Từ mặt bằng lương đó, ông ước tính số con bình quân mà lực lượng lao động này có thể sinh và nuôi chỉ khoảng 1,4 - 1,45 con.
Đáng chú ý, mức sinh thực tế của TP.HCM từ 2021 - 2024 cũng chỉ quanh ngưỡng 1,4 con/phụ nữ. Theo ông Nhân, sự trùng khớp này cho thấy rất rõ: khi thu nhập chưa đạt mức lương đủ sống cho một gia đình 4 người, thì mức sinh của địa phương rất khó tăng.
Bên cạnh đó, giáo sư cho biết TP.HCM đang nỗ lực giải quyết tình trạng mức sinh thấp. Theo đó, thành phố đã triển khai chính sách hỗ trợ 5 triệu đồng cho phụ nữ sinh đủ 2 con trước 35 tuổi; đồng thời hỗ trợ 2 triệu đồng cho phụ nữ mang thai và trẻ sơ sinh thuộc hộ nghèo, cận nghèo, đối tượng bảo trợ xã hội, người sống tại xã đảo khi thực hiện tầm soát trước sinh và sơ sinh.
Theo ông, đây là sự khích lệ cần thiết. Tuy vậy, để cải thiện mức sinh một cách bền vững, cần đồng thời tiếp tục hoàn thiện các giải pháp nền tảng, nhất là những vấn đề đang tác động trực tiếp đến quyết định sinh con của người dân.
Từ kinh nghiệm của những nước có mức sinh thấp kéo dài như Nhật Bản, Hàn Quốc, ông chỉ ra nhiều quốc gia đã chi rất lớn để khuyến khích kết hôn, sinh con nhưng mức sinh vẫn tiếp tục giảm. Theo ông, nguyên nhân là người trẻ vẫn phải đối mặt với hàng loạt rào cản: thu nhập không đủ nuôi 2 con, giá nhà quá cao, thiếu trường mầm non công lập, bất bình đẳng giới trong việc nhà và môi trường lao động chưa thân thiện với phụ nữ có con.
Ở chiều ngược lại, tại Indonesia, khi lo ngại mức sinh ở các đô thị lớn như Jakarta đã xuống 1,8 và có nguy cơ giảm sâu thì Indonesia bắt đầu triển khai hàng loạt chính sách thân thiện với gia đình.
Indonesia đã phát triển 3.700 trung tâm gia đình bền vững để tư vấn làm cha mẹ, khuyến khích người cha chia sẻ chăm con và việc nhà, hỗ trợ bữa ăn miễn phí cho trẻ nhỏ và học sinh, đơn giản hóa thủ tục tiếp cận chính sách gia đình… Đồng thời, thúc đẩy chương trình xây 3 triệu căn nhà mỗi năm để giảm áp lực nhà ở cho người trẻ.
Từ những kinh nghiệm đó, giáo sư Nhân cho rằng muốn thay đổi mức sinh một cách bền vững thì không thể chỉ dừng ở hỗ trợ ngắn hạn, mà phải tạo được nền tảng sống đủ vững cho người trẻ: thu nhập đủ sống, nhà ở phù hợp, dịch vụ giữ trẻ, an sinh y tế - xã hội và môi trường làm việc thân thiện với phụ nữ sinh con, nuôi con.

