Giá nông sản duy trì ở mức cao trong năm 2025 đã kéo lợi nhuận nhiều doanh nghiệp nông nghiệp niêm yết đi lên, thậm chí lập kỷ lục. Khi kết quả kinh doanh cải thiện, thu nhập của đội ngũ lãnh đạo cũng tăng theo, nhưng không dừng ở tiền lương ghi nhận trên báo cáo tài chính. Tổng đãi ngộ đang được “mở rộng” qua nhiều lớp như thưởng hiệu quả và cổ phiếu ESOP, khiến khoảng cách giữa thu nhập công bố và thu nhập thực nhận ngày càng rõ.
Báo cáo thường niên vừa công bố mới đây của Tập đoàn Dabaco Việt Nam cho thấy, xu hướng “lợi nhuận đi đến đâu, thu nhập đi theo đến đó”. Năm 2025, doanh nghiệp đạt gần 14.900 tỷ đồng doanh thu và 1.507 tỷ đồng lợi nhuận sau thuế, tăng gần 96% và là mức cao nhất lịch sử. Thu nhập của lãnh đạo theo đó đạt khoảng 20,4 tỷ đồng, tăng gần 30%, tương đương bình quân 1,7 tỷ đồng mỗi tháng. Chủ tịch HĐQT Nguyễn Như So nhận khoảng 3,28 tỷ đồng, còn CEO Nguyễn Khắc Thảo hơn 2 tỷ đồng. Cơ chế đãi ngộ tại đây bám sát hiệu quả kinh doanh, đặc biệt trong bối cảnh ngành chăn nuôi bước vào chu kỳ thuận lợi.
Không chỉ riêng Dabaco, xu hướng này cũng phản ánh bức tranh chung của thị trường lao động cấp cao trong ngành nông nghiệp. Dữ liệu của Navigos Group cho thấy, mặt bằng lương cố định của lãnh đạo ngành nông nghiệp hiện thuộc nhóm cao nhất trên thị trường, với CEO có thể nhận 126-527 triệu đồng mỗi tháng, chưa bao gồm thưởng và phúc lợi. Tuy nhiên, đây mới chỉ là phần “cứng”, trong khi thực tế thu nhập thường được cấu thành từ nhiều tầng, khiến tổng đãi ngộ có thể cao hơn nhiều lần so với con số công bố.
Sự khác biệt bắt đầu lộ rõ khi đặt cạnh Công ty cổ phần Hoàng Anh Gia Lai. Doanh nghiệp này ghi nhận lợi nhuận sau thuế 2.243 tỷ đồng trong năm 2025, tăng gấp đôi và cũng là mức cao nhất từ trước đến nay, tổng thu nhập lãnh đạo nhích nhẹ lên hơn 10,36 tỷ đồng. Nguyên nhân nằm ở cách thiết kế hệ thống đãi ngộ, khi mặt bằng lương của ban điều hành được duy trì ổn định nhiều năm và không biến động mạnh theo từng chu kỳ lợi nhuận, đồng thời cơ cấu nhân sự có thêm thành viên Hội đồng quản trị độc lập.
Cụ thể, Chủ tịch HĐQT Đoàn Nguyên Đức nhận gần 2,49 tỷ đồng, Tổng giám đốc khoảng 1,32 tỷ đồng, còn các thành viên Hội đồng quản trị và ban điều hành dao động quanh 1,3-1,6 tỷ đồng mỗi người mỗi năm. Tuy nhiên, ông Đoàn Nguyên Đức cho biết, con số này chưa phản ánh đầy đủ thu nhập thực tế. Lương chỉ là phần “cứng”, trong khi phần giá trị lớn nằm ở cơ chế ghi nhận dài hạn. Năm trước, khi doanh nghiệp xóa sạch lỗ lũy kế và đạt lợi nhuận cao, công ty đã triển khai chương trình tri ân cho khoảng 480 nhân sự gắn bó trên 10 năm, trong đó gần một nửa nhận cổ phiếu ESOP với tổng giá trị khoảng 800 tỷ đồng. Ngoài ra, Hoàng Anh Gia Lai tặng căn hộ cho 160 cán bộ, nhân viên tiêu biểu. Những căn hộ này trị giá 2-8 tỷ đồng. “Những khoản này có thể vượt xa tiền lương, khiến cấu trúc thu nhập dịch chuyển rõ sang phần thưởng theo hiệu quả”, ông Đức nói.
Cách trả lương theo hiệu suất cũng lan xuống các cấp vận hành. Theo ông Đức, với đội ngũ giám đốc nông trường, thu nhập không chỉ đến từ lương cơ bản mà phụ thuộc lớn vào sản lượng và hiệu quả quản lý. Thực tế đã xuất hiện những giám đốc nông trường chuối có thu nhập hàng tỷ đồng mỗi năm, nhờ cơ chế khoán theo sản phẩm thay vì cào bằng.
Thu nhập Chủ tịch và CEO một số doanh nghiệp nông nghiệp (2025)
Ở nhóm doanh nghiệp quy mô vừa, BAF Việt Nam ghi nhận tổng thu nhập lãnh đạo khoảng 8,2 tỷ đồng trong năm 2025. Chủ tịch HĐQT Trương Sỹ Bá nhận khoảng 324 triệu đồng, trong khi CEO Bùi Hương Giang hơn 1,56 tỷ đồng; các phó tổng giám đốc quanh mức 1,3 tỷ đồng. Tại GC Food, mặt bằng thu nhập cũng tăng so với năm trước, với Chủ tịch HĐQT Nguyễn Văn Thứ khoảng 781 triệu đồng một năm và Tổng giám đốc Bùi Thị Mai Hiền gần 692 triệu đồng.
Trong khi đó, một mô hình hoàn toàn khác xuất hiện tại Intimex Group – doanh nghiệp xuất khẩu gạo và cà phê. Doanh thu năm 2025 của doanh nghiệp vượt 98.500 tỷ đồng, lợi nhuận hơn 340 tỷ đồng, nhưng thù lao Chủ tịch Đỗ Hà Nam chỉ khoảng 10 triệu đồng mỗi tháng. Khoản này mang tính biểu tượng, bởi ông đồng thời điều hành doanh nghiệp và nhận lương ở vị trí Tổng giám đốc. Tuy nhiên, mức lương CEO tại Intimex của ông Đỗ Hà Nam không được doanh nghiệp công bố.
Tại PAN, sự phân hóa cũng rõ rệt khi tổng thù lao Hội đồng quản trị chỉ khoảng 1,38 tỷ đồng, trong khi phần lớn thu nhập tập trung vào ban điều hành, với Tổng giám đốc Nguyễn Thị Trà My nhận hơn 4,6 tỷ đồng. Những khác biệt này cho thấy cùng một ngành nhưng cách phân phối thu nhập có thể rất khác, tùy vào mô hình quản trị và vai trò thực tế của từng vị trí.
Diễn biến này gắn với bức tranh tăng trưởng chung của ngành. Năm 2025, nông nghiệp Việt Nam tăng khoảng 4%, cao nhất trong một thập kỷ, còn kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản vượt 70 tỷ USD. Theo định hướng của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, mục tiêu 5 năm tới là 95-100 tỷ USD, với trọng tâm là chế biến sâu và nông nghiệp công nghệ cao. Khi quy mô và độ phức tạp của ngành tăng lên, yêu cầu đối với đội ngũ quản trị cũng thay đổi theo.
Báo cáo thị trường lao động 2026 của Navigos Group chỉ ra ba lực đẩy chính phía sau mặt bằng thu nhập cao của lãnh đạo ngành này. Quá trình chuyển dịch sang sản xuất quy mô lớn, ứng dụng công nghệ và quản trị chuỗi cung ứng hiện đại đòi hỏi lãnh đạo vừa có chuyên môn nông nghiệp, vừa có năng lực quản trị. Áp lực tiêu chuẩn quốc tế từ các thị trường xuất khẩu lớn khiến vai trò của các vị trí điều hành, tài chính, R&D hay pháp lý trở nên mang tính quyết định. Trong khi đó, nguồn cung nhân sự cấp cao còn hạn chế khiến doanh nghiệp buộc phải trả mức đãi ngộ cao để thu hút và giữ chân người có năng lực.
Trong các cuộc họp công bố kết quả kinh doanh quý I năm nay, lãnh đạo Saudi Aramco và Shell đồng loạt xác nhận thị trường toàn cầu đã mất gần 1 tỷ thùng dầu sau 10 tuần eo biển Hormuz gần như bị phong tỏa.
Morgan Stanley thậm chí cảnh báo thế giới có thể hụt thêm 1 tỷ thùng dầu nữa trong phần còn lại của năm 2026 do các mỏ khai thác, nhà máy lọc dầu và hệ thống vận tải cần nhiều thời gian để phục hồi. Chiến lược gia hàng hóa Martijn Rats gọi đây là “cú sốc nguồn cung lớn nhất lịch sử”, nhận định cũng được người đứng đầu International Energy Agency Fatih Birol đồng tình.
Thế nhưng trái ngược với mức độ nghiêm trọng của cuộc khủng hoảng, giá dầu hiện vẫn chưa vượt xa vùng từng xuất hiện trong giai đoạn 2011-2014, thậm chí còn thấp hơn đỉnh 130 USD/thùng ghi nhận năm 2022. Điều đó đang khiến giới phân tích đặt câu hỏi: Điều gì thực sự đang ghìm giá dầu?
Lực đỡ từ những "vùng đệm" chiến lược
Theo phân tích từ Morgan Stanley và JPMorgan Chase, sự điềm tĩnh của thị trường bắt nguồn từ trạng thái cung cầu trước khi biến cố xảy ra. Đầu năm 2026, thị trường dầu mỏ toàn cầu ghi nhận mức dư thừa khoảng 2 triệu thùng mỗi ngày. Lượng tồn kho trên bờ, ngoài khơi và các kho dự trữ chiến lược đều ở mức cao bất thường, tạo ra một tấm nệm giảm xóc hoàn hảo cho giá dầu.
Yếu tố then chốt thứ hai đến từ động thái điều tiết của các nền kinh tế lớn. Dữ liệu từ Vortexa cho thấy xuất khẩu ròng đường biển từ bảy nhà sản xuất lớn tại Trung Đông đã giảm 12,3 triệu thùng mỗi ngày trong giai đoạn từ đầu tháng 4 đến đầu tháng 5. Để lấp đầy khoảng trống này, các quốc gia ngoài khu vực đã nhanh chóng bơm thêm 5,5 triệu thùng mỗi ngày.
Mỹ trở thành trụ cột chính khi đóng góp tới 3,8 triệu thùng mỗi ngày. Xuất khẩu ròng qua đường biển của nền kinh tế lớn nhất thế giới tăng vọt từ 5,2 triệu thùng lên 8,9 triệu thùng mỗi ngày. Morgan Stanley đánh giá đây là mức tăng khó có thể tưởng tượng nổi, biến Mỹ thành điểm tựa duy nhất giúp bù đắp cú sốc xuất khẩu toàn cầu. Các quốc gia khác như Canada chỉ tăng 400.000 thùng mỗi ngày, trong khi Nga thậm chí giảm 200.000 thùng.
Ở chiều ngược lại, lực cầu toàn cầu cũng sụt giảm mạnh. Nhập khẩu dầu thô đường biển toàn cầu giảm gần 10,9 triệu thùng mỗi ngày trong tháng qua. Đóng vai trò quyết định trong xu hướng này là Trung Quốc khi nước này giảm lượng nhập từ 14 triệu thùng xuống còn 8,5 triệu thùng mỗi ngày.
Các doanh nghiệp thương mại nhà nước Trung Quốc áp dụng chiến thuật linh hoạt khi vẫn nhận phân bổ hợp đồng dài hạn nhưng lập tức bán lại trên thị trường giao ngay. Thay vì tích trữ thêm, Bắc Kinh đang âm thầm xả kho lượng dự trữ khổng lồ ước tính lên tới 1,5 tỷ thùng. Lượng dầu dồi dào này đủ sức giúp họ duy trì hoạt động trong nhiều tháng tới.
Một lý do quan trọng khác giữ giá dầu thô không tăng sốc là sự phân bổ rủi ro trong chuỗi giá trị. Giám đốc chiến lược hàng hóa toàn cầu của JPMorgan, bà Natasha Kaneva, nhận định cú sốc nguồn cung hiện nay chủ yếu phản ánh vào giá các sản phẩm lọc dầu thay vì dầu thô nguyên bản.
Thống kê từ tháng 1 đến tháng 4 cho thấy giá dầu thô tăng khoảng 40%. Trong khi đó, giá xăng dầu thành phẩm tại châu Á vọt lên 60-120%. Việc giá thành phẩm tăng nhanh gấp rưỡi đến ba lần so với dầu thô giúp tín hiệu giá được phân bổ lại, giảm tải áp lực trực tiếp lên thị trường dầu thô.
Bên cạnh đó, thị trường hợp đồng tương lai luôn phản ánh kỳ vọng về tương lai. Giới đầu tư đang đặt cược lớn vào khả năng tuyến vận tải huyết mạch Hormuz sẽ sớm hoạt động trở lại thông qua các nỗ lực đàm phán hòa bình và các chiến dịch hộ tống tàu hàng.
Dù vậy, giới phân tích vẫn cảnh báo về một kịch bản rủi ro khi các vùng đệm cạn kiệt. Nguồn cung bổ sung từ Mỹ hiện nay không đến từ việc tăng sản lượng khai thác nội địa mà chủ yếu rút từ kho dự trữ chiến lược. Dữ liệu từ Cơ quan Thông tin Năng lượng Mỹ cho thấy tồn kho dầu diesel đang ở mức thấp nhất kể từ năm 2005, trong khi tồn kho xăng và dầu thô cũng suy giảm mạnh.
Khả năng duy trì nhịp độ xuất khẩu cao của Mỹ đang chịu áp lực rất lớn. Nếu kho dự trữ của Mỹ và Trung Quốc chạm đáy trước khi eo biển Hormuz mở cửa, dòng chảy thương mại sẽ đảo chiều. Dầu của Mỹ sẽ phải giữ lại phục vụ thị trường nội địa, trong khi châu Á buộc phải quay lại tranh mua trên thị trường giao ngay.
Khi kịch bản này xảy ra, thị trường sẽ phải thiết lập lại trạng thái cân bằng thông qua việc triệt tiêu nhu cầu bằng một mức giá cực cao. Morgan Stanley cảnh báo giá dầu Brent có thể bị đẩy lên vùng 130-150 USD mỗi thùng và duy trì ở mức này trong thời gian dài thay vì nhanh chóng hạ nhiệt như trước đây.
Tính đến chiều 13/5 theo giờ Việt Nam, giá dầu Brent quốc tế vẫn duy trì nhịp dao động quanh ngưỡng 107 USD mỗi thùng. Dầu WTI của Mỹ hiện ở mức hơn 101 USD mỗi thùng.
Dù JPMorgan dự báo giá dầu có thể ổn định quanh mốc 100 USD trong phần còn lại của năm nhờ nhu cầu tiêu thụ suy yếu, thị trường vẫn đang đứng trước một ngã rẽ khó đoán. Nếu các vùng đệm chiến lược cạn kiệt trước khi chuỗi cung ứng phục hồi, bức tranh năng lượng toàn cầu có thể sẽ bước sang một giai đoạn hoàn toàn khác.
Báo cáo kết quả kinh doanh quý 1 của Hòa Phát (mã: HPG) tới cổ đông tại đại hội cổ đông sáng 21-4, Chủ tịch Trần Đình Long đánh giá đây là kết quả tốt với doanh thu 53.300 tỉ đồng, lãi sau thuế hơn 9.085 tỉ đồng. Năm 2026, kế hoạch doanh thu 210.000 tỉ đồng và lợi nhuận sau thuế 22.000 tỉ đồng, lãnh đạo HPG tương đối tự tin đạt và vượt, song vẫn dự phòng kế hoạch rủi ro.
Nhiều cổ đông quan tâm tới dự án thép ray phục vụ cho các dự án đường sắt (như tuyến Hà Nội - Quảng Ninh), ông Long cho rằng dự án này bắt đầu khởi động và Hòa Phát cũng đang bám sát, tích cực chuẩn bị, chào bán sản phẩm và hoàn toàn có khả năng cạnh tranh với hàng nhập khẩu.
“Tôi vừa ở trong nhà máy ray, toàn bộ công nhân đang tập trung cao độ, phấn đấu đúng năm 2027 ra sản phẩm đầu tiên” - ông Long khẳng định.
Trước những ý kiến lo lắng Hòa Phát không bán được sản phẩm ray, ông Long cho hay chính sách Hòa Phát là bán sản phẩm đa dạng. Mặc dù ray là sản phẩm chủ lực, nhưng còn có 500.000 tấn thép hình, thép góc. Vì vậy ông trấn an mọi người yên tâm nếu không bán được thép ray thì sẽ bán thép hình, thép góc.
Trước áp lực thép giá rẻ của Trung Quốc, chủ tịch HPG cho rằng từ nền tảng kết quả kinh doanh tốt 3 tháng, quý 2 và 3 sẽ có kết quả tốt hơn.
Đặc biệt, đây là thời gian thuận lợi cho sản xuất thép nên dù có áp lực, ông khẳng định đang "sống chung" trong môi trường cạnh tranh và "đã mất dây thần kinh sợ từ lâu rồi".
Chủ tịch Hòa Phát cũng nhấn mạnh không có chuyện ông không làm thép. Tuy nhiên nếu con cháu không làm thép, đó sẽ là câu chuyện sau này. Tập đoàn hiện vẫn đang dành nguồn lực cực kỳ lớn vào chiều sâu cho ngành thép, nâng cấp tạo ra sản phẩm chất lượng cao, chi phí tối ưu.
Về một số dự án mà Hòa Phát tham gia, ông Long đặc biệt quan tâm tới dự án trục đại lộ cảnh quan sông Hồng. Theo ông, nếu nhìn vào sông Hàn của Seoul (Hàn Quốc) hay sông Hoàng Phố của Thượng Hải (Trung Quốc) cách đây vài chục năm, cảnh quan của họ cũng hoang sơ và phức tạp như sông Hồng hiện nay.
Do đó việc tham gia dự án mang tầm nhìn 100 năm này không chỉ mang ý nghĩa kinh doanh mà còn là khát vọng đóng góp một phần nhỏ bé để thay đổi hoàn toàn diện mạo thủ đô. "Chúng tôi có ước mơ biến khu vực này thành điểm đến thu hút hàng chục triệu du khách với các công viên chuyên đề và quy hoạch cảnh quan đẳng cấp quốc tế" - ông nói.
Tại dự án này, tập đoàn không làm một mình mà liên doanh cùng một số đối tác. Theo ông, nếu không làm dự án bây giờ thì sẽ rất khó khăn, nhưng đây sẽ là động lực. Do đó, với quan điểm đầu tư bất động sản luôn cực kỳ thận trọng, ông khẳng định chỉ chọn những vị trí đắc địa, có tiềm năng thay đổi cục diện hạ tầng đô thị và mang lại giá trị thực sự bền vững.
Đối với một số ngành khác như việc sản xuất thép đặc thù cho ngành hàng không vũ trụ, ông Long nói tập trung sản xuất nguyên vật liệu (thép chế tạo, thép đặc chủng), chứ không trực tiếp sản xuất các sản phẩm đặc thù như tàu thủy, xe tăng hay tàu vũ trụ.
Hòa Phát cũng không tham gia vào đóng tàu, mà là nhà cung cấp vật liệu cơ bản nên có thể cung cấp thép cuộn cán nóng (HRC), thép tấm đặc chủng (thép tấm cán nóng chuyên dụng). Tập đoàn cũng không tham gia M&A các doanh nghiệp xây dựng do đề cao sự thận trọng.
Đối với việc khai thác mỏ quặng nội địa (như mỏ Thạch Khê, Quý Xa hay các mỏ tại Thanh Hóa), tập đoàn luôn tích cực tìm kiếm cơ hội. Song quản trị rủi ro nhất quán của HPG là đa dạng hóa nguồn cung và “không bao giờ để phụ thuộc hoàn toàn vào một nguồn duy nhất” khi hiện đang nhập khẩu tới 90%.
Bộ Tài chính đang dự thảo Thông tư hướng dẫn thực hiện Chương trình đào tạo, bồi dưỡng 10.000 giám đốc điều hành đến năm 2030 với tổng kinh phí 300 tỷ đồng.
Tổng kinh phí thực hiện toàn chương trình đến năm 2030 ước khoảng 300 tỷ đồng, trong đó 280 tỷ đồng dành cho hỗ trợ đào tạo và 20 tỷ đồng cho các hoạt động quản lý, giám sát, đánh giá, hỗ trợ sau đào tạo, truyền thông, quản lý chương trình.
Đối tượng áp dụng chính sách là học viên đến từ doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân; các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ; UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; UBND xã, phường, đặc khu thuộc tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; mặt trận tổ quốc Việt Nam, các hội, hiệp hội, cơ quan hỗ trợ, bên cung cấp dịch vụ đào tạo.
Theo dự thảo, chương trình có 3 phương thức hỗ trợ gồm phiếu học bổng, tổ chức khóa đào tạo trực tiếp và đào tạo trực tuyến qua các nền tảng số.
Với phương thức phiếu học bổng, dự kiến mức hỗ trợ cho mỗi học viên từ 20-50 triệu đồng/khóa học tùy loại hình đào tạo (bình quân khoảng 28 triệu đồng/học viên/khóa). Đây là phương thức hỗ trợ mới.
Với phương thức đào tạo trực tuyến, cơ quan soạn thảo đề xuất sử dụng hệ thống E-Learning của Bộ Tài chính để học viên tham gia miễn phí và không giới hạn. Ngoài ra, Bộ có thể thuê, mua tài khoản của các nền tảng trực tuyến như Udemy, CLS... để cấp cho học viên. Giảng viên là lãnh đạo doanh nghiệp có thể được hưởng mức thù lao tối đa bằng 200% mức chi thông thường.
Nội dung của chương trình tập trung vào phát triển tư duy chiến lược, kỹ năng ra quyết định, lãnh đạo thay đổi và xây dựng văn hóa doanh nghiệp. Học viên cũng được trang bị kiến thức quản trị doanh nghiệp như tài chính, tiếp thị, vận hành, nhân sự, pháp luật và các kỹ năng lãnh đạo thiết yếu của một CEO.
Để đạt mục tiêu đào tạo 10.000 giám đốc điều hành đến năm 2030 (trung bình mỗi năm đào tạo khoảng 2.000 học viên), dự kiến cần ngân sách Nhà nước hỗ trợ khoảng 56 tỷ đồng/năm, chưa bao gồm kinh phí cho các hoạt động giám sát, đánh giá, truyền thông, quản lý chương trình.